S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỮU VÂN “ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SINH TRƢỞNG VÀ
HIỆU QUẢ CỦA RỪNG TRỒNG SẢN XUẤT TẠI
HUYỆN HOÀNH BỒ - TỈNH QUẢNG NINH”
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN THÁI
THÁI NGUYÊN - 2013 S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Lâm học
tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự đồng ý của trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng quản lý đào tạo sau đại học, tôi
nhận thực hiện đề tài:
“Đánh giá tình hình sinh trưởng và hiệu quả của rừng trồng sản
xuất tại huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh”
Sau thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp khẩn trương, nghiêm túc. Với
sự cố gắng lỗ lực của bản thân cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo
TS. Nguyễn Văn Thái, các thầy cô giáo trong trường, các đồng nghiệp, đến
nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt cảm ơn thầy giáo TS. Nguyễn Văn Thái đã
giành nhiều thời gian quý báu giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn khoa học trong quá
trình thực hiện và hoàn thiện luận văn.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ Hạt kiểm lâm, Phòng
Tài nguyên môi trường, Phòng Nông nghiệp, UBND huyện Hoành Bồ,
UBND các xã và một số hộ gia đình tham gia trồng rừng sản xuất trên địa bàn
huyện Hoành Bồ, Cty TNHH 1 TV Lâm nghiệp Hoành Bồ, Công ty TNHH 1
TV Innovgreen Quảng Ninh đã giúp tác giả thu thập số liệu cho luận văn này.
Mặc dù đã cố gắng song do thời gian cũng như khả năng tiếp cận thông
tin ít nhiều còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiết sót nhất
1.2.4. Nghiên cứu về các biện pháp KTLS tác động 16
1.2.5. Nghiên cứu về chính sách và thị trường 20
1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương 22
1.3.1. Điều kiện tự nhiên 22
1.3.2. Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội 27
1.3.3. Đánh giá chung 29
Chƣơng 2. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1. Mục tiêu, ý nghĩa nghiên cứu 32
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
2.1.1. Mục tiêu 32
2.1.2. Ý nghĩa 32
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu: Rừng trồng sản xuất 32
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu 32
2.3. Nội dung nghiên cứu 32
2.4. Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1. Phương pháp tiếp cận của đề tài 33
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu 33
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
3.1. Thực trạng trồng rừng sản xuất tại huyện Hoành Bồ 41
3.1.1. Diện tích trồng rừng 41
3.1.2. Về cơ cấu loài cây trồng rừng sản xuất 44
3.1.3. Các biện pháp kỹ thuật gây trồng đã áp dụng 46
3.1.4. Nguồn vốn đầu tư cho rừng trồng sản xuất 49
3.1.5. Cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện 51
3.2. Đánh giá chất lượng sinh trưởng rừng trồng trong mô hình điển hình 58
PHỤ LỤC S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
BCR
Tỷ suất thu nhập & chi phí
BPKTLS
Biện pháp kỹ thuật lâm sinh
Cty TNHH 1TV
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
D
1.3
Đường kính trung bình tại vị trí 1,3m
∆D
1.3
Tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính tại ví
trí 1,3m
D
t
Trồng rừng sản xuất
TB
Trung bình
UBND
Ủy ban nhân dân S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thang điểm độ tàn che và độ che phủ của rừng trồng 38
Bảng 2.2: Thang điểm độ dốc và thành phần cơ giới 39
Bảng 2.3: Tổng hợp điểm cấp phòng hộ của rừng trồng 39
Bảng 3.1: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp huyện phân theo chức năng 41
Bảng 3.2: Rừng và đất lâm nghiệp phân chia theo địa giới xã 43
Bảng 3.3: Danh mục các loài cây được đưa vào trồng rừng sản xuất của huyện
Hoành Bồ từ trước đến nay 44
Bảng 3.4: Các biện pháp KTLS được áp dụng trong các mô hình 47
Bảng 3.5: Nguồn vốn đầu tư cho rừng trồng sản xuất ở huyện Hoành Bồ 50
Bảng 3.6: Kết quả GĐGR ở tỉnh Quảng Ninh và huyện Hoành Bồ 52
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của GĐGR tới phát triền RTSX ở Hoành Bồ 53
Bảng 3.8: Tỷ lệ sống và chất lượng sinh trưởng trong mô hình điểm 59
Bảng 3.9. Sinh trưởng của cây trồng trong mô hình điển hình 60
Bảng 3.10: Năng suất của các mô hình trồng rừng ở tuổi 7 62
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
Trong những năm trước
. Nhằm đẩy nhanh tốc độ phục hồi rừng, Chính phủ Việt Nam
đã ban hành nhiều chính sách, áp dụng nhiều giải pháp, đầu tư nhiều chương
trình, dự án trồng rừng. Kết quả diện tích rừng ở nước ta tăng
38,7% - Bộ NN & PTNT,
2009) đáp ứng nhu cầu về lâm sản, môi trường sinh thái và cảnh quan du lịch.
Tuy nhiên, sự quan tâm của chúng ta trong thời gian qua tập trung nhiều vào
hai đối tượng là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rừng trồng sản xuất chưa
được quan tâm chú ý nhiều và thực tiễn sản xuất hiện nay đang đặt ra rất
nhiều vấn đề cần phải có lời giải đáp, cả về kỹ thuật, kinh tế, chính sách và thị
trường,… ảnh hưởng trực tiếp tới người trồng rừng. Dự án trồng mớ
-
. Chính vì
vậy, Chính phủ đã chỉ đạo trong thời gian tới cần tập trung đẩy mạnh phát
triển trồng rừng sản xuất.
Để bảo đảm cuộc sống, nâng cao thu nhập của người dân không chỉ
đơn thuần là ban hành chính sách hỗ trợ mà cần khuyến kích họ có sự đổi
mới về phương thức thâm canh, sử dụng giống có năng suất, chất lượng cao
đồng thời gắn với đầu tư công nghiệp chế biến. Đẩy mạnh giao khoán rừng
tự nhiên cho cộng đồng bảo vệ và kinh doanh sản phẩm dưới tán rừng để
nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, chấm dứt tập quán phá rừng làm
nương rẫy, góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống. Đồng thời áp
dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, lựa chọn loài cây nguyên liệu sinh
trưởng nhanh, rút ngắn chu kỳ sản xuất. Tuy nhiên, trong thời gian qua
công tác chọn tạo giống, công tác khuyến lâm vẫn còn nhiều khiếm khuyết,
1.1.1. Nghiên cứu về lập địa và chọn loài cây trồng
Kết quả nghiên cứu của Pandey.D (1983)[43] về loài Bạch đàn
Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã
cho thấy nếu trồng ở rừng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm
thì năng suất chỉ đạt từ 5-10 m
3
/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì
năng suất có thể đạt tới 30m
3
/ha/năm.
Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở
Swziland, Julian Evans (1992)[38] đã chứng minh tương quan giữa sinh
trưởng về chiều cao của loài Thông này có quan hệ khá chặt (r=0,81) với các
yếu tố địa hình và đất, thông qua phương trình sau:
Y = -18,75 + 0,0544x
3
– 0,000022x
3
2
+ 0,0185x
4
+ 0,0449x
5
+ 0,5346x
11
Trong đó: Y: Chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m)
x
3
: Độ cao so với mắt nước biển (m)
x
nghiệm xuất xứ, chọn giống, lai giống, xây dựng vườn giống bằng cây ghép
cho các loài Thông, Dương, Sồi Dẻ.
Hiện tại có nhiều giống cây rừng có năng suất cao đã được nghiên cứu
và đưa vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cũng như rút ngắn chu kỳ kinh
doanh phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người
trồng rừng như: Keo, Thông, Mỡ, Bạch đàn,… Ở Công Gô, bằng phương
pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai Eucalypyus hybrids có năng
suất đạt tới 35m
3
/ha/năm sau 7 năm trồng. Tại Brazin, bằng con đường chọn
lọc nhân tạo đã chọn được giống Bạch đàn Eucalypyus grandis có năng suất
đạt tới 55m
3
/ha/năm sau 7 năm trồng (Welker, 1986)[48]. Ở Zimbabwe cũng
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
đã chọn được giống Bạch đàn Eucalypyus grandis đạt từ 35-40m
3
/ha/năm,
giống Bạch đàn Eucalypyus urophylla đạt trung bình tới 55m
3
/ha/năm có nơi
lên đến 70m
3
/ha/năm (Campinhons và Ikemori, 1988)[37]. Tại công ty
Aracrug ở Brazil đã sử dụng giống Bạch đàn lai giữa E. grandis với E.
urophylla, trồng rừng bằng hom và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh
6
1952. Mỹ bắt đầu với loài E.robusta vào năm 1966. Từ năm 1970 - 1973
Úc đã chọn được 160 cây trội cho loài E. regnans và 170 cây trội có thân
hình thẳng đẹp và tỉa cành tự nhiên tốt ở loài E. grandis. Tương tự như vậy,
150 cây trội đã được chọn ở rừng tự nhiên cho loài E. diversicolor ở Úc và
loài E. deglupta ở Papua New Guin.
Nhờ những công trình nghiên cứu chọn lọc và tạo giống mới tới nay ở
nhiều nước đã có những giống cây trồng năng suất rất cao, gấp 2-3 lần trước
đây như ở Brazil đã tạo được những khu rừng có năng suất 70-80 m
3
/ha/năm,
tại Công Gô năng suất rừng cũng đạt 40 - 50 m
3
40 -
50 m
3
/ha/năm, kết quả là hàng ngàn ha đất nông nghiệp được chuyển đổi
thành đất lâm nghiệp để trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy đạt hiệu quả
kinh tế cao.
Ngoài Bạch đàn, trong những năm qua các công trình nghiên cứu về
giống cũng đã tập trung vào các loài câ
, các giống Lõi thọ địa
phương từ các nơi khác nhau ở Mindanao. Trên cơ sở kết quả lựa chọn các
xuất xứ tốt nhất và những cây trội đã xây dựng vùng sản xuất giống và dán
nhãn các cây trội lựa chọn.
Chọn giống kháng bệnh và lai giống cũng là những hướng nghiên cứu
được nhiều tác giả quan tâm. Tại Braxin, Ken Old, Alffenas và các cộng sự từ
năm 2000-2003 đã thực hiện một chương trình chọn giống kháng bệnh cho
các loài Bạch đàn chống bệnh gỉ sắt Puccinia. Các công trình nghiên cứu về
lai giống cũng đã mang lại nhiều kết quả tốt phục vụ trồng RSX (Assis,
luận nâng cao chiều cao trung bình của rừng trồng lên 2 lần sau năm thứ nhất.
Bón phân phosphate cho Thông caribe ở Cu Ba, Herrero và cộng sự (1988)[39]
đã nâng cao sản lượng rừng sau 13 năm trồng từ 56m
3
/ha lên 69m
3
/ha,…
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy biện pháp bón phân, thời gian bón
phân, loại phân bón có ảnh hưởng khá rõ rệt đến năng suất rừng trồng.
1.1.3.3. Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của rừng trồng
Mật độ trồng rừng ban đầu là một trong những biện pháp KTLS quan
trọng có ảnh hưởng khá rõ đến năng suất rừng trồng. Vấn đề này đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập
địa khác nhau điển hình như: Công trình nghiên cứu của Evans, J. (1992)[38],
tác giả đã bố trí 4 công thức mật độ trồng khác nhau (2985, 1680, 1075, 750
cây/ha) cho Bạch đàn E. deglupta ở Papua New Guinea, số liệu thu được sau
5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm
tăng theo chiều giảm của mật độ, có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy
tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng
vẫn còn nhỏ hơn những công thức trồng ở mật độ cao.
Như vậy, mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến năng suất, chất lượng sản
phẩm và chu kỳ kinh doanh. Vì thế cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh
cụ thể để xác định mật độ trồng cho phù hợp.
1.1.4. Nghiên cứu về chính sách và thị trường
Theo nghiên cứu của Thomas Enters và Patrick B. Durst (2004)[47], để
nâng cao chất lượng và hiệu quả trồng rừng ở nước ta trong thời gian qua. Có
thể tóm tắt kết quả một số công trình như sau:
1.2.1. Nghiên cứu về chọn loài cây trồng
Chọn loài cây trồng là một vấn đề hết sức quan trọng trong công tác
trồng rừng, nó có tính quyết định đến năng suất, chất lượng và sự thành bại
của rừng trồng trong tương lai. Do vậy, trong nhiều thập kỷ qua việc nghiên
cứu lựa chọn tập đoàn cây trồng phù hợp cho các vùng kinh tế lâm nghiệp
trong cả nước và trên từng lập địa cụ thể đã được ngành lâm nghiệp và các
nhà khoa học quan tâm giải quyết.
Từ năm 1978, để kịp thời phục vụ cho nhiệm vụ trồng rừng và phát
triển lâm nghiệp của cả nước sau khi miền nam hoàn toàn giải phóng, Bộ Lâm
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
nghiệp (nay là Bộ NN & PTNT) đã có văn bản quy định về các loài cây dùng
để trồng rừng cho các tỉnh. Tuy nhiên, do hoàn cảnh đất nước mới thống nhất,
quy định về cây trồng rừng chủ yếu mới chỉ dựa vào kết quả đạt được từ kinh
nghiệm sản xuất lâm nghiệp của các tỉnh phía Bắc là chính do đó cơ sở khoa
học và căn cứ thực địa còn nhiều hạn chế.
Đến năm 1985, trong công trình nghiên cứu: “Bước đầu xác định cây
trồng rừng cho các vùng KTLN” của G.S Nguyễn Xuân Quát – Viện Lâm
nghiệp Việt Nam [20]. Nhóm tác giả đã đề xuất 92 loài cây trồng rừng trên 9
vùng với 5 tiêu chí lựa chọn:
Đáp ứng được mục tiêu kinh doanh lâm nghiệp của vùng, địa phương
Phù hợp với hoàn cảnh sinh thái, điều kiện lập địa nơi trồng, nơi
phát triển.
Đã có quy trình hay hướng dẫn kỹ thuật hoặc tối thiểu cũng phải có
kinh nghiệm và đã được phát triển trong sản xuất có kết quả cũng như đã
[28]. Kết quả đã đề xuất được danh mục loài cây trồng rừng sản xuất có hiệu
quả cho các vùng KTLN gồm 37 loài, phân theo 4 nhóm:
Nhóm 1 là nhóm các loài mọc nhanh cho năng suất cao, đây là
nhóm chủ lực cho trồng rừng, gồm 12 loài
Nhóm 2 là nhóm các loài cây bản địa lá rộng tạo thế bền vừng cho
môi trường rừng, gồm 15 loài
Nhóm 3 là nhóm các loài cây cho LSNG gồm 7 loài
Nhóm 4 là nhóm các loài cây dự kiến cho tương lai, gồm 3 loài
Với những thành quả nghiên cứu đạt được, Bộ NN & PTNT đã có
quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/3/2005 về quy định danh mục
các loài cây cho trồng rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp trên
toàn quốc.
1.2.2. Nghiên cứu về lập địa
Lập địa được hiểu là những điều kiện ở nơi sinh trưởng hay nơi sinh
sống của thực vật. Các yếu tố lập địa quyết định tạo nên thực trạng rừng khác
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
nhau và ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng rừng. Bởi vậy trong nhiều năm
qua để phục vụ công tác trồng rừng nhiều công trình nghiên cứu về lập địa đã
được thực hiện trên phạm vi cả nước. Có thể điểm qua một số công trình
nghiên cứu chủ yếu như sau:
Hoàng Xuân Tý (1980) [32], đã thực hiện đề tài “Đánh giá tiềm năng
và hướng dẫn sử dụng đất vùng Trung tâm trong kinh doanh rừng nguyên liệu
giấy”. Kết quả cho thấy có 5 nhân tố thổ nhưỡng ảnh hưởng rõ rệt nhất đối
với năng suất rừng trồng là: hàm lượng mùn, hàm lượng đạm, độ xốp, chế độ
nước và độ dày tầng đất. Tác giả cũng cảnh báo rằng cả 5 nhân tố này đều dễ
dàng thay đổi, rất dễ suy thoái do mất rừng và sử dụng đất không hợp lý.
dạng lập địa tại các vùng nghiên cứu; xây dựng quy trình điều tra xây dựng
bản đồ dạng lập địa cho rừng trồng công nghiệp thuộc 3 vùng sinh thái khác
nhau ở Việt Nam.
Đỗ Đình Sâm, Phạm Ngọc Mậu, Ngô Đình Quế và cộng sự (2005) [25]
đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của một số rừng trồng
cây nhập nội chủ yếu đến môi trường đát ở Việt Nam” kết quả cho thấy ảnh
hưởng của rừng trồng Bạch đàn, Keo lá tràm, Keo tai tượng tới môi trường
đất phụ thuộc vào điều kiện đất đai, khí hậu nơi trồng, các yếu tố dễ biến động
như dung trọng, độ xốp, hàm lượng mùn, vi sinh vật, chế độ ẩm trong đất,…
Nhìn chung đất dưới rừng Bạch đàn có tính chất lý học (dung trọng, độ
xốp,…), hoạt động vi sinh vật kém hơn so với rừng Keo; sự tích lũy mùn
trong đất dưới rừng Bạch đàn ở những nơi đất ít thoái hóa có xu hướng cao
hơn dưới rừng trồng Keo và chưa có cơ sở kết luận trồng rừng Bạch đàn sẽ
làm thoái hóa mạnh môi trường đất.
Theo kết quả nghiên cứu của Triệu Văn Hùng, Dương Tiến Đức (2006)
[11] với việc lựa chọn các giống TBKT trên dạng lập địa là đất xám mùn trên
núi (Xh), có thể sử dụng các dòng Keo lai BV10, BV16, BV32; đất nâu vàng
trên đá mẹ Bazan nên dùng các dòng TB15, TB11,…
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
1.2.3. Nghiên cứu về giống cây rừng
Nghiên cứu về giống cây rừng ở nước ta được bắt đầu từ năm 1930 khi
các nhà lâm nghiệp người Pháp xây dựng một số điểm khảo nghiệm cho một
số loài cây trồng rừng ở nước ta. Trong các năm 1950 - 1960 các khảo nghiệm
cho bộ giống 18 loài bạch đàn, 15 loài thông và một số loài keo đã được tiến
hành tại vùng núi Đà Lạt mà đến nay đã thành một số loài có giá trị như
Eucalyptus microcorys và E. grandis cao 60m với đường kính 55 - 60 cm. Do
vọng nhất để xây dựng vườn giống và rừng giống phục vụ các chương
trình trồng rừng trong cả nước.
Điển hình về lĩnh vực này là công trình nghiên cứu của Nguyễn Hoàng
Nghĩa (2000) [17], tác giả đã chọn giống Bạch đàn cho trồng rừng sản xuất tại
Việt Nam như các loại Bạch đàn trắng (E. camaldulensis) với các xuất xứ:
Kennedy River, Morehead River, Katherine,… Lê Đình Khả và cộng sự
(2003)[14] sau khi nghiên cứu tạo giống và nhân giống cho một số loài cây
trồng rừng chủ yếu ở Việt Nam đã xác định được các xuất xứ thuộc các loài
keo vùng thấp như Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lá tràm (A.
auriculiformis), Keo lá liềm (A. crassicarpa), Keo chịu hạn cho vùng cát khô
hạn Ninh Thuận, Bình Thuận (như A. difficilis, A. tumida, A. torulosa), các
xuất xứ có triển vọng được chọn trong nhóm thông là các loài Thông caribê
(như Pinus caribaea var. hondurensis), Thông ba lá (P. kesiya), Thông nhựa
(P. merkusii). Thành tựu nổi bật là một số xuất xứ được chọn của một số loài
tràm có sinh trưởng nhanh gấp 2 lần loài tràm của ta (như loài Melaleuca
leucadendra) hoặc có nhiều tinh dầu (như M. internifolia) cho vùng ngập
phèn ở đồng bắng Cửu Long.
Sử dụng giống mới và kỹ thuật nhân giống tiên tiến phối hợp với các
biện pháp thâm canh thích hợp trong những năm qua đã đẩy mạnh công tác
cải thiện giống cây rừng, góp phần tích cực vào việc tăng năng suất rừng
trồng trong phạm vi cả nước.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
16
1.2.4. Nghiên cứu về các biện pháp KTLS tác động
Các biện pháp KTLS tác động nhằm nâng cao năng suất cây trồng
trong những năm gần đây rất được chú ý. Tùy theo đặc điểm loài, điều kiện
lập địa, cường độ kinh doanh mà có những kết quả nghiên cứu khác nhau.