Thực trạng áp dụng các nguyên tắc thiết lập hệ thống thu ngân sách Nhà nước Việt Nam - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử,
nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực
phân phối sản phẩm xã hội và được sử dụng như một công cụ thực hiện các
chức năng của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò Ngân sách
nhà nước được thay đổi và trở lên hết sức quan trọng. Dó đó, việc nghiên
cứu về ngân sách Nhà nước và các biện pháp để tránh thất thu ngân sách
Nhà nước luôn là một đề tài được nhiều người quan tâm.
Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng quyền lực
của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ
ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước. Xây dựng
trên cơ sở đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và chứa đựng các
mục tiêu kinh tế xã hội, hệ thống thu ngân sách nhà nước được thiết lập, và
dựa trên những nguyên tắc định hướng nhất định. Tùy theo những điều kiện
kinh tế- xã hội, trong những giai đoạn lịch sử nhất định có những nguyên tắc
thiết lập hệ thống phù hợp.
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình cải cách và hoàn thiện hệ
thống thu ngân sách nhà nước, đặc biệt là hệ thống thuế. Bài thảo luận sau
đây sẽ bàn về thực trạng áp dụng các nguyên tắc thiết lập hệ thống thu ngân
sách Nhà nước Việt nam trong giai đoạn hiện nay và các giai pháp để tránh
thất thu ngân sách.
- 1 -
I. Ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước
1. Khái niệm ngân sách Nhà nước
Ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước
với các chủ thể trong xã hội dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình
nhà nước tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của
nhà nước nhằm đảm bảo cho việc thực hiện của nhà nước về mọi mặt.
2. Những vấn đề chung về thu ngân sách Nhà nước
2.1 Khái niệm
Thu ngân sách Nhà nước bao gồm các quan hệ kinh tế dưới hình

- Trong nền kinh tế thị trường, thuế được coi là công cụ quan trọng để điều
tiết vĩ mô nền kinh tế.
- Không những là nguồn thu quan trọng và chủ yếu của NSNN mà còn có
ảnh hưởng to lớn đến công cuộc phát triển kinh tế.
- Thuế góp phần điều chỉnh nền kinh tế, kích thích tích lũy tư bản, định
hướng sản xuất và tiêu dùng.
- Thông qua thuế, Nhà nước có thể chủ động nền kinh tế, căn cứ vào những
tình huống cụ thể để thuc đẩy hoặc hạn chế tích lũy, đầu tư, tiêu dùng…
- Các điều khoản quy định trong các sắc thuế là một sự cưỡng chế nhưng
cũng nhằm điều chỉnh những mối quan hệ kinh tế- xã hội nhất định
d, Cấu thành.
- Tên gọi
- Đối tượng nộp thuế
- Đối tượng tính thuế
- Thuế suất
- 3 -
- Đơn vị tính thuế
- Giá tính thuế
- Ưu đãi miễn giảm thuế
- Thủ tục thu nộp thuế
e, Phân loại thuế
- Căn cứ vào tính chất điều tiết của thuế: 2 loại
+ Thuế trực thu
+ Thuế gián thu
- Căn cứ vào đối tượng đánh thuế:
+ Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Thuế đánh vào sản phẩm hàng hóa
+ Thuế đánh vào thu nhập
+ Thuế đánh vào việc sử dụng tài sản của Nhà nước
+ Thuế đánh vào tài sản

2.3.4 Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước
- Thực chất là khoản thu mang tính chất thu hồi vốn và có một phần mang
tính chất phân phối lại.
- Khoản thu này có tác dụng tăng nguồn thu cho NSNN và nâng cao hiệu
quả sử dụng tài sản quốc gia.
- Khoản thu này bao gồm:
+ Thu về bán hoặc cho thuê tài nguyên thiên nhiên.
+ Thu về bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước nhưng không thuộc
nguồn tài nguyên.
- 5 -
2.3.5 Thu về hợp tác lao động với nước ngoài và thu khác.
Thực chất các khoản thu này là khoản tiền thu hồi của quốc gia đã bỏ
ra những chi phí ban đầu để bảo vệ, nuôi dưỡng, rèn luyện, đào tạo người
lao động, đồng thời cũng là khoản tiền mà người lao động trích ra từ tiền
công của mình đóng góp cho Tổ Quốc.
2.4 Phân loại thu ngân sách nhà nước
a, Căn cứ vào nội dung kinh tế các khoản thu
- Thu từ thuế, phí, lệ phí.
- Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước.
- Thu từ hoạt động sự nghiệp của Nhà nước.
- Thu từ tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.
- Thu từ các loại tiền phạt.
- Thu từ vay nợ và viện trợ không hoàn lại.
b, Căn cứ vào tính chất phát sinh các khoản thu
- Thu mang tính chất thường xuyên (ví dụ: phí, lệ phí, thuế,…)
- Thu mang tính chất không thường xuyên (ví dụ: tiền phạt,…)
c, Căn cứ vào tính chất cân đối ngân sách Nhà nước
- Thu trong cân đối ngân sách Nhà nước
- Thu bù đắp thiếu hụt
2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước

1. Nguyên tắc ổn định và lâu dài
1.1 Đặc điểm
- Thực hiện nguyên tắc này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế
hoạch hóa ngân sách, mặt khác tạo điều kiện để kích thích người nộp thuế
cải tiến, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong những điều kiện hoạt động bình thường thì
phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không được gây xáo trộn lớn
trong hệ thống thuế, đồng thời tỉ lệ động viên của ngân sách Nhà nước phải
thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát
triển nguồn thu.
- Thực hiện nguyên tắc này cũng cần lựa chọn đối tượng tính thuế sao cho
đối tượng đó có ít sự biến động. thường thì thuế đánh trên hàng bán (thuế
đánh trên chi phí) có khuynh hướng ổn định hơn thuế đánh trên thu nhập. Vì
khi nền kinh tế suy thoái, thu nhập giảm đi làm ảnh hưởng đến nguồn thu
của ngân sách, nhưng người ta vẫn phải chi tiêu, mua sắm cho những thức
thiết yếu trong cuộc sống nên nguồn thu từ thuế đánh trên hàng bán vẫn
không giảm hoặc biến động không lớn).
1.2 Thực trạng áp dụng
- Thuế là nguồn thu ổn định và lâu dài của Ngân sách Nhà nước.
Ví dụ: Theo dự toán ngân sách nhà nước năm 2007 thì nguồn thu từ thuế
chiếm 89,11 tổng nguồn thu của NSNN.
- Các điều luật thuế của Nhà nước chỉ hướng tới những người có khả năng
chịu thuế. Nhằm đảm bảo sự ổn định của nguồn thu thuế.
- Mọi nguồn thu từ thuế và lệ phí ở Việt Nam đều do Quốc hội Việt Nam
hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt ra bằng luật và pháp lệnh, và được thu
- 8 -
bởi Tổng cục Thuế Việt Nam thông qua các cơ quan thu của nó là các cục
thuế, chi cục thuế, phòng thuế, đội thuế, bởi Tổng cục Hải quan Việt Nam
thông qua các cơ quan của nó là cục hải quan, chi cục hải quan, và các cán
bộ chuyên môn được ủy quyền khác ở khắp các địa phương trong cả nước.

của người nộp thuế vào lúc phát sinh thu nhập.
Ở Việt Nam, các loại thuế trực thu chủ yếu:
+ Thuế sử dụng đất nông nghiệp (vừa có tính gián thu)
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp
+ Thuế thu nhập người có thu nhập cao.
3. Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn
3.1 Đặc điểm
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ thống thuế trong điều luật của các
sắc thuế phải rõ ràng, cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế,… để tránh
tình trạng lách luật chống thuế.
- Việc sửa đổi, bổ sung các điều khoản trong sắc thuế không phải lúc nào
cũng thực hiện được, cho nên các điều khoản trong luật phải bao quát và phù
hợp với hoạt động của nền kinh tế xã hội.
3.2 Thực trạng áp dụng
- Tính rõ ràng được hiểu trên hai giác độ chủ yếu. Thứ nhất, đảm bảo rõ
ràng, dễ hiểu, chỉ có thể hiểu nhất quán theo một cách; một quy định pháp
luật không thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Thứ hai, không có nhiều
ngoại lệ mà đối tượng hưởng các ngoại lệ này được quyết định bởi cơ quan
hành pháp, không xác định rõ trong luật. Như vậy, việc minh bạch hóa giúp
- 10 -
hạn chế tình trạng lợi dụng những quy định không rõ ràng và các ngoại lệ để
tránh thuế và trốn thuế.
- Về danh nghĩa, mức thuế (thuế suất) do Quốc hội Việt Nam quy định. Song
trên thực tế, các mức thuế là do Chính phủ đề nghị với sự tư vấn của Bộ Tài
chính mà cụ thể hơn nữa là Tổng cục Thuế. Đối với một số sắc thuế, như
thuế xuất nhập khẩu, Quốc hội cho phép Chính phủ tự điều chỉnh khi cần
thiết. Riêng các phí và lệ phí là nguồn thu của chính quyền địa phương,
chính quyền địa phương có quyền quyết định mức.
- Các loại thế có tên gọi và mức thuế rõ ràng không bị trùng lặp, ví dụ như,
thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,

- Các cơ sở kinh doanh, HTX có chi nhánh, cửa
hàng, cửa hiệu ở các địa điểm khác không
cùng địa điểm của cơ sở.
1.000.000đ
4. Nguyên tắc đơn giản
4.1 Đặc điểm
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong mỗi sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất,
xác định rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc
thuế. Từ đó tạo điều kiện để thuận lợi cho việc triển khai luật thế vào thực
tiễn, tránh được những hiện tượng tiêu cực trong thu thuế.
- 12 -
4.2 Thực trạng áp dụng
Tính đơn giản thể hiện ở chỗ, các quy định pháp luật được trình bày
theo cách thức dễ hiểu nhất; không cầu kỳ, rối rắm, phức tạp. Với cách hiểu
như vậy, việc đơn giản hóa các quy định pháp luật thuế sẽ giúp giảm các chi
phí giải thích, tuyên truyền của cơ quan thuế vì sẽ giảm các trường hợp đối
tượng nộp thuế đề nghị giải thích các quy định phức tạp, khó hiểu. Mặt khác,
tính đơn giản giúp giảm thời gian tiếp cận và tìm hiểu pháp luật của đối
tượng nộp thuế, qua đó giảm chi phí tuân thủ của người nộp thuế.
VD: Luật thuế thu nhập cá nhân được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2,
thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 quy định:
Bậc thuế
Phần thu nhập tính
thuế/năm
(triệu đồng)
Phần thu nhập
tính thuế/tháng
(triệu đồng)
Thuế suất (%)
1 đến 60 đến 5 5

Năm 2010, tình hình kinh tế trong nước chuyển biến tích cực đã tạo
điều kiện để tăng thu ngân sách nhà nước. Thu ngân sách nhà nước năm
2010 ước đạt 520.100 tỷ đồng, vượt 12,7% so với dự toán, tăng 17,6% so
với năm 2009, và đạt tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước là 26,7%. Mặc
dù tỷ trọng thu nội địa có tăng nhưng chiếm tỷ trọng không lớn (khoảng
60%). Việc chấp hành kỷ luật ngân sách không nghiêm, thất thu, gian lận, nợ
đọng thuế, kể cả thuế nội địa và thuế xuất nhập khẩu còn lớn. Số nợ thuế chờ
xử lý (chiếm hơn 20% tổng số nợ thuế) tăng khá nhiều. Đây là dư địa quan
trọng để tăng thu ngân sách và giữ kỷ cương luật pháp về ngân sách nhà
nước. Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước ước đạt 637.200 tỷ đồng, tăng
9,4% so với dự toán và tăng 9% so với thực hiện năm 2009.
Biểu đồ dự toán thu ngân sách Nhà nước Việt Nam
- 15 -
239,400
339,400
417,900
492,500
632,000
Theo Ủy ban, đánh giá của Chính phủ về kết quả thu ngân sách nhà
nước năm 2011 là khá tích cực, tương đối sát thực tế. Tuy nhiên, qua làm
việc với các bộ, ngành và giám sát ở một số địa phương cho thấy, khả năng
thu của năm 2011 vẫn sẽ cao hơn dự kiến của Chính phủ. Nhận định này của
Ủy ban dựa trên những căn cứ có thể tăng thu hơn nữa, đặc biệt là trong thu
nội địa và thu cân đối xuất, nhập khẩu.
Nhìn nhận về công tác thu nội địa, Ủy bân tài chính ngân sách cho
rằng, mặc dù Chính phủ đánh giá vượt 11,3% so với dự toán, tăng 19,9% so
với thực hiện năm 2010. Tuy nhiên, qua giám sát, Ủy ban Tài chính ngân
sách thấy rằng, tình trạng gian lận thương mại, trốn lậu thuế vẫn diễn ra khá
phổ biến, nhất là ở một số thành phố lớn. Vẫn có thể khai thác nguồn thu từ
đất đai, kinh doanh bất động sản, từ khai thác tài nguyên khoáng sản. Và nếu

Chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước phải được
đặt trên cơ sở thu nhập và mức sống của dân.
Dùng ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp vào một số doanh nghiệp
quan trọng trong những lĩnh vực then chốt, nhằm tạo ra nguồn tài chính mới.
Cần phải khuyến khích, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước có cơ
hội cạnh tranh lành mạnh, mở rộng quy mô sản xuất cũng như thị trường
tiêu thụ,đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước. Kiên quyết giải thể hay tiến
hành cổ phần hóa những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hoặc không
hiệu quả nhằm hạn chế gánh nặng cho ngân sách của nhà nước.
Đẩy mạnh tiến trình cải cách hành chính - hiện đại hoá ngành thuế; cơ
quan thuế để thực hiện tốt việc niêm yết công khai các loại hồ sơ, thời hạn
giải quyết các thủ tục hành chính thuế. Tăng cường công tác giáo dục chính
- 17 -
trị - tư tưởng cho cán bộ thuế, đẩy mạnh luân phiên cán bộ, bố trí cán bộ có
trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm vào các vị trí then chốt.
Thường xuyên thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế nhằm phát hiện, chấn
chỉnh các sai phạm của cán bộ thuế. Loại ra khỏi ngành thuế những con sâu
mọt trong ngành thuế, để từng bước làm trong sạch đội ngũ công chức thuế.
Nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ thuế để thực hiện yêu cầu ngày
càng cao của công tác quản lý thuế hiện đại.
Tổ chức rà soát, nắm chắc đầy đủ các hộ sản xuất kinh doanh đưa vào
diện quản lý thu bằng cách phối hợp với Uỷ ban Nhân dân các xã, cơ quan
thống kê, cơ quan quản lý giấy phép kinh doanh, quản lý thị trường để đưa
100% số hộ kinh doanh vào số hộ trong bộ quản lý thường xuyên. Nắm chắc
mức độ hoạt động của từng đối tượng, từng ngành nghề, từng mặt hàng sản
xuất kinh doanh trong từng thời điểm, thời vụ, tổ chức điều tra, xác minh lại
doanh thu, mức thuế đúng với thực tế, chống thất thu về doanh số.
Đối với những hộ, cơ sở kinh doanh có qui mô lớn quản lý theo
phương pháp kê khai phải thực hiện tăng cường kiểm tra việc chấp hành chế
độ sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn, kê khai quyết toán thuế theo đúng quy

với toàn bộ nền kinh tế, xã hội. Vì thế quan tâm tới vấn đề ngân sách nhà
nước và đảm bảo cân đối thu chi trong ngân sách nhà nước là một việc nên
làm.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi nước ta
tham gia tổ chức WTO, nhiều cơ hội và thách thức đang đặt ra cho Nhà
nước và nhân dân ta phải gồng mình lên đưa đất nước ta phát triển để trở
thành những con rồng châu Á. Việc quan tâm tới các giải pháp tránh thất thu
ngân sách nhà nước ở nước ta hiện nay là không thể thiếu. Bên cạnh đó cần
áp dụng những nguyên tắc thiết lập hê thống thu ngân sách nhà nước hợp lí.
Trong quá trình tìm hiểu do trình độ hiểu biết cũng như thời gian có
hạn nên không tránh khỏi những sai sót. Hi vọng nhóm 5 đã đưa ra một vài
nhận xét khách quan về thực trạng áp dụng các nguyên tắc thiết lập hệ thống
thu ngân sách Nhà nước và một số giải pháp hợp lý cho việc tránh thất thu
ngân sách nhà nước.
- 20 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status