Khóa luận tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
TÌM HIỂU VỀ “KHẮP”
CỦA NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN MƯỜNG LA
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn hoá các dân tộc thiểu số
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga
Người hướng dẫn: Tiến sĩ Vi Văn An
Chỉnh lý: Tiến sĩ Phạm Việt Long
Hà Nội, năm 2011
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 1
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu
sắc đến T.S Vi Văn An, người đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết
khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Văn hóa dân tộc thiểu
số, đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện tốt nhất để tôi được học tập và
nghiên cứu tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Văn hóa huyện Mường La, các chuyên
gia, các nghệ nhân, đã giúp đỡ tôi thu thập những thông tin cần thiết để hoàn
thành khóa luận này.
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và những người
thương yêu tôi, luôn bên tôi, giúp đỡ tôi về vật chất cũng như tinh thần trong
suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Vì điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài khó tránh khỏi sự thiếu
sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và mọi người để đề
tài của tôi được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa cả trong lý luận và thực tiễn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội ngày 18 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 3
Khóa luận tốt nghiệp
hát kể chuyện cổ tích hay các anh hùng ca dân tộc. Và khi con người xế
chiều mãn bóng thì được cả cộng đồng ca hát tiễn tới nơi an nghỉ cuối cùng.
Có thể thấy hát Thái không còn là khu rừng biệt lập xa cách nữa mà đã gần
gũi, quen thuộc từ lâu.
Tuy nhiên, sự hiểu biết của chúng ta về các làn điệu dân ca Thái vẫn
còn khiêm tốn. Còn khá nhiều làn điệu hát Thái ta mới chỉ được nghe tên và
có không ít những làn điệu “khắp” của người Thái chỉ còn tồn tại trong ký
ức của những người già.
Mặc dù đã có một số công trình, bài viết đề cập đến dân ca Thái, song
hầu như chưa có một công trình sưu tầm, nghiên cứu một cách có hệ thống,
chuyên sâu về dân ca “khắp” của người Thái nói chung, người Thái ở
Mường La nói riêng. Vì vậy, việc nghiên cứu về khắp Thái ở Mường La
nhằm phát huy giá trị của loại hình dân ca này là hết sức cần thiết.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu về “khắp” của người
Thái ở huyện Mường La” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề văn nghệ dân gian của người Thái đã được đề cập đến trong
một số công trình, nhưng do yêu cầu của công việc, mỗi người đã đứng ở
mỗi góc độ, nên thành quả thu lại cũng khác nhau, mỗi công trình nghiên
cứu có thể đề cập toàn diện văn hóa của người Thái, có những công trình
chỉ đề cập đến một lĩnh vực trong văn hóa.
Riêng về hát dân ca Thái, cho đến nay dường như mới chỉ được đề cập
đến trong một số công trình nghiên cứu, nhưng chưa từng được giới thiệu
trọn vẹn. Những bài dưới tên chung là Tản chụ xiết xương mới chỉ được
trích in không nhiều. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam phần văn học dân tộc
thiểu số giới thiệu các bài Lành đồn xa, Ướm hỏi, Chung lứa chung nôi,
Đời thanh xuân, Dặn dò trong số hơn một trăm bài ghi trong lời dẫn của
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nói đến “khắp” là nói đến lĩnh vực văn hóa tinh thần, do vậy phạm vi
khá rộng, song do khả năng có hạn, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu một số làn
điệu “khắp” phổ biến của người Thái đen ở huyện Mường La.
5. Phương pháp nghiên cứu
− Tra cứu tài liệu
− Xã hội học văn hóa
− Khảo sát thực tế
− Phương pháp phân tích, tổng hợp
− Phương pháp thống kê, phân loại
6. Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu “khắp” Thái trong đời sống văn hoá dân gian của người
Thái đen ở Mường La, nhằm giới thiệu một nét văn hoá đặc trưng vốn có
trong dân gian nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu về nó. Luận văn
là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về “khắp”của người
Thái ở Mường La
Trong quá trình nghiên cứu, qua khảo sát điền dã, tác giả đề tài đã thu
thập được một số lượng những điệu “khắp” còn đang lưu truyền trong đời
sống dân gian ở Mường La.
Kết quả khảo sát thực tế trên là cơ sở khoa học để tác giả luận văn bước
đầu đề xuất hướng bảo tồn và phát huy giữ gìn nét đẹp, bản sắc văn hoá dân
tộc các dân tộc thiểu số Việt Nam đang bị mai một dần, bởi đây là một công
việc cụ thể, có ý nghĩa cho những người có ý thức về sự hiện diện và vai trò
của “khắp”.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 6
Khóa luận tốt nghiệp
Chương 1. Khái quát về người Thái ở Mường La
Huyện Mường La nằm ở độ cao trung bình từ 500- 700m so với mặt
nước biển, phía Đông và phía Đông Bắc của huyện là những dãy núi cao,
địa hình thấp dần về phía Nam và dọc theo 2 bờ sông Đà. . Sông Đà là sông
lớn nhất chảy qua huyện. Một số sông suối lớn khác là Nậm Mu, Nậm
Chiến, Nậm Trai, Nậm Pàn, Nậm Pia. Khi đập thủy điện Sơn La được hoàn
thành, hồ thủy điện Sơn La sẽ chiếm một phần không nhỏ diện tích toàn
huyện.
- Khí hậu
Mường La có khí hậu nhiệt độ gió mùa, khí hậu trong năm chia làm 2
mùa rõ rệt. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, vào mùa mưa thường
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 8
Khóa luận tốt nghiệp
kèm theo lốc và lũ quét tại các sông suối đầu nguồn. Mùa khô chịu ảnh
hưởng của gió Tây Nam, gió mùa Đông Bắc và khí hậu tiểu vùng sông Đà,
mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng
năm từ 20-26
0
C, lượng mưa bình quân là 1.347mm/năm, độ ẩm trung bình
là 85%.
- Đất đai
Huyện Mường La có tổng diện tích đất tự nhiên là 142,205.00 ha (theo
tống kiểm kê đất đai năm 2005), hầu hết là rừng núi (chiếm hơn 90% diện
tích). Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 89.792 ha, chiếm 63,14% tổng
diện tích đất tự nhiên của huyện; diện tích đất phi nông nghiệp (đất ở và đất
chuyên dùng) là 3.725 ha chiếm 2,6%; diện tích đất chưa sử dụng là 48.844
ha chiếm 34,34%, diện tích này chủ yếu là đối núi chưa sử dụng với 38.154
ha, trên diện tích này chủ yếu là thảm thực vật xen cây lùn, còn lại 10.69 ha
là núi đá không rừng cây.
- Hệ thống thủy văn
Trên địa bàn có sông Đà chảy qua theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, với
chính trị, quân sự quan trọng trong khu vực Tây Bắc nói chung. Được đánh
giá là huyện giàu tiềm năng về đất đai, môi trường, tài nguyên, trong đó có
thế mạnh là phát triển thuỷ lợi và thuỷ điện. Tuy có nhiều tiềm năng nhưng
Mường La vẫn có tên trong danh sách 5 huyện nghèo của tỉnh Sơn La do
phải đối mặt với những khó khăn như: địa bàn rộng, giao thông đi lại khó
khăn, xuất phát điểm của nền kinh tế thấp; tập quán canh tác lạc hậu, các tệ
nạn xã hội diễn biến phức tạp, nhất là khi tiếp nhận thêm gần 1 vạn công
nhân đến làm việc trên công trường Nhà máy thuỷ điện Sơn La.
1.1.2. Điều kiện văn hóa xã hội
- Các đơn vị hành chính
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 10
Khóa luận tốt nghiệp
Toàn huyện có 16 đơn vị hành chính, gồm 01 thị trấn là thị trấn Ít Ong
và các xã: Chiềng Hoa, Tạ Bú, Mường Chùm, Chiềng San, Nậm Păm, Pi
Toong, Mường Bú, Hua Trai, Chiềng Lao, Nậm Giôn, Mường Trai, Chiềng
Muôn, Chiềng Ân, Chiềng Công, Ngọc Chiến. Trong đó có 7 xã thuộc diện
xã đặc biệt khó khăn, nằm trong Chương trình 135 giai đoạn II là các xã:
Chiềng Lao, Nậm Giôn, Mường Trai, Chiềng Muôn, Chiềng Ân, Chiềng
Công, Ngọc Chiến.
- Dân số, dân tộc
Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2009, dân số toàn huyện là
16.449 hộ với 85.974 nhân khẩu. Trong đó số dân của huyện là 79.779
người, còn lại là công nhân phục vụ thủy điện Sơn La. Mật độ dân số bình
quân 60 người/km2 với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,86%.
Về dân tộc, toàn huyện có 6 dân tộc anh em cùng chung sống, bao gồm:
dân tộc Thái chiếm 63,21%; Mông 16,98%; Kinh 12,65%; La Ha 5,91%;
Kháng 0,93%; Khơ Mú 0,32%.
Cũng như nhiều vùng khác của Tây Bắc, các dân tộc ở Mường La chủ
yếu phân bố như sau:
Người Thái tập trung tại vùng thấp, dọc sông suối, có cánh đồng rộng.
người một khe suối nhưng chung một vận mệnh” (ca dao Thái).
1.2. Khát quát về người Thái ở huyện Mường La
1.2.1. Tên gọi, dân số và sự phân bố
Người Thái Mường La tự gọi mình là Phủ Tay hay Côn Tay đều có
nghĩa là người. Người Thái ở Mường La thuộc ngành Thái Đen.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 12
Khóa luận tốt nghiệp
Huyện Mường La trước đây rộng: 1.421,0 km2, dân số: 67,294 người,
trong đó: Thái: 48,969 người (1999). Hiện nay, người Thái ở huyện Mường
La có 54.344 người, chiếm 63,21% dân số toàn huyện.
Tên Mường La xuất hiện từ thế kỷ XII. Đó là tên đông nghĩa với tên
Mường Lò. Theo Quam tô mương (Kể chuyện bản mường) của người
Mường La nói: khi Lạng Chượng đưa người Thái tới Mường La, đã dựng
nhà để cúng tổ tiên tại nơi trung tâm “ mường”.Ngày cúng tổ tiên họ Lò
( họ quý tộc) là ngày “hài” ( tức ngày bính) nên đặt địa điểm dựng nhà cúng
đó là bản hài. Nay xác định đó là bản Hài thuộc xã Chiềng An huyện
Mường La. Xưa kia vì bản Hài là trung tâm châu Mường nên gọi là “Viềng
hài”.
Trung tâm châu mường gọi là Chiềng An nên tên châu mường cũng gọi
là Chiềng An. Những “ mường nhỏ” thuộc phạm vi châu mường có: Mường
Trai hay Chiêng Nghiêm, Mường Bú hay Chiềng Biên, Mường Chùm,
Mường Chiến. Theo Quam tô mương, khoảng thế kỷ XV sau đời Ta Ngần ở
Mường La có Duông Căm làm thủ lĩnh, Mường La bắt đầu dần dần phát
triển thế lực. đên khoảng thế kỷ XVII đời thủ lĩnh Bun Pành, Mường La
tách hẳn khỏi Mường Muội thành châu mường lớn mạnh. Bước sang thế kỷ
XVIII đời thủ lĩnh Bun Phanh, Mường La đã trở thành châu mường có ảnh
hưởng khắp vùng “ Mười sáu châu Thái”.
Khoảng thời Lê mạt, Mường La được Trinh Sâm đặt là châu Sơn La.
Như vậy thế kỷ XVIII triều đinh cũng xác nhận Mường La là một châu
mường tách khỏi ảnh hưởng của Mường Muổi (Thuận Châu).
Mường Pia (lộng là mường nhỏ). Sau khi hoà bình lập lại, Châu Mường La
trở thành huyện Mường La. Năm 1961, vùng mường phìa Mường La cũ
chuyển thành Thị xã, các mường còn lại vẫn thuộc huyện Mường La.
1
()
Chiềng là trung tâm của một mường
2
(
)
Viềng là nơi thành luỹ quân sự để bảo vệ Chiềng
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 14
Khóa luận tốt nghiệp
Người Thái đen ở huyện Mường La ngày nay, cơ bản thống nhất với
người Thái đen ở Thành phố Sơn La về các đặc điểm văn hoá (ăn mặc, nói
năng, chữ viết, tập quán…) vì Thành phố Sơn La ngày nay chính là trung
tâm của cả vùng Châu Mường La ngày trước. Vì vậy, các điệu hát ở Thành
phố Sơn La cũng chính là điệu hát của Mường La. Tuy vậy mỗi vùng trong
huyện lại có những làn điệu riêng nữa, như Mường Trai có điệu “hua co
lôm” mà buồn và cô đơn, người ta thường hát hát một mình với gió, Pi
Tong có điệu hát riêng phù hợp với đời sống văn hóa của họ.
1.2.3. Hoạt động kinh tế
- Canh tác ruộng nước và nương rẫy
Người Thái ở Mường La là cư dân nông nghiệp trồng trọt, trong đó
canh tác ruộng nước là chính, nương rẫy chỉ phổ biến ở một số bộ phận cư
dân. Với bộ nông cụ làm ruộng như cày, mai, xẻng; các biện pháp kỹ thuật
liên hoàn (làm đất, làm mạ và gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch); đặc biệt là
hệ thống thủy lợi “dẫn thủy nhập điền” mương, phai, lái, lin và cọn nước,
cùng với các nghi lễ tín ngưỡng liên quan, qua nhiều thế hệ, họ đã đúc kết
và tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất. Hiện nay, người Thái đã
nấm, mộc nhĩ, măng, rêu đá, các loại côn trùng. Dưới khe suối có cá, tôm,
cua, ốc, cá nhỏ…Những thứ đó thường xuyên tham gia vào hai bữa ăn
chính hàng ngày của đồng bào. Nên hái lượm vẫn đóng một vị trí nhất định
trong đời sống kinh tế của người Thái ở Mường La.
Rừng còn cung cấp cho đồng bào nguyên vật liệu để làm nhà, đan lát
những gia cụ, cung cấp củi đun, dầu thắp sáng, những cây thuốc và những
lâm thổ sản quý. Trong rừng các loại chim, thú là đối tượng để đồng bào
săn bắt.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 16
Khóa luận tốt nghiệp
Trái với săn bắt, nghề đánh cá phát triển hơn. Người Thái có câu “Páy
hin pá, má kin lẩu” (đi ăn cá về uống rượu) nói lên việc ăn cá là một thú vui
ở người Thái.
- Ngành nghề thủ công
Nghề thủ công của người Thái ở Mường La rất phong phú, phát triển
đạt trình độ cao. Có thể nói phụ nữ Thái là những thợ dệt chăm chỉ, lành
nghề, sản xuất không những đủ chăn, màn , quần áo cho gia đình mà còn
đem trao đổi. Sản phẩm nổi tiếng của người Thái Mường La là vải thổ cẩm,
với những hoa văn đặc sắc, màu sắc tươi hài hoà, bền đẹp. Nghề đan lát là
công việc của đàn ông. Họ thường đan những vật dụng hàng ngày (nong,
nia, dần, sang ). Ngoài ra còn có những nghề thủ công mang tính chuyên
nghiệp như nghề rèn nông cụ xẻng, cuốc, lưỡi cày, dao, kéo…Họ còn biết
dùng bàn xoay, độ nung cao trong nghề làm gốm tạo thành những chum,
vò, nồi, chõ đất, bát đĩa đạt trình độ kĩ thuật và mĩ thuật.
-Trao đổi, mua bán
Trong một xã hội hầu như không có chợ búa, việc trao đổi hàng hóa
thường chỉ hạn chế vào một số nhu yếu phẩm và chủ yếu vẫn là hình thức
hàng đổi hàng với những cư dân khác tộc ở rẻo giữa và rẻo cao. Thỉnh
thoảng, có những chuyến hàng ngược sông hay những đoàn ngựa, bò của
các thương nhân người Lào, người Miến đem các nhu yếu phẩm đến bán
mái lợp, sàn, nền của tầng trệt có sử dụng gạch, xi măng hệ thống khung
cột, dầm sàn có được cải tiến về kết cấu và phương pháp lắp dựng theo kiểu
của người Kinh với mục đích cải thiện về công năng và thẩm mỹ của ngôi
nhà, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy vậy, ngôi nhà sàn của người
Thái vẫn giữ nguyên được dáng vẻ cũng như giá trị văn hóa truyền thống
vốn có của nó.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 18
Khóa luận tốt nghiệp
- Trang phục
Tất cả các ngành, các nhóm địa phương Thái đều có trang phục cơ bản
giống nhau về đường nét tạo dáng đến cách ăn mặc; khác nhau ở chỗ mỗi
ngành, mỗi nơi có một kiểu cách trang trí các chi tiết hoặc chọn màu sắc
khác nhau.
Trong trang phục Thái ở Mường La, đặc sắc hơn cả là trang phục nữ,
vừa đẹp, gọn nhưng không cầu kỳ, vừa làm nổi bật những đường nét của
thân hình phụ nữ. Màu sắc được sử dụng rất khéo. Trên nền đen hay trắng,
áo điểm hàng khuy bạc đơn giản nhưng trạm chổ tinh vi. Nó đã trở thành
niềm tự hào không chỉ của riêng người Thái mà còn là một nét văn hoá rất
đặc sắc trong kho tàng văn hoá vật thể của dân tộc Việt. Về cơ bản trang
phục nữ của dân tộc Thái gồm:
Váy: (xỉu hoặc nôổng): Váy Thái được tạo từ 4 tấm vải khổ 0,4 m, dài
từ ngang thắt lưng tới chấm gót. Phía trên có cạp váy hay đầu váy (hua nịu)
cao khoảng 10 cm bằng vải xanh hoặc đỏ. Gấu váy cũng khâu nẹp, thường
là màu đỏ cao khoảng 3 cm. Váy có lót bên trong, thường là màu trắng,
may ngắn hơn váy ngoài độ 15 cm. Váy phổ biến là màu đen, đôi khi màu
chàm. Khi mặc váy có thể gấp trước bụng hay bên sườn. Ở nhà họ thường
mặc váy để dài, lao động trên ruộng nương thì xắn váy lên theo cách túm
một góc gấu váy nâng ngược lên cài vài cạp váy một cách khéo léo, váy ôm
khép kín từ hai đầu gối trở lên. Ngày nay nhiều phụ nữ Thái có thói quen
mặc váy ngắn ngang bọng chân để tiện dụng khi lao động, sinh hoạt, nghỉ
am giới ngắn, xẻ ngực cài bằng nút vải (thắt nút), có hai túi dưới và túi
ngực, đầu chít khăn mỏ rìu.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 20
Khóa luận tốt nghiệp
Mấy chục năm gần đây, nam giới người Thái Mường La mặc Âu phục
khá phổ biến, nhưng phụ nữ vấn gắn bó với bộ áo, váy, khăn cùng lối trang
sức theo truyền thống dân tộc.
Khăn piêu: phụ nữ chưa chồng thì búi tóc thả xuống sau gáy, khi có
chồng búi tóc chổng ngược đỉnh đầu sau đó đầu đội chiếc khăn piêu. Piêu là
một tấm vải bông nhuộm tràm hai đầu có nhiều hoa văn, chỉ màu phối hợp
sặc sỡ. Dân ca Thái có câu:
Em se sợi thành vóc hoa dâu
Em dệt cửi thành gấm vân chéo
Em dệt tơ thành đóa hoa vàng
Người các bản các mường muốn khóc
Đều ước ao được em thêu khăn
Khăn piêu có tác dụng che đầu khi nắng gió, làm ấm đầu khi mùa đông
giá lạnh. Khăn piêu không những là vật trang sức quan trọng trong lúc đi
chơi hay trong lễ hội mà còn là tín vật của tình yêu: khi người con gái tặng
piêu cho người yêu là đã trao cả tấm tình.
Xà cạp (pe păn kha) là miếng vải như cờ đuôi nheo nhuộm chàm. Phụ
nữ Thái quấn xà cạp quanh bắp chân khi đi làm đồng, vừa để chống giá
lạnh vừa để bảo vệ da ở bắp chân.
Trang sức của phụ nữ Thái có: trâm cài tóc (may khắt cẩu), đôi hoa tai
(cóng ku), vòng cổ (pok cô), đôi vòng đeo hai cổ tay (pok khẻn), bộ xà tích
(pua sỏoi) đều được làm bằng bạc, chạm trổ đẹp, công phu. Đó là những đồ
trang sức quý giá nhất.
- Ẩm thực
Lương thực chính của người Thái ở Mường La là gạo nếp. Người Thái
có cách nấu xôi (đồ xôi) rất là ngon. Trước khi nấu, gạo nếp được đem
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 22
Khóa luận tốt nghiệp
Về phương thức sản xuất, kinh tế-văn hóa xã hội người Thái ở Mường
La đã phát triển đến trình độ phát triển chung của cộng đồng cùng ngữ hệ.
Họ đã khai phá và canh tác trên vùng đất mà hiện nay họ đang cư trú, lập
nên Bản nên Mường của mình trên cơ sở nên kinh tế nông nghiệp lúa nước
kết hợp với nương rẫy. Ruộng của họ đều là ruộng công của Mường. Tùy
theo chức vị của các thành viên trong Mường mà họ nhận được một số
ruộng để canh tác và có nghĩa vụ đóng góp nông sản cho Chảu Mường
(Chủ Mường).
Theo nhiều tài liệu còn lưu lại ở Mường La cũng giống như các
Mường khác mỗi Mường có "Án Nha" (Chúa Mường) đứng đầu và cai
quản chung, dưới Chảu Mường là các Phìa, Tạo đứng đầu và cai quản các
các mường phìa và Bản Xã hội Thái chia làm hai tầng lớp chính: tầng lớp
trên là quan lại và quý tộc, tầng lớp dưới là dân.
- Quan hệ dòng họ gia đình
Trong một mường, một bản của người Thái có nhiều dòng họ cùng cư
trú. Có dòng họ quý tộc như Cầm, Bạc, Sa, Đèo… có dòng họ dân gốc Thái
như Lò, Lộc, Lự, Cà… Quan hệ dòng họ của người Thái được biểu hiện ở
hai khía cạnh:
Khía cạnh tô tem giáo: Tức những dòng họ gốc Thái thường có một
hèm liên quan đến một sinh vật, một vật vô tri hay một hành động trùng tên
với dòng họ. Ví dụ: họ Lò không ăn thịt chim táng Lò, không ăn măng lò;
Họ Quàng kiêng giết, ăn thịt hổ; họ Cà kiêng giết, ăn chim cốt ca (bìm bịp)
… …
Khía cạnh quan hệ dòng họ liên minh biểu hiện ra:
Quan hệ Ải nọng là anh em cùng dòng họ, có "ải nọng huôm po" (anh
em cùng cha), "ải nọng huôm pú" (anh em cùng ông), "ải nọng huôm pẩu"
(anh em cùng cụ)
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 23
xin phép sự đồng ý của gia đình.
Trong cưới xin của người Thái, có nhiều điều thú vị và trải qua các trình tự:
Ôm chóm (đánh tiếng), mai (đặt dấu), vay (ăn hỏi), duông vịa (thử thách
rể), cáo, xống khươi (cưới, tiễn rể), xú phả (nhập phòng), paư máư dam
hươn (dâu mới đến thăm nhà chồng), cưới đong(cưới xin dâu về nhà
chồng), tỏn pạư (đón dâu về nhà chồng).
- Sinh đẻ và nuôi dạy con cái
Sinh đẻ và nuôi dạy con cái là bổn phận tự nhiên của con người. Bất cứ
ai, dân tộc nào cũng đều chú trọng đến tập quán này. Nhưng mỗi dân tộc sẽ
có cách thức sinh đẻ và nuôi dạy con cái khác nhau. Với người Thái ở
Mường La khi biết con dâu có thai, cả gia đình có trách nhiệm và tìm mọi
cách để cho người có thai mạnh khỏe và thoải mái nhất. Việc tiếp theo là
người có thai phải ăn kiêng một số thức ăn nhất là thịt, cá và một số việc
làm có thể gây hại cho mẹ và cái thai trong bụng.
Người Thái có tập quán đẻ ngồi ngay cạnh bếp lửa, lúc này người
chồng không được rời vợ một bước. Người chồng phải ngồi sau lưng bà vợ
để vừa làm chỗ tựa vừa cùng chia sẻ sự đau đớn của người vợ lúc vượt cạn.
Đây là một tập quán đầy tính nhân văn của người Thái.
Người Thái rất chú ý đến việc dạy dỗ con cái và việc dạy dỗ cũng được
thực hiện theo một quan niệm rất nhân văn và rất cụ thể. Đồng bào có câu:
“Tặp lục tặp kẻn ta
Tặp ma tặp mậy cậy”
Dịch:
“Đánh con đánh bằng mắt
Đánh chó đánh bằng gậy”
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 25