TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
NIÊN KHOÁ: 2010 – 2014
Đề tài:
Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Phương Dung
Bác sĩ chuyên khoa I
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Minh Trọng
MSSV: 1053012850
Chuyên ngành:
Vi sinh – Sinh học phân tử
TP.HCM, 06/2014
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
……………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất
đến cô Nguyễn Phương Dung, cùng các anh chị cán bộ, nhân viên công tác tại Đơn vị Vi
sinh – Sinh học phân tử - Bệnh viện nhân dân 115 đã tận tình chỉ dạy, giúp đỡ và hướng
dẫn em trong suốt quá trình thực tập và làm luận văn tại đơn vị.
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô là giảng viên Khoa Công nghệ sinh học – Đại
học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dạy, cung cấp những kiến thức nền tảng
cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã quan tâm, ủng hộ, tạo
điều kiện và giúp đỡ em rất nhiều trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Phương Dung
SVTH: Nguyễn Minh Trọng
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- BA: Blood Agar – Môi trường thạch máu.
- MC: Môi trường MacConkey.
- MHA: Mueller-Hinton Agar – Môi trường thạch Mueller-Hinton
- ESBL: Extended Spectrum Beta Lactamase – Men β-lactamase phổ rộng.
- CFU: Colony Forming Unit - Số đơn vị hình thành khuẩn lạc.
- S: Sensitive – Nhạy cảm.
- I: Intermediate – Trung gian.
- R: Resistant – Kháng.
- Kbp: kilo – base – pair.
- Bảng viết tắt và thông tin về kháng sinh sử dụng trong nghiên cứu này:
STT
Ceftazidime +
Clavulanic acid
CAZ +
CLA
30/10
μg
β-lactam/ức chế
β-lactamase
12
Piperacillin-
tazobactam
TZP
100/10
μg
≥ 20 15-19 ≤ 14
β-lactam/ức chế
β-lactamase
13 Moxifloxacin MXF 5 μg ≥ 24 21-23 ≤ 20 Fluoroquinolone
14 Ciprofloxacin CIP 5 µg ≥ 21 16–20 ≤ 15 Fluoroquinolone
15 Nalidixic acid NA 30 µg ≥ 19 14–18 ≤ 13 Quinolone
16 Nitrofurantoin F/M 300 μg ≥ 17 15-16 ≤ 14 Nitrofurantoin
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Phương Dung
SVTH: Nguyễn Minh Trọng
DANH SÁCH HÌNH ẢNH
- Hình 1.1: Sơ đồ cấu tạo hệ tiết niệu 5
- Hình 1.2: Cấu tạo đại thể của thận 6
- Hình 1.3: Mô phỏng Enterobacteriaceae và hình ảnh nhuộm Gram của E.coli 14
- Hình 1.4: Sơ đồ mô phỏng cấu trúc vòng β-lactam 15
- Hình 1.5: Cấu trúc của một số kháng sinh nhóm β-lactam 17
toàn bộ nghiên cứu 58
- Hình 3.9: So sánh tỷ lệ đề kháng kháng sinh của trực khuẩn Gram âm sinh ESBL
và không sinh ESBL trong toàn bộ nghiên cứu 60
DANH SÁCH CÁC BẢNG
- Bảng 3.1: Kết quả tỷ lệ theo độ tuổi của bệnh nhân có mẫu cấy dương tính 40
- Bảng 3.2: Kết quả phân lập và định danh vi khuẩn 40
- Bảng 3.3: Kết quả thử nghiệm sàng lọc ESBL 40
- Bảng 3.4: Kết quả thử nghiệm khẳng định ESBL 44
- Bảng 3.5: Kết quả trực khuẩn Gram âm sinh ESBL của toàn bộ nghiên cứu 45
- Bảng 3.6: Kháng sinh đồ của vi khuẩn Escherichia coli sinh ESBL trong nghiên
cứu 46
- Bảng 3.7: Kháng sinh đồ của vi khuẩn Acinetobacter baumannii sinh ESBL trong
nghiên cứu 48
- Bảng 3.8: Kháng sinh đồ của vi khuẩn Proteus vulgaris sinh ESBL trong nghiên
cứu 50
- Bảng 3.9: Kháng sinh đồ của vi khuẩn Proteus mirabilis sinh ESBL trong nghiên
cứu 51
- Bảng 3.10: Kháng sinh đồ của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa sinh ESBL
trong nghiên cứu 52
- Bảng 3.11: Tình hình đề kháng kháng các kháng sinh của Enterobacter aerogenes,
Klebsiella oxytoca, Klebsiella spp. trong nghiên cứu 54
- Bảng 3.12: Tình hình đề kháng kháng sinh của trực khuẩn Gram âm sinh ESBL
trong toàn bộ nghiên cứu 56
- Bảng 3.13: So sánh tình hình đề kháng kháng sinh của trực khuẩn Gram âm sinh
ESBL và không sinh ESBL trong toàn bộ nghiên cứu 58
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Phương Dung
SVTH: Nguyễn Minh Trọng
MỤC LỤC
4. Phương pháp phân lập và định danh: 32
5. Kháng sinh đồ và khảo sát khả năng sinh ESBL: 33
PHẦN III: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 39
I. MẪU NƯỚC TIỂU VÀ TRỰC KHUẨN GRAM ÂM 39
1. Mẫu nước tiểu: 39
2. Phân lập và định danh vi khuẩn: 40
II. TRỰC KHUẨN GRAM ÂM SINH ESBL: 42
1. Thử nghiệm sàng lọc ESBL: 42
2. Thử nghiệm khẳng định ESBL: 44
III. TÌNH HÌNH ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC TRỰC KHUẨN GRAM
ÂM SINH ESBL 46
1. Escherichia coli: 46
2. Acinetobacter baumannii: 48
3. Proteus vulgaris, Proteus mirabilis, Pseudomonas aeruginosa: 50
4. Enterobacter aerogenes, Klebsiella oxytoca, Klebsiella spp.: 54
5. Tình hình đề kháng kháng sinh của trực khuẩn Gram âm sinh ESBL trong toàn bộ
nghiên cứu: 56
PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
I. KẾT LUẬN 63
II. KIẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Phương Dung SVTH: Nguyễn Minh Trọng
1
Việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn nói chung và nhiễm khuẩn đường tiết niệu nói
riêng dựa trên nguyên tắc chung là lựa chọn kháng sinh thích hợp; cùng với điều trị triệu
chứng và điều trị hỗ trợ khác. Tuy nhiên, ở nước ta, việc sử dụng kháng sinh còn rất nhiều
bất cập. Các cơ chế quản lý nhà nước về nhập khẩu, kiểm nghiệm, quản lý, phân phối, sử
dụng chưa đồng bộ và chặt chẽ. Đồng thời, trong một bộ phận cộng đồng, kháng sinh vẫn
được sử dụng bừa bãi, không theo bất cứ chỉ định cụ thể nào của bác sĩ có chuyên môn.
Chưa kể kháng sinh còn có thể dễ dàng mua được ở bất cứ quầy thuốc tây nào trên thị
trường. Hậu quả của việc sử dụng kháng sinh không đúng của một bộ phận không nhỏ
người dân là tình trạng đề kháng kháng sinh liên tục tăng sau mỗi năm.
Hiện nay, tình đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn nói chung và đặc biệt là trực
khuẩn Gram âm sinh men β-lactamase phổ rộng (ESBL: Extended-Spectrum Beta-
Lactamases) nói riêng được xem là vấn đề cấp thiết của ngành Y tế toàn cầu. Các vi
khuẩn Gram âm sinh được ESBL tức là có khả năng kháng lại rất nhiều kháng sinh, đặc
biệt là có khả năng ly giải các cephalosporin phổ rộng và monobactam. Việc này gây rất
nhiều khó khăn trong việc lựa chọn kháng sinh trong quá trình điều trị. Đặc biệt trong
bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu, khi mà trực khuẩn Gram âm sinh ESBL thường chiếm
tỷ lệ cao.
Kể từ lần đầu tiên được phát hiện năm 1983 tại Đức, các nhà khoa học trong và
ngoài nước đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Phương Dung SVTH: Nguyễn Minh Trọng
3
chính thức nào đi sâu vào tình hình trực khuẩn Gram âm sinh ESBL trong bệnh nhiễm
khuẩn đường tiết niệu; đồng thời, tình hình đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn này
luôn thay đổi sau mỗi năm. Do đó, với mong muốn cập nhập thêm thông tin trong lĩnh
vực này và tiếp tục phát triển chuyên đề thực tập của mình, tôi quyết định thực hiện đề tài:
“Khảo sát tính đề kháng kháng sinh của trực khuẩn Gram âm sinh men β-
lactamase phổ rộng ở bệnh nhân nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại Bệnh viện nhân
SVTH: Nguyễn Minh Trọng
6
(mặt trước lồi, mặt sau phẳng), hai bờ (bờ ngoài cong lồi, bờ trong ở giữa lõm sâu có rốn
thận), hai đầu là hai cực (cực trên và cực dưới).
Cấu tạo giải phẫu của thận bao gồm: cấu tạo đại thể và cấu tạo vi thể.
1.1.1. Cấu tạo đại thể:
Hình 1.2: Cấu tạo đại thể của thận. (Nguồn: Internet)
- Xoang thận và bể thận:
Thận khi bổ đôi thấy có hai phần. Ở giữa là xoang thận, bao quanh xoang thận là
các khối nhu mô thận hình bán nguyệt (vỏ thận và tuỷ thận).
Xoang thận thông ra ngoài ở rốn thận thành xoang có nhiều chỗ lồi lõm. Trong khi
đó, nhú thận (cao khoảng 4 – 10 mm) có các đầu nhú có nhiều lỗ của các ống sinh niệu đổ
nước tiểu vào bể thận. Chỗ lõm úp vào các nhú thận gọi là các đài nhỏ. Các đài nhỏ, hợp
lại thành hai đài lớn. Các đài lớn hợp lại thành bể thận. Bể thận thông với niệu quản.
- Nhu mô thận:
Nhu mô thận gồm có hai vùng:
+ Vùng trung tâm (vùng tủy thận): màu đỏ sẫm, được cấu tạo gồm nhiều khối
hình nón gọi là tháp thận hay tháp Malpighi.
+ Vùng ngoại biên (vùng vỏ thận): là vùng có màu vàng đỏ nhạt, gồm có:
o Cột thận là phần nhu mô xen giữa các tháp thận gọi là cột Bertin.
o Tiểu thùy vỏ là phần nhu mô từ đáy tháp thận tới bao sợi.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Phương Dung SVTH: Nguyễn Minh Trọng
7
- Mạc thận:
Thận và tuyến thượng thận cùng bên được bao bọc bởi một mạc gọi là mạc thận.
SVTH: Nguyễn Minh Trọng
8
- Ở nam: niệu đạo dài (18 - 20 cm), gấp khúc và còn là đường dẫn tinh.
2. Tổng quan chức năng sinh lý hệ tiết niệu:
Chức năng sinh lý của hệ bài tiết gồm các chức năng chính:
- Lọc máu ở cầu thận.
- Tái hấp thụ và bài tiết của ống thận.
- Các hoạt động nội tiết của thận gồm: bài tiết các hormon, chịu các tác động của
hormon, điều hoà và chuyển hoá.
- Chức năng bài tiết nước tiểu.
II. NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU
[1, 4, 7, 10, 13, 14, 15]
1. Khái niệm:
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là khái niệm chỉ sự hiện diện bất thường của vi khuẩn
trong nước tiểu. Bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu là bệnh nhiễm khuẩn của thận và
đường tiết niệu. Bệnh nhân được kết luận nhiễm khuẩn đường tiết niệu khi lượng vi
khuẩn lớn hơn 100 000 CFU/ml nước tiểu và viêm đường tiết niệu.
2. Phân loại:
2.1. Phân loại theo tác nhân gây bệnh:
- Nhiễm khuẩn đường tiết niệu đặc hiệu: Do một số loại vi khuẩn đặc hiệu gây nên
như vi khuẩn lao hoặc nấm (Actinomycosis).
- Nhiễm khuẩn tiết niệu không đặc hiệu: là nhiễm khuẩn thường gặp của đường tiết
niệu do các loại trực khuẩn Gram âm hoặc cầu khuẩn Gram dương gây nên.
2.2. Phân loại theo bệnh cảnh:
- Nhiễm khuẩn đường tiết niệu không triệu chứng: là nhiễm khuẩn đường tiết niệu
không có những triệu chứng lâm sàng Niệu khoa. Bệnh chỉ được phát hiện tình cờ khi
bệnh nhân đi kiểm tra sức khoẻ hoặc trong các cuộc điều tra dịch tể học.
- Viêm bàng quang: là bệnh do nhiễm khuẩn bàng quang.
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu bởi nguyên nhân này là do các vi khuẩn đi ngược từ lỗ niệu
đạo, theo niệu đạo vào bàng quang và lên đến thận.
Tại lỗ niệu đạo thường không vô khuẩn và luôn bị xâm nhậm của các chủng vi
khuẩn khác nhau. Khi gặp các điều kiện thuận lợi chúng sẽ xâm nhập và gây nhiễm khuẩn
đường tiết niệu.
3.3. Nhiễm khuẩn theo đường máu:
So với nhiễm khuẩn ngược dòng, nhiễm khuẩn theo đường máu chiếm tỷ lệ ít hơn
nhưng lại nguy hiểm hơn.
Vì đảm nhận chức năng bài tiết nên lượng máu di chuyển qua thận tại bất cứ thời
điểm nào đều rất lớn, chiếm đến ¼ lượng máu lưu thông trong tuần hoàn chung. Do đó,
khi có vi khuẩn xuất phát từ bất kì vị trí bị nhiễm khuẩn nào của cơ thể đều có khả năng
dẫn đến nhiễm khuẩn thận.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Phương Dung SVTH: Nguyễn Minh Trọng
10
3.4. Nhiễm khuẩn theo các con đường khác:
Một số tài liệu còn ghi nhận các nguyên nhân gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu
khác: nhiễm khuẩn theo đường bạch huyết, nhiễm khuẩn trực tiếp từ các cơ quan lân cận.
Tuy nhiên các nguyên nhân này vẫn chưa có các nghiên cứu cụ thể.
3.5. Các yếu tố thuận lợi gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu:
3.5.1. Tắt nghẽn và ứ đọng nước tiểu:
Bình thường, hệ tiết niệu có sự đề kháng tự nhiên để chống lại sự xâm nhập của vi
khuẩn. Trong đó, việc bài tiết nước tiểu một cách tự nhiên ra khỏi cơ thể cũng là một cách
giúp đào thải các vi khuẩn (nếu có) trong đường tiết niệu. Tuy nhiên, do các dị tật bẩm
sinh (hẹp bao quy đầu, van niệu đạo sau, niệu quản lạc chỗ,…) hay do bệnh lý (hẹp niệu
đạo, khối u đường tiết niệu, sỏi tiết niệu,…) khiến nước tiểu bị tắt nghẽn, ứ đọng. Điều
này tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu.
khuẩn là cần thiết trong trường hợp này.
4.1.2. Thể không điển hình:
Bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng. Bệnh diễn biến âm thầm trong một thời
gian dài và thường lành tính. Tuy nhiên một số trường hợp có thể xảy ra những biến
chứng nghiêm trọng hơn: viêm bể thận cấp, viêm tiền liệt tuyến cấp. Bệnh chỉ được phát
hiện một cách tình cờ, do đó việc theo dõi vi khuẩn học một cách có hệ thống sẽ giúp phát
hiện bệnh sớm, kể cả khi chưa xuất hiện các triệu chứng.
Bên cạnh các triêu chứng lâm sàng, việc khám lâm sàng để phát hiện các triệu chứng
này là cần thiết. Việc điều tra bệnh sử của bệnh nhân cũng như thăm khám cũng là một
điều kiện để xác định bệnh.
4.2. Chẩn đoán cận lâm sàng:
Việc chẩn đoán lâm sàng thực tế khó xác định chính xác bệnh nhân có bị nhiễm
khuẩn đường tiết niệu hay không; bởi vì các triệu chứng lâm sàng nhất là trong giai đoạn
đầu của bệnh hoặc ở thể không điển hình thường không rõ ràng, một số triệu chứng có thể
trùng lặp với các bệnh lý khác. Do đó, việc kết hợp giữa chẩn đoán lâm sàng và cận lâm
sàng sẽ giúp xác định và phân biệt được nhiễm khuẩn đường tiết niệu.
Các chẩn đoán cận lâm sàng bao gồm: xét nghiệm nước tiểu (bao gồm cấy nước
tiểu), xét nghiệm máu, chẩn đoán hình ảnh. Trong phạm vi nghiên cứu này chỉ tập trung
đi sâu vào khía cạnh cấy nước tiểu trong các chẩn đoán cận lâm sàng.
4.2.1. Xét nghiệm nước tiểu:
Gồm các thông số xét nghiệm sau:
- Xét nghiệm protein niệu.
- Xét nghiệm cặn lắng nước tiểu.
- Cấy nước tiểu.
- Các xét nghiệm khác.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Phương Dung SVTH: Nguyễn Minh Trọng
cho đến nay đã được tìm thấy ở nhiều vi khuẩn khác nhau: Enterobacteriaceae,
Pseudomonas aeruginosa, Haemophilus influenzae, Klebsiella pneumoniae và Neisseria
gonorrhoeae.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Phương Dung SVTH: Nguyễn Minh Trọng
13
Năm 1983, tại Đức, trực khuẩn Gram âm, Klebsiella ozaenae, sinh men β-lactamase
phổ rộng (ESBL) đầu tiên được phát hiện. Hiện trên thế giới đã phát hiện và mô tả được
hơn 150 ESBL khác nhau. Các trực khuẩn Gram âm sinh ESBL có thể mắc do lây truyền
từ người này sang người khác hoặc do được chọn lọc qua việc dùng kháng sinh. Khi các
vi khuẩn đã sinh được ESBL đồng nghĩa với việc chúng có khả năng kháng lại rất nhiều
kháng sinh khác nhau, đặc biệt là nhóm cephaslosporin. Đây thực sự là gánh nặng trong
việc điều trị nhiễm khuẩn nói chung và nhiễm khuẩn đường tiết niệu do trực khuẩn Gram
âm nói riêng.
2. Trực khuẩn Gram âm:
Trực khuẩn Gram âm là các vi khuẩn có dạng hình que (trực) và không giữ được
màu tím tinh thể (crystal violet) trong phương pháp nhuộm Gram.
Các trực khuẩn Gram âm gồm hai nhóm lớn chủ yếu: Enterobacteriaceae (Họ vi
khuẩn đường ruột) và Non-Enterobacteriaceae.
2.1. Enterobacteriaceae
[5]
:
Enterobacteriaceae là một họ lớn gồm nhiều loại trực khuẩn Gram âm, sống chủ
yếu ở đường tiêu hoá của người và động vật, có thể gây bệnh hoặc không gây bệnh. Một
số chi phổ biến của họ này như: Salmonella, Escherichia, Yersinia, Klebsiella và
Shigella,…
Đặc điểm chung của chúng gồm:
- Không bào tử.
- Pseudomonas aeruginosa: là tác nhân gây bệnh nhiểm khuẩn tai, mắt, vết thương,
vết bỏng, đường tiểu và đường hô hấp. Đôi khi cũng gây nhiễm trùng huyết và viêm màng
não. Pseudomonas aeruginosa có khả năng di động, không sinh bào tử. Thường đứng một
mình hay thành đôi hoặc xếp thành chuỗi ngắn. Là một vi khuẩn hiếu khí tuyệt đối và có
khả năng phát triển tốt trên các môi trường thông thường, có khả năng sinh sắc tố làm môi
trường có màu xanh lục hay nâu. Lứa cấy toả mùi thơm nhẹ.
- Acinetobacte spp.: là vi khuẩn thường trú trong đường hô hấp, gây nhiễm khuẩn
đường hô hấp và đôi khi có thể nhiễm trùng huyết. Acinetobacte spp. là trực khuẩn Gram,
hiếu khí, dễ mọc trên các môi trường phân lập thông thường, không lên men hầu hết các
loại đường và thử nghiệm sinh hoá hầu hết là âm tính.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Phương Dung SVTH: Nguyễn Minh Trọng
15
3. Men β-lactamase phổ rộng:
3.1. Kháng sinh nhóm β-lactam:
3.1.1. Định nghĩa kháng sinh
[4]
:
Kháng sinh là những chất có tác động chống lại sự sống của vi khuẩn, ngăn vi khuẩn
nhân lên bằng cách tác động ở mức phân tử, tác động vào một hay nhiều giai đoạn chuyển
hóa cần thiết của đời sống vi khuẩn hoặc tác động vào sự cân bằng lý hóa của vi khuẩn.
3.1.2. Kháng sinh nhóm β-lactam
[3]
:
- Cấu trúc các kháng sinh nhóm β-lactam: Cấu trúc phân tử của các kháng sinh
nhóm β-lactam đều mang vòng β-lactam. Trong không gian, vòng β-lactam có cấu trúc
hoá học gồm bốn cạnh do 3 nguyên tử C liên kết với 1 nguyên tử N tạo thành.
o Benzylpenicillin
o Benzylpenicillin
o Phenoxypenicillin
o Penicillin kháng penicillinase (chống tụ cầu)
o Aminopenicillin
o Carboxypenicillin
o Ureidopenicillin (phổ tác dụng rộng)
o Carbapenem
o Nhóm kết hợp chất ức chế β-lactamase: có tác dụng bất hoạt các ESBL.
+ Phân nhóm cephalosporin:
Cephalosporins thế hệ 1, thế hệ 2, thế hệ 3 và thế hệ 4. Các cephalosporins phổ rộng
như cefotaxime, ceftazidime, ceftriaxone được gọi là oxyimino-β-lactam. Một số kháng
sinh về mặt lý thuyết và thử nghiệm trên invitro không bị phân hủy bởi ESBL gọi là
cephamycin như: cefoxitin, cefotetan và cefmetazole. Các cephamycin này gồm các
cephalosporin có chuỗi bên 7α–methoxy được ngăn thủy phân do các ESBL hay các β-
lactamase thông thường.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Phương Dung SVTH: Nguyễn Minh Trọng
17
Hình 1.5: Cấu trúc của một số kháng sinh nhóm β-lactam
[3]
.
3.2. Men β-lactamase phổ rộng
[3, 6, 12]
:
3.2.1. Khái niệm:
Men β-lactamase phổ rộng là men β-lactamase di truyền qua trung gian plasmid
và ceftriaxone thì đa số CTX-M đều có hoạt lực mạnh với hai kháng sinh này.
3.2.3. Các dạng của ESBL
[12]
:
- TEM: Đây là dạng phổ biến nhất ở các vi khuẩn Gram âm. Theo thống kê, 90% đột
biến kháng ampicillin ở E. coli là do TEM-1. Ngoài ra, men này còn giúp kháng
ampicillin và penicillin ở chủng H. Influenzae và N. Gonorrhoeae. Các TEM-1 có khả
năng thủy phân penicillin và cephalosporin thế hệ đầu như cephalothin và cephaloridine.
Các biến thể TEM-2 hay TEM-3 được phát sinh từ TEM-1, với TEM-3 (được báo cáo lần
đầu năm 1989) là dạng men β-lactamase đầu tiên thể hiện kiểu hình ESBL. Kể từ đó, đã
có khoảng hơn 90 biến thể của TEM được mô tả và bổ sung. Phần lớn chúng là các
ESBL.
- SHV: Dạng men SHV-1 được tìm thấy nhiều nhất ở K. pneumoniae. Trong nhiều
chủng K. Pneumoniae, gene mã hoá SHV-1 được tích hợp vào trong nhiễm sắc thể của vi
khuẩn. Không giống như TEM, có rất ít các biến thể của SHV-1. Nguyên nhân là những
thay đổi để phát sinh các biến thể này xảy ra ở ít vị trí hơn trong cấu trúc gene mã hoá cho
SHV. Đa số các biến thể của SHV đều sở hữu một cấu hình ESBL được đặc trưng cho sự
thay thế một serine cho glycine tại vị trí 238. Các dư lượng serine ở vị trí 238 này rất quan
trọng cho quá trình thủy phân hiệu quả ceftazidime, và dư lượng lysine là rất quan trọng
cho thủy phân hiệu quả cefotaxime. Cho đến nay hầu hết các biến thể của SHV đều có