1
2
PHẦN MỞ ĐẦU
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT ở
nước ngoài bằng NSNN; Việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng người tốt
nghiệp về nước trong khuôn khổ các chương trình, đề án gửi người đi học nước ngoài
bằng NSNN do Bộ GD&ĐT quản lý. Điều đó có nghĩa là không đề cập trong nghiên
cứu việc gửi người đi học nước ngoài bằng nguồn vốn ngoài ngân sách, không nghiên
cứu việc gửi người đi học nước ngoài bằng nguồn vốn ngân sách địa phương; Xem
xét các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới thực hiện định hướng đào
tạo và sử dụng cán bộ KHKT đã tốt nghiệp về nước.
a) Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: trên phạm vi cả nước đối với các đề án. Phần đánh
giá thực trạng tập trung váo Đề án 322/356.
- Thời gian nghiên cứu từ năm 2000 (thời điểm bắt đầu triển khai đề án
322/356) đến năm 2014 (năm kết thúc đề án) và định hướng đến năm 2030.
- Nội dung nghiên cứu tập trung vào định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ
KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trong nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn để phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các
vấn đề lý luận liên quan đến nguồn vốn con người, phát triển nguồn vốn con người và
vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
đối với phát triển của một quốc gia, định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT
đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN.
- Phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm khảo sát, điều tra cán bộ KHKT đi
học theo đề án 322/356; các cơ quan, đơn vị cử người đi học và sử dụng họ khi về
tạo ở nước ngoài bằng NSNN đến năm 2030” làm đề tài luận án tiến sỹ khoa học
kinh tế là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, đóng vai trò quan
trọng cho nâng cao hiệu quả và hoàn thành mục tiêu của các chương trình, đề án đào
tạo người Việt Nam ở nước ngoài bằng nguồn vốn NSNN.
2. Mục tiêu nghiên cứu
a) Mục tiêu chung: Nghiên cứu góp phần định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ
KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN đến năm 2030.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Hình thành cơ sở lý luận cho định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào
tạo ở nước ngoài bằng NSNN.
- Nghiên cứu thực tiễn và xu hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT của các
nước trên thế giới.
- Đánh giá việc thực hiện định hướng, thực trạng đào tạo và sử dụng cán bộ
KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên
nhân hạn chế việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở
nước ngoài bằng NSNN.
- Làm rõ các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện định hướng
đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT được đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN.
- Đề xuất quan điểm, xây dựng định hướng cho việc đào tạo và sử dụng cán bộ
KHKT ở nước ngoài bằng NSNN đến năm 2030.
- Đề xuất giải pháp thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT
được đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN trong thời gian tới.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Định hướng gửi người đi đào tạo nước ngoài bằng NSNN bao gồm những nội
dung gì và tiêu chí để đánh giá thực hiện định hướng đấy?
- Đánh giá việc sử dụng cán bộ KHKT đi học nước ngoài về dựa trên những tiêu
chí nào?
- Những nhân tố nào tác động đến việc thực hiện định hướng đào tạo cán bộ
KHKT ở nước ngoài bằng NSNN?
- Những nhân tố nào tác động đến việc sử dụng hiệu quả cán bộ KHKT đào tạo
Chương 4: Định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật gửi đi
học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030.
1.2. Các nghiên cứu về đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài
bằng ngân sách nhà nước
Theo Bennett (1993), các du học sinh ra nước ngoài học tập không chỉ tiếp thu
được những tinh hoa KHKT của các nước tiên tiến, mà còn tiếp thu được sự đa dạng
về văn hóa, phát triển năng lực, cơ hội việc làm và khả năng thích ứng của mỗi cá
nhân trong môi trường hội nhập quốc tế. Jinyoung Kim (1998) cho rằng, đối với các
nước đang phát triển, việc cử người đi đào tạo ở nước ngoài sẽ đóng góp tiếp nhận
kiến thức tiên tiến và do đó giúp tăng trưởng kinh tế.
Jovanovic và Rob (1989), Rustichini và Schmitz (1991) và Tamura (1991) chỉ ra
rằng có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa khoảng trống kiến thức và lợi ích đem lại đối với
người thụ hưởng quá trình đào tạo.Tuy nhiên, đối với một nước đang phát triển mà có
trình độ vốn con người quá thấp thì có thể không hưởng lợi từ việc nhập khẩu kiến
thức thông qua cử người đi đào tạo ở nước ngoài vì việc cử đi đào tạo sẽ rất tốn kém.
Mặt khác, cũng có một số quan điểm cho rằng sinh viên đến từ các nước đang
phát triển được cử đi đào tạo ở nước ngoài chỉ đơn thuần tiếp cận các giá trị và suy
nghĩ của phương Tây, những giá trị này không có liên quan đến thực tế phát triển của
đất nước họ. Việc học tập ở nước ngoài đóng một vai trò không liên quan, hoặc thậm
chí có tác động tiêu cực đến việc tiếp nhận kiến thức tiên tiến để thúc đẩy phát triển
kinh tế ở các nước đang phát triển (Jinyoung Kim, 1998)
1.3. Các nghiên cứu về sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước
ngoài bằng ngân sách nhà nước trở về sau khi tốt nghiệp
Cai (2003) cho biết, mấu chốt để thu hút người học ở nước ngoài trở về nước
làm việc đó là phải xây dựng được môi trường làm việc để những người trở về có thể
phát huy năng lực khả năng của mình.
Kwok và Leland (1982) cũng cho rằng thiếu cơ hội việc làm, cơ hội phát triển
nghề nghiệp, mức lương thấp và tâm lý thích ở nước ngoài là những yếu tố quyết
định việc ở lại của sinh viên tốt nghiệp. Khả năng và mức độ gắn kết hoạt động và
P.A.Samuelson - (nhà kinh tế học người Mỹ) cho rằng, có bốn nhân tố ảnh hưởng tới
tăng trưởng và phát triển kinh tế là: (1) nhân lực, (2) tài nguyên thiên nhiên, (3) cấu
thành tư bản và (4) kỹ thuật - công nghệ.
Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng
trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản : i) áp dụng công
nghệ mới; ii) phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại; và iii) nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực. Trong đó, động lực quan trọng nhất chính là đội ngũ nhân lực được đào tạo,
đặc biệt là nhân lực có trình độ và kỹ năng nghề cao.
5
6
Thứ nhất, thống nhất các khái niệm liên quan đến cán bộ KHKT; vai trò của
cán bộ KHKT và chiến lược đào tạo cán bộ KHKT trong phát triển kinh tế-xã hội đối
với một quốc gia.
Thứ hai, những nội dung kinh tế và xã hội của giáo dục và đào tạo được biểu
hiện thông qua nguồn vốn con người; đầu tư giáo dục đào tạo là đầu tư vào nguồn
vốn con người, là đầu tư cho phát triển và cho tương lai; vai trò của giáo dục và khoa
học trong phát triển quốc gia đối với tất cả các nước, kể cả phát triển và đang phát
triển.
Thứ ba, quốc tế hóa và toàn cầu hóa giáo dục đại học là một xu hướng không
thể đảo ngược trong bối cảnh của toàn cầu hóa kinh tế. Hiện tượng sinh viên ra nước
ngoài học tập thể hiện sự chuyển dịch giáo dục đại học qua biên giới và là một nội
dung của phân công lao động quốc tế đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hậu công
nghiệp, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức.
Thứ tư, xu hướng gửi người đi học nước ngoài là tất yếu và có xu thế gia tăng;
lợi ích quốc gia của việc gửi học sinh, sinh viên ra nước ngoài học tập và nghiên cứu
và lý do ưu tiên NSNN đầu tư đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN.
nguồn nhân lực trình độ, chất lượng cao của hầu hết các nước trên khắp thế giới.
2.1.1.3. Sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học trong nước
Tại các nước đang phát triển, những nhân tố tác động mạnh mẽ nhất đến việc
gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo là hệ thống GDĐH trong nước và nhu cầu
đòi hỏi về đội ngũ cán bộ KHKT để phát triển đất nước. Hệ thống GDĐH của các
nước này đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Thách thức lớn nhất là việc mở
rộng quy mô đào tạo, dẫn đến tình trạng thiếu hụt đội ngũ cán bộ giảng dạy trình độ
cao được đào tạo kỹ lưỡng. Như một kết quả, các cơ sở giáo dục ĐH gặp rất nhiều
khó khăn trong việc thiết kế chương trình và vì vậy, nói chung rất ít thực hiện một
cách nhất quán tiêu chuẩn đào tạo cao.
2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc gửi cán bộ khoa học kỹ thuật ra nước
ngoài đào tạo bằng ngân sách nhà nước
Gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo bằng NSNN không chỉ giải quyết
những vấn đề KH&CN, mà còn tác động to lớn tới toàn bộ đời sống kinh tế- xã hội
của mỗi quốc gia, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH, hình thành nền kinh tế tri thức, góp
phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các nước đang
phát triển.
Gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo bằng NSNN giúp các nước đang phát
triển rút ngắn khoảng cách trình độ phát triển với các nước công nghiệp trên cơ sở
xây dựng hoặc bổ sung năng lực hệ thống giáo dục ĐH mỗi nước thông qua việc
cung cấp cơ hội học hỏi thêm các môn học không có ở trong nước; đồng thời tạo lập
sự kết nối, giao lưu giữa các nền văn hóa, góp phần xây dựng sự hiểu biết và tin cậy
giữa các quốc gia, giúp đẩy nhanh quá trình hội nhập, chuyển giao và tiếp thu
KH&CN, đồng thời quốc tế hóa hoạt động nghiên cứu và GDĐH.
2.1.3. Xu hướng tất yếu của việc gửi người đi học nước ngoài ở các nước
đang phát triển
Gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo đã trở thành một xu thế thế giới không
thể đảo ngược vì những lý do chính sau đây:
Thứ nhất, có tính phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, diễn ra từ nhiều thế kỷ
trước kéo dài đến nay
nghiệp vể nước cùng với cùng các giải pháp, chính sách nhằm sử dụng một cách tốt
nhất các nguồn lực, lợi thế, cơ hội để đạt được mục tiêu đặt ra phù hợp với điều kiện
thực tế của đất nước và đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
trong một khoảng thời gian nhất định nói chung, của mỗi ngành, nghề, lĩnh vực sản
xuất và dịch vụ nói riêng.
Nội dung định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài
bằng NSNN bao gồm:
- Các quan điểm và mục tiêu của định hướng .
- Hệ thống chỉ tiêu gửi cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài (bao gồm: quy mô,
cơ cấu ngành nghề đào tạo, cơ cấu đối tượng đào tạo, cơ cấu trình độ đào tạo, và cơ cấu
nước gửi đi đào tạo) và để sử dụng hiệu quả cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài tốt
nghiệp về nước (bao gồm: tỷ lệ người tốt nghiệp, số lượng người được bổ nhiệm chức
danh, chức vụ, vị trí công tác cao hơn sau tốt nghiệp, số lượng công trình nghiên cứu,
sách tham khảo, bài báo công bố, các đề tài nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tham gia,
giải thưởng nghiên cứu khoa học sau tốt nghiệp về nước, sáng chế, giải pháp hữu ích).
- Hệ thống chính sách, giải pháp để thực hiện định hướng .
2.1.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ
KHKT gửi đi học nước ngoài bằng NSNN
- Các nhân tố ảnh hưởng đến định hướng đào tạo: i) Xu thế phát triển và chính
sách quốc gia; ii) Khả năng ngân sách; iii) Nhu cầu, khả năng của đối tượng đào tạo;
iv) Đặc điểm, chuyên môn ngành nghề đào tạo, và v) Các điều kiện đảm bảo thực hiện
(Kinh phí đào tạo; cơ sở đào tạo; quản lý chương trình, thủ tục giải quyết đi học,..).
- Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng: i) Chính sách sử dụng người học sau tốt
nghiệp; ii) Môi trường, điều kiện làm việc; iii) Lương, thưởng và phúc lợi; iv) Cơ hội
nghề nghiệp, thăng tiến; v) Chính sách quản lý, thu hút sử dụng; vi) Chính sách tạo
động lực phi vật chất; vii) Mức độ thỏa mãn của người lao động.
2.1.5. Đánh giá thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ
thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
2.1.5.1. Đánh giá thực hiện
Nội dung bao gồm quá trình đào tạo, quản lý và sử dụng người học. Nghiên cứu
Crosstable có 2 dấu hiệu định tính A và B với cặp giả thuyết:
H0 : A và B độc lập
H1 : A và B phụ thuộc
Khi n khá lớn, tiêu chuẩn kiểm định cho cặp giả thuyết sẽ là:
h k nij2
W α = χ 2 = n ∑∑
− 1; χ 2 > χ α2 ( h − 1, k − 1)
i =1 j =1 ni .m j
ii)
Xác định các hệ số tương quan
Kiểm định phi tham số trên đây chỉ xác định được giữa 2 dấu hiệu định tính có
quan hệ với nhau hay không. Để đo mức độ liên hệ giữa 2 dấu hiệu đó, tác giả sử
dụng hệ số liên hợp Pearson (P):
P=
χ2
n+ χ2
với 0 ≤ P ≤ 1
Hoặc hệ số Cramer‘s V
1/ 2
ĐH). Tổng số đã gửi là 16.149 người, trong đó gần một nửa (7.246 người) đi theo đường
hiệp định. Số còn lại nhận học bổng NSNN cấp phát trực tiếp (8.903 người).
3.1.2. Tổng quan tình hình sử dụng nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật đào
tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý
Dựa trên phân tích thực trạng và kết quả khảo sát, luận án rút ra được những
nhận xét chính như sau:
Thứ nhất, cán bộ KHKT tốt nghiệp về nước đã bổ sung thêm vào đội ngũ cán
bộ có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu công tác đào tạo, nghiên cứu, quản
lý của các cơ quan và trở thành các cán bộ nòng cốt trong cơ quan.
Thứ hai, sinh viên, cán bộ KHKT đi học theo các Đề án đào tạo ở nước ngoài
bằng NSNN khi trở về có trình độ ngoại ngữ tốt, có nhiều đóng góp trong sự nghiệp
đào tạo, nghiên cứu và quản lý, phát huy được năng lực, kiến thức chuyên môn được
đào tạo, có mối quan hệ chặt chẽ với cơ sở đào tạo đã học tập, số lượng công trình
nghiên cứu hợp tác với nước ngoài, số bài báo khoa học quốc tế tăng lên đáng kể.
Thứ ba, cơ chế ưu đãi để thu hút và sử dụng đối tượng sinh viên đi học nước
ngoài sau tốt nghiệp còn chưa được các cơ quan nhà nước quan tâm, đặc biệt là số
sinh viên đi học trở về nước rất ít được các cơ quan nhà nước tuyển dụng do bị hạn
chế về chỉ tiêu và điều kiện tuyển dụng cán bộ.
Thứ tư, đối tượng người học đã có cơ quan công tác trước khi đi học, việc trở
về nước làm việc chủ yếu người làm việc tại cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, nhiều
trường hợp khi trở về cũng chưa được thu nhận hết. Những người muốn vào làm cơ
quan nhà nước gặp khó khăn về biên chế và chưa có chủ trương khuyến khích các cơ
quan nhà nước tiếp nhận người tốt nghiệp nước ngoài về nước.
Thứ năm, việc điều tra, thu thập ý kiến về tình hình công tác của LHS đã tốt
nghiệp và ý kiến từ các cơ quan có LHS theo chương trình học bổng Việt Nam về
tình hình làm việc của người học tốt nghiệp tại cơ quan và sử dụng cán bộ của cơ
quan còn gặp khó khăn và hạn chế.
3.2. Phân tích thực trạng thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng của Đề
án 322/356
3.2.1. Định hướng đào tạo và sử dụng của đề án, chương trình
Yi = Ln(
pi
) = β1 + β 2 X 2i + ... + β 2 X ki + ui
1 − pi
Trong đó Y là biến phụ thuộc, nhận hai giá trị là 0 và 1. Các biến X lần lượt là
các biến giải thích trong mô hình (chính là các nhân tố được
2.2. Kinh nghiệm quốc tế về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực khoa học
kỹ thuật ở nước ngoài và bài học cho Việt Nam
Từ nghiên cứu thực tiễn của một số quốc gia trên thế giới, luận án rút ra được
một số bài học cụ thể để Việt Nam có thể tham khảo được như sau:
Một là, gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo phải được xem là một xu thế,
định hướng chính; một cấu phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển GDĐT
và KHCN. Cần tăng cường đầu tư kinh phí đào tạo để tăng quy mô, số lượng người
gửi đi đào tạo nước ngoài bằng NSNN.
Hai là, cần có định hướng rõ ràng, cụ thể về cơ cấu đào tạo bao gồm bậc đào
tạo, nước gửi đi đào tạo, ngành nghề đào tạo.
Ba là, chương trình học bổng quốc gia cần thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với
nhiều cơ sở GDĐH trên thế giới, các tổ chức giáo dục quốc tế, các cơ quan quản lý
giáo dục các nước để có thỏa thuận hợp tác cùng cấp học bổng nhằm tăng cơ hội học
tập tại các nước và tiết kiệm kinh phí đào tạo.
Bốn là, việc gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo phải gắn với định hướng
phát triển KT-XH của từng giai đoạn,
Năm là, đẩy mạnh phát triển các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học hiện
hữu ở trong nước; xây dựng một số trường ĐH và các ngành/lĩnh vực đào tạo, nghiên
cứu then chốt đạt trình độ tiên tiến quốc tế.
Sáu là, có nhận thức và quan điểm đúng đắn về sử dụng đội ngũ cán bộ KHKT
được đào tạo ở nước ngoài trở về.
sách, chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, đàm phán quốc tế, phát triển
khoa học-công nghệ, giáo dục, y tế,….. Những cán bộ KHKT này sẽ là nhân tố đóng
vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng của các trường đại học, viện nghiên
cứu đầu ngành, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.
3.2.2. Phân tích thực trạng thực hiện định hướng đào tạo cán bộ khoa học
kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước theo đề án 322/356
3.2.2.1. Phân tích thực trạng thực hiện định hướng đào tạo theo số liệu thứ cấp
(theo báo cáo của Đề án)
a) Quy mô, chỉ tiêu đào tạo
Tính đến tháng 12/2012 tổng số LHS thực tuyển là 6.821 người, so với kế
hoạch đề ra tăng 70,52% (tăng 2.821 người).
b) Đối tượng đào tạo
LHS trúng tuyển để gửi đi đào tạo ở nước ngoài trong khuôn khổ đề án là
người của gần 300 cơ quan, đơn vị; trong đó, hơn 200 là các cơ sở đào tạo và viện
nghiên cứu khoa học. Điểm đáng chú ý là trong tổng số lượng LHS trúng tuyển là cán
bộ, giảng viên các trường ĐH, CĐ và các viện nghiên cứu chiếm xấp xỉ 80% và
chiếm khoảng 90% tổng số người được gửi đi đào tạo trình độ TS.
c) Cơ cấu ngành nghề, trình độ, nước gửi đi đào tạo
- Cơ cấu ngành nghề đào tạo
Giai đoạn từ 2000-2005, cơ cấu ngành nghề gửi đi đào tạo khối các ngành
KHKT và công nghệ chiếm khoảng 70,8% , còn lại, khối các ngành khoa học xã hội,
nhân văn, kinh tế, quản lý, nghệ thuật chiếm 29,2%. Giai đoạn 2006-2012, tỷ lệ LHS
học khối ngành khoa học tự nhiên-KHKT và công nghệ giảm xuống chỉ còn chiếm
62,8%; trong khi khối các ngành khoa học xã hội, nhân văn, kinh tế, quản lý và nghệ
thuật tăng lên chiếm đến 37,2%. Một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như
công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và công nghệ thông tin chiếm một tỷ lệ
đáng kể trong cơ cấu ngành nghề đào tạo.
- Cơ cấu trình độ đào tạo
Trong tổng số LHS thực tuyển, tỷ lệ đào tạo TS chiếm đến 52,63%; tỷ lệ đào
bổng học tập ở nước ngoài bằng NSNN.
iv) Vị trí và tình trạng việc làm: Theo kết quả nghiên cứu, vị trí công tác của
LHS trước khi đi học có mối tương quan với lý do đi học nước ngoài. Cụ thể, đối với
đối tượng LHS là Lãnh đạo, quản lý, lý do đi học chính là để “Nâng cao kiến thức”.
Trong khi đó, đối tượng LHS là chuyên gia/chuyên viên/giảng viên/nghiên cứu viên
13
14
lý do đi học chính là “Nâng cao kiến thức" và “Cần bằng cấp cao hơn” và đối với đối
tượng nhân viên lại là "Nâng cao kiến thức" và "Cơ hội thăng tiến".
v) Ngành nghề, lĩnh vực chuyên môn: Nghiên cứu cho thấy có xu hướng
chuyển dịch ngành học trước khi đi học nước ngoài và ngành học đi học từ ngành Kỹ
thuật, Công nghệ (xu hướng giảm) sang các ngành Khoa học xã hội (xu hướng tăng)
hay Kinh tế và Quản lý (xu hướng tăng).
vi) Khả năng ngoại ngữ và bảng điểm học tập: Phần lớn những người tham gia
khảo sát khẳng định có đủ điều kiện, đáp ứng yêu cầu về ngoại ngữ..
vii) Thời gian xét tuyển, hình thức nộp hồ sơ và hướng dẫn giải đáp thắc mắc:
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có sự tương quan giữa Bậc học đăng ký với mức độ
hài lòng đối với chương trình học bổng (9/14 tiêu chí có tương quan với mức ý nghĩa
10%). Có đến gần 20% đối tượng đăng ký học bậc học Th.S chưa hài lòng với công
tác hướng dẫn và giải đáp thắc mắc của chương trình học bổng. Với bậc học TS, con
số này cũng là trên 15%.
viii) Mức học bổng: Khoảng 28,7% LHS bậc Th.S và 26,03% bậc TS đánh giá
chưa hài lòng với mức học bổng được cấp.
ix) Chọn trường và chọn nước đi học. Khoảng 57% LHS quyết định chọn cơ
sở đào tạo và nước đi học căn cứ vào chuyên môn đã học; 30% chọn trường do quen
biết giáo sư và hơn 24% do bạn bè giới thiệu. Một số khác muốn chọn trường và
tác tiếp nhận LHS về nước chưa kịp thời. Chưa có biện pháp xử lí đủ mạnh và
nghiêm khắc đối với những trường hợp đi đào tạo ở nước ngoài nhưng không về
nước đúng thời hạn quy định.
3.2.3. Phân tích thực trạng sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước
ngoài bằng ngân sách nhà nước theo đề án 322/356
3.2.3.1. Phân tích thực trạng theo số liệu thứ cấp (báo cáo của Đề án)
Theo số liệu của Bộ GD&ĐT, tính đến tháng 4/2014, đề án 322/356 đã có
4.367 LHS tốt nghiệp về nước, bằng 83,38% tổng số đã gửi đi. Trong tổng số 4.367
LHS tốt nghiệp về nước, bao gồm 1.852 TS (42,4%), 1.467 Th.S (33,59%), 268 thực
tập sinh (chiếm 6,13%) và 780 ĐH (17,86%).
Hầu hết các trường ĐH lớn của Việt Nam đã có LHS đi học theo đề án tốt
nghiệp trở về làm việc. Những cán bộ được đào tạo đã góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục ở các trường ĐH, thúc đẩy phát triển KHCN. Đã có cán bộ tốt nghiệp trở về
làm việc và giữ các chức vụ cao.
3.2.3.2. Phân tích thực trạng theo bộ số liệu khảo sát người học và cơ quan sử
dụng người tốt nghiệp
a) Kết quả nghiên cứu số liệu khảo sát người học
Theo kết quả khảo sát, xấp xỉ 80% LHS cho biết về nước đúng hạn. Phần lớn
trong số họ trở về chủ yếu do thực hiện cam kết với chương trình học bổng, hoặc với
cơ quan cử đi học, hay có gia đình, người thân ở trong nước. Lý do chính trở về là để
xây dựng đất nước.
49,4% LHS sau khi trở về có vị trí công việc tốt hơn trước khi đi học, khoảng
2,4% cho biết vị trí công việc hiện tại của họ thấp hơn trước khi đi học. LHS khối
ngành kỹ thuật-công nghệ và kinh tế có tỷ lệ thành công nhiều nhất so với các ngành
học khác (53,7% và 52,0%).
92,3% LHS học xong trở về làm việc ở cơ quan cũ. Lý do trở về là phù hợp
chuyên môn (75,1%); nghề nghiệp được tôn trọng (38,4%); phù hợp môi trường làm
việc (34%) và có các cơ hội học tập và nghiên cứu tiếp cao hơn (30%). Khoảng 4,5%
LHS quay về làm việc cho cơ quan cũ vì chính sách khuyến khích tài năng; 6,2% vì yếu
tố tiền lương và thu nhập; 10,2% do cơ chế quản lý và 17,5% do có cơ hội thăng tiến.
chảy máu chất xám trong đội ngũ cán bộ KHKT nhận học bổng NSNN.
3.2.4. Đánh giá các yếu tố tác động đến định hướng đào tạo và sử dụng cán
bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước bằng mô
hình định lượng
Luận án xây dựng mô hình phân tích định lượng các nhân tố tác động đến sự
hài lòng của LHS với chương trình học bổng, việc quyết định đi học tiếp, lý do quay
trở về công tác,… để nhằm phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng
đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN.
3.2.4.1. Mô hình đánh giá tác động của các nhân tố tới sự hài lòng của lưu học sinh
của quá trình xin học bổng và mức độ thuận lợi trong quá trình học tại cơ sở đào tạo
có ảnh hưởng không tích cực và làm giảm mức độ hài lòng của lưu học sinh.
3.2.4.3. Mô hình đánh giá quyết định có quay lại cơ quan cũ công tác sau quá
trình học tập tại nước ngoài:
Mô hình [1]:
Ln(
pi
) = β 0 + β1 F1i + β 2 F2i + β3 F3i + β 4 F4i + β5 F5i + β6 F6i + β 7 F7i + u1i
1 − pi
Trong đó: Trong đó Y1 là sự hài lòng của cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài
bằng NSNN . Y1 = 1 nếu LHS hài lòng, Y1=0 nếu ngược lại, pi = P(Y1=1)
Kết quả ước lượng cho thấy trong các yếu tố có ảnh hưởng tích cực thực sự
đến mức độ hài lòng của LHS thì mức đóng góp lớn nhất vào việc làm thay đổi quyết
định này lại thuộc về mức thuận lợi trong cuộc sống ở nước ngoài, kế tiếp là các mức
độ thuận lợi khi bắt đầu xin học bổng và quá trình học tập tại nước ngoài. Các nhân
tố rào cản ngôn ngữ, văn hóa và vấn đề tài chính, có ảnh hưởng không tích cực và
Với kết quả phân tích, thì yếu tố mang lại quyết định quay về nước và quay về
cơ quan cũ công tác sau khi đi học đó là công việc phù hợp với chuyên môn và có cơ
hội học tập và nghiên cứu cao hơn.
3.2.5. Đánh giá việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa
học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
3.2.5.1. Ưu điểm
a) Về đào tạo:
Thứ nhất, chương trình đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc đào tạo
nguồn nhân lực KHKT trình độ và chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của công cuộc
CNH-HĐH đất nước.
Thứ hai, phương thức đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN bước
đầu đã không chỉ tạo cơ hội, mà còn động viên, khuyến khích các tổ chức, cá nhân
quan tâm đúng mức đến việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của mỗi người nói
riêng và nguồn nhân lực KHKT của đơn vị nói chung.
Thứ ba, đề án đã gửi cán bộ KHKT đi đào tạo tại nhiều cơ sở đào tạo chất lượng
cao ở các nước tiên tiến phát triển, góp phần mở rộng mối giao lưu, hội nhập giữa các cơ
sở đào tạo, nghiên cứu của Việt Nam với các tổ chức KHCN nước ngoài.
Thứ tư, bằng việc gửi đi đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, các chuyên gia đầu
ngành thuộc các ngành nghề/ lĩnh vực mà trong nước chưa có điều kiện đào tạo hoặc có
đào tạo nhưng chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, đề án góp phần quan trọng trong
việc hỗ trợ các tổ chức, đơn vị đào tạo và nghiên cứu trong nước phát triển.
Thứ năm, cán bộ KHKT được gửi đi học theo các trình độ hầu hết hoàn thành
khóa học và đạt kết quả cao trong học tập và nghiên cứu.
Thứ sáu, tỷ lệ LHS trở lại làm việc tại cơ quan cũ đạt cao (trên 95%).
b) Về sử dụng người học trở về sau tốt nghiệp:
Thứ nhất, hầu hết những người được gửi đi đào tạo sau khi về nước đã được
sử dụng, bố trí vào vị trí công việc đúng chuyên môn và trình độ đào tạo.
Thứ hai, những cán bộ KHKT được đào tạo về nước bước đầu đã phát huy
được hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của đơn vị cử đi học và sử dụng lao động.
c) Nguyên nhân:
iii) Cơ cấu đào tạo các nhóm ngành nghề chưa hợp lý và thiếu định hướng.
iv) Cơ cấu đối tượng đào tạo, trình độ đào tạo có nhiều điểm bất cập, chưa hợp lý.
v) Việc gửi người đi đào tạo theo nước chưa có định hướng.
b) Về sử dụng người học trở về sau tốt nghiệp:
i) Một số cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến việc sử dụng các LHS
sau khi tốt nghiệp trở về làm việc.
ii) Thiếu điều kiện và môi trường làm việc cho phát huy tài năng.
iii) Người học trở về chưa an tâm làm việc.
c) Nguyên nhân
- Về đào tạo:
i) Đề án 322/356 là đề án đầu tiên sử dụng NSNN để gửi người đi học tại nước ngoài.
ii) Công tác định hướng, hỗ trợ người học lựa chọn nước, cơ sở đào tạo, ngành
nghề đào tạo và chương trình đào tạo chưa tốt.
iii) Công tác định hướng đào tạo chưa thực sự căn cứ vào nhu cầu đào tạo thực
tế, định hướng nghiên cứu KHKT ưu tiên, mục tiêu phát triển nhân lực của các ngành
và quốc gia, nhu cầu đào tạo theo ngành nghề mà trong nước hiện đang thiếu hoặc
chưa đào tạo tốt cũng như tính phù hợp với năng khiếu của ứng viên để công tác đào
tạo đạt hiệu quả cao. Sự tham gia của các cơ quan, đơn vị vào định hướng đào tạo còn
rất hạn chế.
iv) Việc xét tuyển chưa có hệ thống các tiêu chí tuyển chọn áp dụng cho từng
đối tượng, từng bậc học và từng lĩnh vực chuyên ngành khác nhau.
v) Công tác dự toán kinh phí và ngân sách phê duyệt hàng năm chưa tương
xứng với số lượng người đang học tập và chuẩn bị đi học trong năm.
vi) Đội ngũ cán bộ quản lý chương trình, đề án còn thiếu và yếu về chuyên
môn, nghiệp vụ.
vii) Trình độ ngoại ngữ của ứng viên còn hạn chế và công tác bồi dưỡng ngoại
ngữ chưa được quan tâm đúng mức.
- Về sử dụng:
i) Chưa có định hướng cụ thể để sử dụng hiệu quả cán bộ KHKT đào tạo ở
4.1.2. Nhu cầu cán bộ khoa học kỹ thuật trình độ cao đáp ứng công nghiệp
hóa và hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong những năm tới
Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, chúng ta không chỉ thiếu đội ngũ
chuyên gia đầu ngành trong những lĩnh vực mũi nhọn như: cơ khí chế tạo, điện tử,
viễn thông và công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu và năng
lượng nguyên tử. Đặc biệt là đội ngũ tổng công trình sư, các chuyên gia đầu ngành
trong các lĩnh vực quản lý và dịch vụ.
Nhu cầu đào tạo nhân lực KH&CN, nhu cầu đào tạo chuyên gia, nhóm nghiên
cứu, đào tạo bậc cao cho lĩnh vực công nghệ ưu tiên, trọng điểm, công nghệ mới trong
những năm tới là rất lớn. Hầu hết các tổ chức đều mong muốn đào tạo ra các chuyên gia,
cán bộ có kinh nghiệm, kiến thức trong các lĩnh vực như CNTT, Công nghệ sinh học,
19
20
môi trường, công nghệ chế tạo máy… Đa phần nhu cầu đào tạo từ 1 – 10 cán bộ trong
vòng 5 năm, bình quân mỗi đơn vị có nhu cầu cử khoảng 33 cán bộ đào tạo chuyên gia.
Phần lớn các đơn vị mong muốn cán bộ được đào tạo tại nước ngoài (khoảng trên 53%).
Kết quả khảo sát cho thấy đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin và
truyền thông là lĩnh vực các tổ chức có nhu cầu cao nhất (khoảng 30,1%). Ngoài lĩnh
vực Công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học và công nghệ môi trường
cũng là những lĩnh vực đề xuất được theo học. Công nghệ vật liệu mới, chế tạo máy, tự
động hóa chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của các đơn vị. Ngoài ra nhu cầu đào tạo
chuyên gia trong các lĩnh vực KH&CN khác như nông nghiệp, y dược, hạt nhân … cũng
là những lĩnh vực mong muốn được đào tạo của nhiều tổ chức.
Dự kiến tốc độ tăng nhu cầu đào tạo năm 2020 và 2030 của của các ngành và
lĩnh vực như sau: Ngành nông, lâm, ngư nghiệp: 80%; Ngành Công nghiệp, xây dựng:
40%; Ngành Dịch vụ: 25%; Ngành Công nghiệp: 44%; Ngành Thương mại: 30%; Giao
trọng dụng và đề bạt nhân tài trong bộ máy quản lý Nhà nước.
4.2.2. Định hướng của luận án về mục tiêu đào tạo và sử dụng cán bộ khoa
học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
a) Mục tiêu chung
Tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực KHKT ở nước ngoài trình độ cao, chất lượng
cao hợp lý về quy mô, cơ cấu trình độ, ngành nghề/lĩnh vực; hình thành đội ngũ nhân
lực KHKT chất lượng cao, đặc biệt các ngành khoa học-công nghệ, kinh tế-kỹ thuật
và dịch vụ mũi nhọn theo chuẩn khu vực và từng bước tiến tới chuẩn quốc tế đáp ứng
yêu cầu CNH-HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời thực hiện các
giải pháp mang tính đột phá để sử dụng hiệu quả đội ngũ nhân lực KHKT sau khi tốt
nghiệp về nước.
b) Mục tiêu cụ thể
- Về đào tạo:
i) Tăng quy mô tuyển sinh LHS gửi đi nước ngoài đào tạo đáp ứng đội ngũ nhân
lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học
và công nghệ trên địa bàn cả nước bình quân từ 13 đến 14%/năm so với giai đoạn
2011-2015.
ii) Khắc phục tình trạng số lượng LHS thực tế gửi đi đào tạo quá thấp so với số
lượng LHS được tuyển.
iii) Khống chế và kiểm soát quy mô đào tạo cho phù hợp với định hướng, các
chỉ tiêu đề ra; bảo đảm sự hợp lý về cơ cấu ngành nghề, trình độ, phương thức và đối
tượng đào tạo; đặc biệt chú trọng đào tạo đối với vùng sâu vùng xa.
iv) Nâng cao năng lực quản lý dự án; xây dựng định hướng lựa chọn các nước
và vùng lãnh thổ gửi đi đào tạo;
- Về sử dụng LHS sau tốt nghiệp:
i) Xây dựng quan niệm đúng đắn trong tư duy cũng như hành động của lãnh đạo và
quản lý các ngành, các cấp, các chủ doanh nghiệp và toàn xã hội về vai trò nền tảng và
động lực của lực lượng cán bộ KHKT trình độ cao, được gửi đi nước ngoài đào tạo.
ii) Xây dựng, quản lý quy hoạch nhân lực KH&CN; ban hành chính sách đào
nước G7, G20, nước Nga và các nước đã phát triển ở lục địa châu Âu, Mỹ, Úc và một
số nước châu Á khác. Dự kiến khoảng 50% lưu học sinh sẽ gửi sang châu Âu, khoảng
15% gửi sang Mỹ và Canada, khoảng 15% gửi sang châu Úc và 20% gửi sang Nhật
Bản và các nước khác còn lại của Châu Á.
4.2.3.2. Thu hút và sử dụng hiệu quả cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước
ngoài tốt nghiệp về nước
i) Xây dựng môi trường khoa học thuận lợi và thân thiện; ii) Trọng dụng người
học sau khi tốt nghiệp trở về nước.iii) Coi trọng đãi ngộ về tinh thần; iv) Đảm bảo sự
đãi ngộ phù hợp và hợp lý về vật chất; v) Có cơ chế bảo vệ nhân tài; vi) Mở rộng giao
lưu, kết nối quốc tế; vii) Tăng cường năng lực của cơ quan lập và thực hiện chính sách.
4.3. Giải pháp thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học
kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
4.3.1. Nhóm giải pháp liên quan đến thực hiện định hướng đào tạo cán bộ
khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
Thứ nhất: Xây dựng mới chiến lược đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật tại
nước ngoài bằng ngân sách nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng
sâu, rộng. Xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phù hợp mục tiêu phát triển
KT-XH của từng giai đoạn; gắn với nhu cầu sử dụng, đảm bảo cân đối giữa các ngành
nghề, vùng, miền. Công tác định hướng nghề nghiệp đi học nước ngoài cần được thực
hiện một cách khoa học và có hệ thống từ bậc phổ thông tới bậc ĐH, đảm bảo cho người
có định hướng đúng đắn về ngành nghề, quốc gia theo đuổi. Xây dựng cơ cấu ngành đào
tạo hợp lý, hiệu quả và tránh việc đầu tư dàn trải; tăng tỷ lệ đào tạo đối với các ngành mà
trong nước chưa đào tạo được hoặc một số lĩnh vực chưa tuyển sinh được trong giai
đoạn trước. Có lộ trình, định hướng và quy định cụ thể các điều kiện về người học sao
cho phù hợp với các ngành nghề khoa học mũi nhọn. Lựa chọn các quốc gia có thế
mạnh của mỗi lĩnh vực, ngành nghề đào tạo để định hướng phân bổ LHS đến học.
Thứ hai: Xây dựng bộ tiêu chí tuyển sinh theo từng ngành, nghề trong
công tác xét tuyển cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước. Cải
tiến quy chế tuyển sinh trên cơ sở xây dựng hệ thống các tiêu chí áp dụng cho từng
đối tượng, từng ngành nghề đào tạo để đảm bảo chất lượng đào tạo. Công tác tuyển
Thứ sáu: Xây dựng mới chức năng, nhiệm vụ của Cục Đào tạo với nước
ngoài theo hướng là đơn vị duy nhất thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý công
tác đào tạo cán bộ học tập ở nước ngoài. Cần xây dựng cơ chế chính sách chung về
đối tượng tuyển sinh, quy mô, cơ cấu ngành nghề đào tạo, chế độ học bổng, cơ chế cử
người đi học, nước cử đi học thống nhất đồng bộ, khả thi, hợp lý và vì lợi ích phát
triển chung của đất nước. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần được giao nhiệm vụ là cơ quan
đầu mối chung thực hiện điều phối hoạt động đào tạo tại nước ngoài bằng NSNN, bao
gồm cả các Đề án do các Bộ, ngành, đơn vị địa phương khác triển khai. chuẩn bị
nguồn tuyển cho việc đi học nước ngoài. Tổ chức các lớp đào tạo tạo nguồn, đặc biệt
là ngoại ngữ để các ứng viên có thể đạt yêu cầu tối thiểu về ngoại ngữ.
Thứ bảy: Đổi mới thủ tục hành chính trong công tác xét tuyển, cử người
học tập ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước hoặc nhận học bổng do nước
ngoài cấp hoặc du học tự túc. Đổi mới công tác quản lý chương trình, dự án đào tạo
cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN. Tăng mức độ hài lòng của người học đối
với chương trình học bổng nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho người dự tuyển
trong quá trình xin học bổng, quá trình học tập bằng việc đơn giản hóa, giảm thủ tục
hành chính. Có các biện pháp để hỗ trợ, cải thiện vấn đề tài chính cho người học
trong quá trình học tập tại nước ngoài. Cần có các giải pháp hỗ trợ các ứng viên ở
23
24
vùng sâu, vùng xa và các vùng còn khó khăn. Tổ chức các lớp đào tạo tạo nguồn, đặc
biệt là ngoại ngữ để các ứng viên có thể đạt yêu cầu tối thiểu về ngoại ngữ. Có giải
pháp hỗ trợ các ứng viên nghiên cứu sinh TS xác định đề tài nghiên cứu.
4.3.2. Nhóm giải pháp liên quan đến sử dụng có hiệu quả cán bộ khoa học
kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
Thứ nhất: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức tham gia
học kỹ thuật; nhất là đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật được đào tạo ở nước
ngoài. Cần có danh mục các vấn đề, chủ đề nghiên cứu ưu tiên, trọng tâm, trọng điểm
phù hợp với việc phát triển nghiên cứu khoa học của các cơ sở giáo dục đại học và
các bộ, ngành. Cần nghiên cứu các hoạt động để tăng thu nhập cho đội ngũ cán bộ
KHKT như triển khai các đề án nghiên cứu khoa học, các đề tài, các hoạt động dịch
vụ công..... Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sử dụng người tốt
nghiệp về nước để tăng thu nhập cho cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài được thu
hút vào làm việc. Có chính sách, đầu mối để tập trung những người nghiên cứu cũng
lĩnh vực trong nước và nước ngoài, trên cơ sở đó hình thành các nhóm, mạng lưới
nghiên cứu, tận dụng được nguồn lực, tránh phân tán, trùng lắp nghiên cứu.
Thứ năm: Xây dựng môi trường làm việc theo hướng hiện đại để phát huy
khả năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật được đào tạo ở nước
ngoài; nhất là các ngành khoa học công nghệ mà ở Việt Nam chưa phát triển.
Tiếp tục cải thiện và xây dựng môi trường làm việc ở trình độ cao và hiện đại. Có cơ
chế đánh giá, công nhận thành tích, hiệu quả công việc thiết thực, tạo điều kiện tốt
nhất cho cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài trở về làm việc được hiệu quả và gắn bó
lâu dài với cơ quan. Có chính sách ưu tiên phát triển nghề nghiệp và cơ hội thăng
tiến, cơ hội bồi dưỡng và phát triển của công việc đó. Yếu tố phát triển nghề nghiệp
và cơ hội thăng tiến là một trong những yếu tố quan trọng quyết định việc cán bộ có
gắn bó lâu dài với cơ quan hay không. Cải cách chế độ tiền lương cho đội ngũ giáo
viên, giảng viên các trường đại học, cán bộ nghiên cứu khoa học của các viện nghiên
cứu. Xem xét thành lập các Khu, viện nghiên cứu đặc biệt thu hút nguồn nhân lực đào
tạo ở nước ngoài trình độ cao về nước làm việc.
Thứ sáu: Đổi mới chế độ đánh giá và đề bạt cán bộ, công chức trong lĩnh
vực khoa học kỹ thuật; trong đó chú trọng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật trẻ.
Cần đổi mới cách thức sử dụng, quản lý và đề bạt cán bộ. Sắp xếp, bố trí nhân sự cho
phù hợp với đặc điểm của cơ quan, đơn vị, trên cơ sở công việc phù hợp với chuyên
môn được đào tạo, nhằm phát huy khả năng của cán bộ. Có chính sách ưu tiên phát
triển nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến, bao gồm: mức độ hấp dẫn và thử thách của
công ty nước ngoài xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận trên cơ sở tận dụng những lợi thế
có được từ công ty mẹ để sẵn sàng cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước. Vì vậy,
hoạt động của các doanh nghiệp FDI sẽ khuyến khích nhưng cũng gây áp lực về đổi
mới công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước.
Về phía các doanh nghiệp trong nước, một mặt do năng lực yếu kém về đổi mới
công nghệ, mặt khác công nghệ tiên tiến đều do các công ty có qui mô lớn trên thế giới
nắm giữ, để vượt qua yếu điểm này họ có xu hướng muốn được áp dụng ngay công nghệ
tiên tiến hoặc trực tiếp thông qua thành lập các liên doanh với đối tác nước ngoài hoặc
gián tiếp thông qua phổ biến và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI. Các
doanh nghiệp FDI mặc dù không muốn tiết lộ bí quyết công nghệ cho đối thủ trong nước
nhưng cũng sẵn sàng bắt tay với đối tác trong nước để thành lập liên doanh, qua đó diễn
ra quá trình rò rỉ công nghệ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với các nước nghèo nói chung
và Việt Nam nói riêng là liệu các điều kiện trong nước, khả năng hấp thụ của doanh
nghiệp có đủ để đón nhận phổ biến và thực hiện việc đổi mới công nghệ thành công hay
không. Với các lý do đó, NCS lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tác động của
FDI tới đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam”.
2. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước và trong nước
2.1. Nghiên cứu ngoài nước
Về tác động vĩ mô đối với nền kinh tế thế giới và các nước tham gia đầu tư
được phân tích ở các mức độ khác nhau giữa các lý thuyết. Có các nghiên cứu của:
MacDougall –Kemp (1960) trong bài viết: The benefits and cost of private
investment abroad: a theoretical approach, Economic Reports of American Economic
Association. K.Kojima (1978) trong bài viết: The theories of the foreign investment:
an overview, in Foreign Direct Investment: a Japanese Model of Multinational
Business Operations, Croom Heml London Press, p 51-118. Các tác giả Hymer
(1976) trong nghiên cứu: The international operations of national firms: a study of
direct investment, Kindleberger (1969) trong bài viết: American business abroad và
Hirschman (1997) trong nghiên cứu: A general linkage approach to development with
special reference to staples.
Về nghiên cứu các tác động của FDI ở Việt Nam, đã có khá nhiều nghiên cứu
về FDI nói chung nhưng còn rất ít các nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa FDI tới
phổ biển, chuyển giao công nghệ nói chung và tác động tới đổi mới công nghệ của
doanh nghiệp nói riêng: Nghiên cứu của Freeman (2000) nghiên cứu tổng quát về
FDI ở Việt Nam cho đến năm 2000; Nghiên cứu của Nguyễn Mại (2003) xem xét tác
3
4
động của FDI đến tăng trưởng kinh tế cả về chiều rộng và chiều sau; Nghiên cứu của
Nguyễn Thị Phương Hoa (2004) khảo sát tác động của FDI đến tăng trưởng về năng
suất của cả nền kinh tế, trong khuôn khổ của phân tích về quan hệ giữa FDI và đói
nghèo; Một số nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Liên Hoa (2002) phân tích và xác
định lộ trình thu hút FDI tại Việt Nam trong thời kỳ 1996-2001. Nguyễn Thị Hường
và Bùi Huy Nhượng (2003) phân tích so sánh tình hình thu hút FDI của Trung Quốc
và Việt Nam trong thời kỳ 1979-2002 làm cơ sở rút ra bài học cho Việt Nam. Đoàn
Ngọc Phúc (2003) phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra và triển vọng của FDI
vào Việt Nam trong thời kỳ 1998-2003.
Các nghiên cứu tiêu biểu về tác động tràn của FDI như: Chuc D. Nguyen, Gary
Simpson (2008); Sajid Anwar và Lan Phi Nguyen (2010) về khả năng hấp thụ, tác
động tràn của đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam. Lê Quốc Hội (2011) về hiệu
ứng tràn công nghệ từ đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam...
quan đến đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.
- Pham vi không gian: Luận án nghiên cứu tác động của FDI tới đổi mới công
nghệ của các doanh nghiệp sản xuất trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại
Việt Nam bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong
nước của Việt Nam.
Phương pháp tham khảo: Tham vấn ý kiến của các chuyên giá, nhà quản lý
trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và quản lý công nghệ thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Khoa học và Công nghệ.
Phương pháp thống kê: Luận án sử dụng để thu thập dữ liệu thứ cấp, từ các
nguồn như niêm giám thống kê, sách, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, các báo cáo
của các doanh nghiệp, các số liệu trên trang web của các Bộ, ban ngành, các cơ quan
báo chí trong và ngoài nước. Các dữ liệu này sau khi thu thập đều được sắp xếp, phân
loại và điều chỉnh một các hợp lý.
Phương pháp thu thập số liệu: Các số liệu thứ cấp về doanh nghiệp FDI và
doanh nghiệp trong nước được thu thập dựa trên dữ liệu điều tra doanh nghiệp của
Tổng cục Thống kê từ năm 2004 – 2013.
6. Những điểm mới của Luận án
6.1 Về mặt lý luận
Luận án nghiên cứu lý thuyết thương mại và kinh doanh quốc tế, lý thuyết về
đầu tư quốc tế, thông qua đó chỉ rõ mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với
hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp của nước nhận đầu tư. Luận án
nghiên cứu trong trường hợp của Việt Nam, các lý thuyết được đặt trong bối cảnh
phát triển của Việt Nam, điều này sẽ gợi lên những điểm khác biệt trong vận hành
chính sách kinh tế dựa trên các lý thuyết kinh tế tạo cơ sở cho các nhà hoạch định
chính sách điều chỉnh chính sách đầu tư nhằm hướng vào các tác động tích cực của
FDI tại Việt Nam và có lựa chọn khi chấp nhận các dự án FDI nhằm hạn chế được
những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế nói chung và với hoạt động đổi mới công
nghệ tại doanh nghiệp nói riêng.
Luận án chứng minh FDI tác động tới đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
Việt Nam ở các khía cạnh tích cực và tiêu cực. Các kênh tác động của FDI tới đổi
5
6
nghệ cũ, lạc hậu cũng được chuyển giao qua FDI vào Việt Nam; (iii) FDI chưa thực
sự tạo ra động lực mạnh để thay đổi công nghệ cho doanh nghiệp trong nước; (iii)
liên kết và hợp tác hình thành quan hệ về công nghệ giữa FDI và doanh nghiệp trong
nước còn yếu; (v) FDI với hình thành đội ngũ chuyên gia và công nhân trình độ cao
chưa được như kỳ vọng; (vi) FDI chưa đóng góp nhiều vào phát triển thị trường khoa
học và công nghệ ở Việt Nam.
Luận án đã chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế trên là: Thứ nhất, chính sách
hạn chế chuyển giao công nghệ nguồn của một số quốc gia và doanh nghiệp FDI;
Thứ hai, Việt Nam chủ yếu vẫn là sản xuất gia công; Thứ ba, doanh nghiệp vừa và
nhỏ là chủ yếu do vậy không đủ năng lực thay đổi công nghệ; Thứ tư, năng lực hấp
thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu; Thứ năm, thiếu chính sách đồng
bộ của nhà nước khuyến khích đổi mới và áp dụng công nghệ.
Trên cơ sở đó Luận án đề xuất các giải pháp tập trung vào hai nhóm giải pháp:
Nhóm giải pháp phát huy các tác động tích cực của FDI tới đổi mới công nghệ
của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong đó các giải pháp mang tính đột phá là: (1)
Khuyến khích đầu tư công nghệ nguồn, công nghệ hiện đại của nước ngoài vào Việt
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận
án gồm 3 Chương:
Chương 1: Lý luận về tác động của FDI tới đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng tác động của FDI tới đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát huy tác động của FDI nhằm đổi
mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam
7
Theo các nghiên cứu của Michael P.Todaro (1977) và Edward K.Chen (1996),
công nghệ là yếu tố quyết định tăng trưởng và sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt
đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định rõ. Đầu tư trực
tiếp nước ngoài được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của
nước tiếp nhận. Thông qua FDI, các nhà đầu tư chuyển giao công nghệ có sẵn từ bên
ngoài vào từ đó phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà. Đây là mục tiêu
quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Có ba hình thức chuyển giao công nghệ thông qua FDI phổ biến đó là: chuyển
giao công nghệ giữa công ty mẹ và công ty con ở nước ngoài; chuyển giao công nghệ
giữa công ty con của các công ty đa quốc gia với các doanh nghiệp nước sở tại trong
cùng một ngành; chuyển giao giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp địa
phương là những nhà cung cấp hoặc người mua sản phẩm trung gian của các doanh
nghiệp FDI này.
1.1.3. Ảnh hưởng của FDI đến phát triển công nghệ của nước tiếp nhận
FDI có ảnh hưởng cả hai mặt tích cực và tiêu cực đến phát triển công nghệ của
nước tiếp nhận. Sử dụng có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào chính sách của
mỗi quốc gia. Không ai có thể phủ nhận hoàn toàn tác động tích cực của FDI nhưng
vấn đề đặt ra đối với các nước đang phát triển- những nước đang cần nhiều nguồn
vốn để phát triển kinh tế là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để hỗ trợ cho việc phát
hiện gian lận trốn thuế của các công ty FDI hay kiểm soát dòng vốn FDI vào quốc gia
được sử dụng hiệu quả hơn, từ đó thúc đẩy kinh tế tăng trưởng theo hướng tích cực
hơn.
1.2. Lý thuyết tác động tràn của FDI đến đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
1.2.1. Tác động tràn của FDI đến trình độ lao động
Bên cạnh việc tạo thêm việc làm, FDI còn là một tác nhân truyền bá kiến thức
quản lý và kỹ năng tay nghề cho lao động của nước nhận FDI. Tác động tràn này xuất
hiện khi các doanh nghiệp FDI tuyển dụng lao động nước sở tại đảm nhận các vị trí
quản lý, các công việc chuyên môn hoặc tham gia nghiên cứu và triển khai. Việc
truyền bá kiến thức cũng diễn ra thông qua kênh đào tạo công nhân kỹ thuật ở trong
đầu tư.
1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến tác động tràn của FDI đối với đổi mới công nghệ
của doanh nghiệp
1.3.1. Nhân tố thuộc các quốc gia có vốn FDI
Trình độ công nghệ của các quốc gia có vốn FDI
Các nước phát triển như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản với tiềm lực kinh tế mạnh, có
khả năng đầu tư lớn vào các hoạt động R&D nên được coi là nguồn công nghệ chủ
yếu trên thế giới. Ngược lại, các nước đang phát triển với trình độ khoa học và công
nghệ còn hạn chế, chính phủ và doanh nghiệp nước này thường không có khả năng
bỏ tiền ra mua công nghệ từ các nước phát triển. Chính vì thế, họ chỉ có thể tiếp cận
với công nghệ mới để tiến hành đổi mới công nghệ bằng cách thu hút FDI từ các
nước phát triển.
Chính sách chuyển giao công nghệ của các quốc gia có vốn FDI
Các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có vốn FDI thường có chính sách chuyển
giao công nghệ của riêng mình, một mặt khuyến khích nghiên cứu và phát triển công
nghệ trong nước để khai thác lợi thế cạnh tranh về công nghệ khi tiến hành đầu tư ra
nước ngoài, mặt khác để hạn chế, chuyển giao có điều kiện thậm chí cấm chuyển giao
các công nghệ nguồn, bí quyết về công nghệ ra nước ngoài do vậy ảnh hưởng đến đổi
mới công nghệ các doanh nghiệp của nước tiếp nhận FDI.
Mức độ quan hệ của nước có vốn FDI và nước tiếp nhận
Mức độ quan hệ giữa các quốc gia hiện nay được chia thành các cấp độ khác
nhau như: quan hệ đặc biệt, Đối tác chiến lược, Đối tác toàn diện … cũng ảnh hưởng
trực tiếp đến mức độ đầu tư lẫn nhau và đi cùng với đó là dòng công nghệ của nước
10
có vốn FDI sang nước tiếp nhận.
1.3.2. Nhân tố thuộc về các nước tiếp nhận đầu tư
Môi trường thể chế cho thu hút FDI và đổi mới công nghệ
Môi trường thể chế hay mức độ đầy đủ và hợp lý của các chính sách này có
Đối với các nhà đầu tư có năng lực công nghệ ở mức độ trung bình hoặc thấp
11
12
thì khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài chủ yếu các nhà đầu tư này thường khai thác
lợi thế của nước chủ nhà về giá nhân công rẻ, trình độ nhân lực không cao, lợi thế hạ
tầng và tài nguyên thiên nhiên…
Hình thức và qui mô đầu tư
Hình thức và qui mô đầu tư đầu tư cũng là một nhân tố quan trọng thuộc về
nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài. Với hình thức đầu tư theo chiều ngang (HI), đi kèm
với FDI sẽ là những công nghệ tiên tiến và hiện đại. Ngược lại, với hình thức đầu tư
theo chiều dọc (VI). Khi đầu tư ra nước ngoài, các nhà đầu tư thường chỉ chú ý đến
khai thác các lợi thế cạnh tranh của các yếu tố đầu vào giữa các khâu sản xuất ra một
loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế như nguồn nguyên liệu tự nhiên, các
yếu tố sản xuất đầu vào (lao động, đất đai giá rẻ…)
Quan hệ giữa công ty tại nước tiếp nhận và công ty mẹ
Trong mối quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con tại nước tiếp nhận, công
nghệ thường được chuyển giao dưới các hình thức: chuyển giao trong nội bộ giữa các
chi nhánh của một công ty mẹ; và chuyển giao giữa các chi nhánh của các công ty
xuyên quốc gia. Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhành của các
công ty xuyên quốc gia sang nước chủ nhà dưới hình thức 100% vốn nước ngoài và
công ty liên doanh có phần vốn nước ngoài chiếm đa số.
Mục tiêu của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài
Lý thuyết và thực tiễn cho thấy mục tiêu của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà
đầu tư FDI bao giờ cũng là lợi nhuận nên sẽ có nhiều khác biệt với các mục tiêu của
nước chủ nhà. Các nhà đầu tư nước ngoài chỉ đầu tư vào những dự án sử dụng được lợi
thế của họ và khai thác những hấp dẫn của nước chủ nhà để thu lợi nhuận cao, trong khi
Đổi mới công nghệ bao gồm đổi mới sản phẩm; đổi mới qui trình sản xuất
hoặc có những cải tiến về chất lượng sản phẩm hoặc cải tiến qui trình sản xuất. Đổi
mới công nghệ diễn ra khi đưa ra thị trường sản phẩm mới (ví dụ: mở rộng nhiều
loại sản phẩm) hoặc công nghệ mới được sử dụng trong quá trình sản xuất (đổi mới
hoặc cải tiến quá trình sản xuất; hoặc những thay đổi có tính đột phá hơn như: Mở
rộng hoạt động của doanh nghiệp vào một lĩnh vực sản xuất – kinh doanh mới hoặc
Thay đổi hoạt động của doanh nghiệp sang một lĩnh vực sản xuất – kinh doanh khác).
1.4.1 Mô hình đổi mới công nghệ trên thế giới
Mô hình tuyến tính
Mô hình tuyến tính đơn giản nhất có tên sức đẩy của khoa học công nghệ
(Science and Technology Push). Mô hình này dựa trên lôgic khoa học là cơ sở, tri
thức, tiền đề tạo ra công nghệ.
Mô hình tương tác kết hợp
Trong mô hình tương tác kết hợp cho thấy kết quả của việc phối hợp đồng thời
kiến thức của các bộ phận chức năng sẽ thúc đẩy đổi mới, nó gắn các mô hình tuyến
tính với nhau và nhấn mạnh đổi mới công nghệ là kết quả của sự tương tác giữa thị
trường, khoa học và năng lực của tổ chức.
1.4.2 Mô hình ước lượng tác động tràn của FDI
Đánh giá tác động tràn của FDI có thể được thực hiện bằng cả hai phương pháp
định tính và định lượng hoặc kết hợp cả hai. Tuy nhiên, kết quả của đánh giá định
13
14
tính chủ yếu mang tính mô tả, xác định khả năng có hay không có các biểu hiện có
thể tạo ra tác động tràn, nhưng không đánh giá được tác động tràn có thực sự xuất
hiện hay không và mức độ của các tác động đó. Đánh giá bằng phương pháp định
lượng khắc phục điểm yếu này trên cơ sở áp dụng các mô hình kinh tế lượng được sử
Giả thuyết 1: Giả thuyết cần kiểm định qua mô hình ở trên là thay đổi về mức
độ tham gia của phía nước ngoài FDI ảnh hưởng thế nào tới đổi mới công nghệ của
doanh nghiệp Việt Nam.
Giả thuyết 2: Giả thuyết cần kiểm định qua mô hình ở trên là năng lực R&D
của doanh nghiệp Việt Nam có tạo điều kiện tích cực đến tác động tràn về công nghệ
từ khu vực FDI.
Giả thuyết 3: Quy mô, loại hình của doanh nghiệp Việt Nam có tạo điều kiện
tích cực khác nhau cho tác động tràn về công nghệ từ khu vực FDI.
1.4.5. Nguồn số liệu sử dụng trong mô hình
Nguồn số liệu sử dụng trong mô hình là mẫu điều tra doanh được lấy từ số liệu
điều tra thu thập thông tin của Tổng cục Thống kê về sử dụng công nghệ trong sản
xuất của doanh nghiệp. Luận án đã sử dụng số liệu của các doanh nghiệp trong ngành
chế biến chế tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2004 - 2013.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA FDI TỚI ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1. Thực trạng FDI vào Việt Nam theo khía cạnh công nghệ
2.1.1. Thực trạng FDI theo nguồn công nghệ quốc gia
Trong nhóm 20 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư FDI ra nước ngoài nhiều
nhất có cả đại diện các quốc gia có nền kinh tế phát triển cũng như Mỹ, Nhật Bản,
Thụy sĩ, Đức, Canada… Bên cạnh đó cũng có cả vùng lãnh thổ và các quốc gia đang
phát triển hoặc có nền kinh tế đang chuyển đổi như Trung Quốc, Nga… Chính vì vậy,
đi cùng với dòng FDI từ các quốc gia, vùng lãnh thổ này ra nước ngoài thì nguồn
công nghệ từ các quốc gia này cũng đi theo. Đối với các quốc gia có nền kinh tế phát
triển, với tiềm lực kinh tế và tài chính mạnh, các quốc gia này sẽ đầu tư cho hoạt
động R&D rất lớn để nâng cao khả năng cạnh tranh trên bình diện quốc gia, do vậy
nguồn công nghệ từ các quốc gia này thường là các công nghệ có trình độ cao và
công nghệ hiện đại. Ngược lại, các quốc gia đang phát triển, với tiềm lực kinh tế còn
hạn chế, đầu tư cho hoạt động R&D còn khiêm tốn, nên nguồn công nghệ từ các quốc
phá nhằm nâng cao năng lực công nghệ nội sinh của quốc gia, giúp Việt Nam nhanh
chóng rút ngắn khoảng cách về khoa học và công nghệ với các nước trong khu vực và
trên thế giới đồng thời làm đòn bẩy góp phần phát triển kinh tế của Việt Nam và hội
nhập hiệu quả vào nền kinh tế thế giới. Trong đó, FDI cũng được coi là nguồn quan
trọng được khuyến khích thu hút vào các khu công nghệ cao.
2.2. Phân tích thực trạng môi trường đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp
Việt Nam
2.2.1. Thực trạng thị trường công nghệ trong nước cho doanh nghiệp
Thị trường công nghệ cũng chứa đựng các thành tố cơ bản như các loại thị
trường khác, bao gồm: sản phẩm và dịch vụ KH&CN; Chủ thể tham gia thị trường
như người cung (người bán), người cầu (người mua) sản phẩm và dịch vụ KH&CN.
Trong luận án, tác giả phân tích thực trạng thị trường công nghệ trong nước cho các
doanh nghiệp Việt Nam tập trung trên các khía cạnh: Tiềm lực nguồn cung công nghệ
của các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước; Thực trạng nguồn cung công
nghệ từ các chương trình, đề án quốc gia về khoa học và công nghệ; Thực trạng số
lượng sáng chế đăng ký bảo hộ của Việt Nam và Thực trạng cầu công nghệ của các
doanh nghiệp Việt Nam.
2.2.2. Thực trạng chính sách nhà nước khuyến khích đổi mới công nghệ
Nhìn chung, các chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ đều tập trung vào
các khía cạnh như: (1) Đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; (2) Hỗ
trợ áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất;
(3) Hỗ trợ chuyển giao công nghệ; (4) Hỗ trợ xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn
chất lượng; (5) Hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm của doanh nghiệp; (6)
Hỗ trợ xây dựng hệ thống thông tin và cung cấp thông tin; (7) Hỗ trợ đào tạo nhân
lực khoa học công nghệ; (8) Dành ưu tiên cho doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động
2.2.3. Thực trạng năng lực công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng liên kết sản xuất trên cơ sở công nghệ
Sự liên kết sản xuất lỏng lẻo giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp
trong nước trong cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào và điều này cũng sẽ hạn chế
18
R&D it là hoạt động nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp i, ngành j năm t
Luận án sử dụng dạng log (odd) của mô hình logistics trong đó p là xác suất để
doanh nghiệp sử dụng 1 trong 5 hình thức đổi mới công nghệ (cải tiến, đổi mới qui
trình hay sản phẩm) nêu trên. (1-p) là xác suất doanh nghiệp không sử dụng 1 trong 5
hình thức này. Như vậy, mô hình này cho biết tỷ lệ giữa khả năng sử dụng và không
sử dụng hình thức thứ I phụ thuộc và các yếu tố như thế nào.
– đầu ra của doanh nghiệp trên cơ sở đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, đặc biệt
đối với doanh nghiệp lựa chọn hình mở rộng nhiều loại sản phẩm.
Tác động của FDI đến cạnh tranh của doanh nghiệp để đổi mới công nghệ
Do áp lực cạnh tranh của FDI đến các doanh nghiệp trong nước, buộc các
doanh nghiệp trong nước phải lựa chọn đổi mới công nghệ theo các hướng mang tính
đột phá như: mở rộng nhiều loại sản phẩm; mở rộng hoạt động của doanh nghiệp vào
một lĩnh vực sản xuất – kinh doanh mới; hay thay đổi hoạt động của doanh nghiệp
sang một lĩnh vực sản xuất – kinh doanh khác. Qua mô hình phân tích cho thấy, giá
trị p – value của biến NG2 tại Mô hình 4 là 0.0040 và tại Mô hình 5 là 0.0000. Với p
– value < 0.05 có ý nghĩa thống kê, nghĩa là do áp lực cạnh tranh từ phía FDI, doanh
nghiệp lựa chọn các hình thức đổi mới công nghệ có tính đột phá.
2.4. Đánh giá thực trạng tác động của FDI đến đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp Việt Nam
2.4.1. Đánh giá tác động tích cực của FDI đến đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp Việt Nam
Một là, Một số doanh nghiệp FDI đầu tư với quy mô lớn đã kèm theo công
nghệ hiện đại và tạo cơ chế liên kết công nghệ với nhiều doanh nghiệp Việt Nam.
Hai là, Chất lượng công nghệ theo dòng FDI vào Việt Nam đã được nâng cao
và bước đầu tạo sức ép đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam.
Ba là, Thông qua đầu tư FDI vào các khu công nghệ cao đã hình thành các
trung tâm công nghệ có tác động lan tỏa đến đổi mới công nghệ của các doanh
hình 3 giá trị p – value của TD2 = 0.0015. Mô hình 4 giá trị p –value của TD2 =
0.0012 và Mô hình 5 giá trị p- value của TD2 = 0.0168. Với p – value < 0.05 hệ số có
ý nghĩa thống kê.
Tác động của FDI đến phổ biến và chuyển giao công nghệ
Trong 5 mô hình trên, việc kiểm tra ý nghĩa biến R&D cho phép kiểm định giả
thuyết: năng lực R&D của doanh nghiệp Việt Nam có ảnh hưởng tích cực đến tác
động tràn của FDI thông qua phổ biến và chuyển giao công nghệ. Kết quả kiểm định
5 mô hình chỉ duy nhất Mô hình 4 với giá trị p – value của biến R&D = 0.1449. Với p
– value > 0.05 biến R&D tại Mô hình 4 không có ý nghĩa thống kê. Tại Mô hình 1 giá
trị p – value của biến R&D = 0.0000. Mô hình 2 giá trị p – value của biến R&D =
0.0029. Mô hình 3 giá trị p – value của biến R&D = 0.0000. Mô hình 5 (Phụ lục 6),
giá trị p – value của biến R&D = 0.0446. Tại các mô hình này, với giá trị p – value
Trong bối cảnh thế giới và khu vực, đứng trước xu thế hội nhập và toàn cầu
hóa kinh tế diễn ra nhanh chóng, Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế trong
các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, AFTA, APEC,
WTO, Việt Nam – Nhật Bản, Việt Nam – Hàn Quốc, Việt Nam – EU và một loạt các
FTA mà Việt Nam mới ký và tham gia trong năm 2015. Điều này cũng sẽ có những
tác động rất to lớn với Việt Nam trong việc thu hút FDI và công nghệ cả trong ngắn
hạn và dài hạn. Để thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam đã từng bước
21
22
mở rộng cửa thu hút đầu tư và công nghệ từ nước ngoài, từng bước xóa bỏ phân biệt
đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, do có những đặc thù
riêng giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, vì vậy để tạo một sân chơi bình
đẳng sẽ rất khó khăn và không tránh khỏi những mâu thuẫn và phức tạp khi thực
hiện.
xen này, trong nhiều trường hợp khó có thể nhận dạng về nội dung quản lý nhà nước
về thị trường khoa học và công nghệ, đặc biệt đối với các cán bộ quản lý công nghệ ở
địa phương. Vì vậy trong thời gian tới, cần hoàn thiện chức năng, nhiệm quản lý nhà
nước về thị trường khoa học và công nghệ của các bộ, ngành và địa phương. Trong
đó, nội dung quản lý nhà nước về thị trường khoa học và công nghệ cần được điều
chỉnh và bổ sung trong Luật Khoa học và công nghệ, cụ thể hoá trách nhiệm của các
bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong
quản lý nhà nước về phát triển thị trường khoa học và công nghệ.
3.1.3. Phương hướng thu hút FDI nhằm đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp
Việt Nam
doanh nghiệp Việt Nam
3.3.1. Giải pháp hạn chế chuyển giao, mua bán công nghệ lạc hậu từ nước ngoài
Về phía nhà nước, cần kiên quyết từ chối những nhà đầu tư sử dụng những
công nghệ cũ,lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng và gây ô nhiễm môi trường... Việt
Nam cần thu hút và sử dụng, lựa chọn FDI, FDI sẽ có hiệu quả cao hơn, đạt được sự
bền vững tốt hơn đối với nền kinh tế Việt Nam khi các dự án FDI tạo được nhiều kiên
kết với các ngành sản xuất nội địa, nâng cao phần giá trị gia tăng và đẩy mạnh tác
động lan tỏa tới các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, cần có chính sách để phát
triển các doanh nghiệp trong nước nâng cao được năng lực hấp thụ và năng lực đổi
mới công nghệ của mình thông qua các quỹ đầu tư cho nghiên cứu phát triển công
nghệ, chính sách miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp tích cực đầu tư cho hoạt động
nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ
3.3.2. Giải pháp phát triển các liên kết trên cơ sở công nghệ giữa doanh nghiệp
FDI và doanh nghiệp trong nước
Lý thuyết và thực tiễn cho thấy, quá trình chuyển giao công nghệ được thực
hiện qua ba giai đoạn: tiếp nhận, ứng dụng và phổ biến. Thông qua FDI, hai giai đoạn
đầu của quá trình này người bản địa có thể thực hiện được, chỉ có giai đoạn cuối cùng
là khó khăn hơn, chứng tỏ các công ty xuyên quốc gia không chuyển giao kỹ năng
R&D cho người bản địa. Chính vì vậy, để tiếp nhận và đổi mới công nghệ thành
công, các doanh nghiệp trong nước trước mắt cần có sự liên kết chặt chẽ với các Viện
nghiên cứu và Trường đại học để thúc đẩy hoạt động R&D nhằm đổi mới công nghệ
cho doanh nghiệp của mình.
3.3.3. Nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam
Thứ nhất, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Thứ hai, Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật
Thứ ba, Tăng cường hoạt động R&D của doanh nghiệp
23
Luận án cũng đã chỉ ra và phân tích, đánh giá tác động tích cực, tiêu cực của
FDI đến đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam và nguyên nhân của
những tác động tiêu cực này.
Luận án đã phân tích bối cảnh tác động của FDI tới đổi mới công nghệ của các
doanh nghiệp Việt Nam dựa trên phân tích, đánh giá bối cảnh quốc tế và trong nước.
Từ đó, luận án chỉ ra phương hướng thu hút FDI nhằm đổi mới công nghệ của các
doanh nghiệp Việt Nam.
Luận án đưa ra các giải pháp phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động
tiêu cực của FDI tới đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời,
Luận án cũng chỉ ra các điều kiện từ phía Nhà nước và doanh nghiệp nhằm thu hút
FDI để đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam.
3.4. Kiến nghị điều kiện nhằm phát huy tác động của FDI đến đổi mới công nghệ
của doanh nghiệp Việt Nam
3.4.1. Đổi mới mô hình tăng trưởng
Trong khuôn khổ của luận án, tác giả chỉ tập trung kiến nghị các điều kiện
trong đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm phát huy tác động của FDI đến đổi mới
công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ nhất, Điều kiện về môi trường thể chế cho thu hút FDI và đổi mới công
nghệ
Thứ hai, Điều kiện về nguồn nhân lực cho khoa học công nghệ
Thứ ba, Điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng cho đổi mới công nghệ của doanh
nghiệp
Thứ tư, Điều kiện về thể chế cho hoạt động R&D
3.4.2. Tận dụng cơ hội từ các FTA
Để tận dụng tốt các cơ hội từ các FTA, trong khuôn khổ của luận án, tác giả đề
xuất một số điều kiện nhằm phát huy tác động của FDI tới đổi mới công nghệ của các
doanh nghiệp Việt Nam:
Thứ nhất, Điều kiện về năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp
Thứ hai, Điều kiện về nguồn lực tài chính của doanh nghiệp