Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ MINH HẢI
VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƢỜI THÁI
Ở HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
LỊCH SỬ VIỆT NAM
THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA
CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54
Người hướng dẫn khoa học
PGS – TS NGUYỄN CẢNH MINH
THÁI NGUYÊN 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
MỤC LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
2.1.1.1. Phi khuôn 30
2.1.1.2. Phi Mƣờng, Phi Bản 32
2.1.1.3. Phi hƣơn 33
2.1.1.4. Phi Pá Heo 35
2.1.1.5. Phi Pá 36
2.1.2. Quan niệm về Then và tín ngƣỡng “Phi Then” 37
2.1.3. Tục thờ cúng 40
2.1.3.1. Thờ cúng trời đất, mƣờng bản 41
2.1.3.2. Thờ cúng tổ tiên 43
2.2. Phong tục, tập quán 44
2.2.1. Hôn nhân 44
2.2.1.1. Giai đoạn tìm hiểu 45
2.2.1.2. Giai đoạn cƣới xin 46
2.2.2. Gia đình 53
2.2.3. Tang ma 57
2.3. Luật tục 64
2.3.1. Luật tục Thái 64
2.3.2. Nội dung của luật tục Thái Thuận Châu 66
2.3.3. Giá trị của luật tục Thái 68
2.4. Lễ hội 69
2.4.1. Lễ tết Nguyên đán 69
2.4.2. Lễ hội “Muôn lảu nó” 71
2.4.3. Lễ hội lên nhà mới 73
2.4.4. Lễ hội ném Còn 75
2.4.5. Lễ hội cầu mƣa ("Xên Xó Phốn") 77
2.4.6. Hạn Khuống 79
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Tiểu kết chƣơng 3 124
KẾT LUẬN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, xu thế hòa hợp
dân tộc luôn gắn liền với sự giao lưu về kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc, xu
thế này diễn ra liên tục, thường xuyên đã tạo điều kiện hình thành nên một nền
văn hóa đa dạng, phong phú, nhiều tính cách trong một thể thống nhất. Mỗi
dân tộc với bản sắc văn hóa độc đáo của mình đã góp phần tạo nên một nền
văn hóa Việt Nam đa dạng như một vườn hoa nhiều hương sắc. Trải qua
những thăng trầm của lịch sử, cho dù phong kiến ngoại bang hay đế quốc tìm
cách chia rẽ các dân tộc, nhưng các dân tộc vẫn giữ vững được truyền thống
đoàn kết và giữ gìn những giá trị văn hóa của dân tộc mình, đồng thời vẫn
giao lưu và tiếp thu những giá trị văn hóa của các dân tộc khác.
Việc nghiên cứu văn hóa các dân tộc nói chung và văn hóa của người
Thái nói riêng đang là vấn đề đặt ra không chỉ trong nhận thức về tầm quan
trọng của di sản văn hóa dân tộc, mà còn là đòi hỏi cấp bách của chiến lược
đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
hiện nay. Phải nghiên cứu một cách cụ thể, khoa học toàn bộ các mặt của đời
sống từng dân tộc, nắm vững đặc điểm từng dân tộc để đánh giá đúng di sản
văn hóa truyền thống từng dân tộc, lấy đó làm xuất phát điểm để đi lên công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghiên cứu về dân tộc Thái ở nước ta trước hết là để
đáp ứng yêu cầu đó.
Huyện Thuận Châu – tỉnh Sơn La là nơi cư trú của hơn 10 dân tộc, trong
đó dân tộc Thái chiếm tới 74% dân số và là một trong những dân tộc định cư
sớm nhất ở vùng này. Lịch sử phát triển của huyện gắn liền với lịch sử phát
triển của dân tộc Thái. Do đó muốn tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển
của huyện Thuận Châu phải tìm hiểu dân tộc Thái, muốn tìm hiểu dân tộc
Thái ở đây không thể bỏ qua lĩnh vực văn hóa tinh thần. Việc nghiên cứu, tìm
hiểu đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở huyện Thuận Châu tỉnh Sơn
11
tinh thần phong phú, đậm đà bản sắc của dân tộc Thái ở Thuận Châu nói
riêng, ở nước ta nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy vốn văn hóa của các dân tộc, trong đó
có dân tộc Thái trong những năm qua đã thu hút được sự quan tâm chú ý của
nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về người Thái nói chung đã có một số
công trình, tác phẩm có giá trị như:
+ Tác phẩm “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở
Việt Nam” của Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1968, có đề cập tới lịch sử hình thành, phát triển của dân tộc Thái ở Việt Nam
nói chung.
+ Tác phẩm “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, tác giả Cầm Trọng, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, là tác phẩm viết khá đầy đủ về đời sống vật
chất và tinh thần của dân tộc Thái, đặc biệt là khu vực Tây Bắc, nơi họ sinh
sống và tập trung đông nhất.
+ Tác phẩm “Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Việt
Nam”, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1990, tập hợp những bài phát biểu,
những báo cáo tham luận của một số nhà lãnh đạo, các chuyên gia, những nhà
văn hóa trong và ngoài nước tại Hội nghị quốc tế về văn hóa của các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam. Trong đó có một số bài viết về văn hóa Thái.
+ Tác phẩm “Sơ lược truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Việt
Nam” của Vũ Ngọc Khánh, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1995, đề cập về truyền
thống văn hóa của các dân tộc thiểu số, có phần giới thiệu về văn hóa Thái nói
chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Châu (Sơn La). Luận văn này nhằm góp phần bổ sung cho sự khiếm khuyết
đó.
3. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Nguồn tƣ liệu
Đề hoàn thành luận văn này, tôi đã cố gắng sưu tầm, tập hợp tư liệu từ
nhiều nguồn khác nhau, bao gồm:
+ Nguồn tư liệu thành văn gồm:
Các tác phẩm, các sách chuyên khảo: Đó là các tác phẩm viết về dân tộc
Thái như “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, tác giả Cầm Trọng, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1978; Tác phẩm “Văn hóa Thái Việt Nam” của Cầm
Trọng, Phan Hữu Dật, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1995; Tác phẩm “Luật
tục Thái ở Việt Nam” của Cầm Trọng, Ngô Đức Thịnh, Nxb Văn hóa dân tộc,
Hà Nội, 1999; Tác phẩm “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Các tác phẩm về Sơn La, về Thuận Châu
như “Vài nét về người Thái ở Sơn La” của tác giả Vi Trọng Liên, Nxb Văn
hóa dân tộc, Hà Nội, 2002. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, Lịch sử Đảng bộ
huyện Thuận Châu, Một số luận văn, đề tài nghiên cứu cấp cơ sở về phong
tục, tập quán của người Thái ở Sơn La.
+ Nguồn tư liệu địa phương:
Đây là nguồn tư liệu chủ yếu thông qua những đợt điền dã về các xã, bản
vùng cao. Luận văn có sử dụng một số bản chữ Thái cổ bao gồm một số
truyện thơ, tục ngữ, ca dao, truyện cổ Thái còn lại. Nội dung khai thác được ở
nguồn tư liệu này là phong tục tập quán, đời sống tâm linh của người Thái.
+ Nguồn tư liệu hiện vật:
Nhà sàn Thái, trang phục, các đồ cúng lễ vv
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
sử văn hóa của người Thái, biên soạn bài giảng lịch sử ở địa phương.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục,
nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chƣơng I: Khái quát về huyện Thuận Châu (Sơn La).
Chƣơng II: Văn hóa tinh thần của ngƣời Thái ở huyện Thuận Châu.
Chƣơng III: Những biến đổi trong đời sống văn tinh thần của ngƣời
Thái ở huyện Thuận Châu (Sơn La).
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THUẬN CHÂU (SƠN LA)
1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Huyện Thuận Châu nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Sơn La, nằm dọc trên
đường quốc lộ 6 (Hà Nội - Hoà Bình - Sơn La- Điện Biên), cách Thành phố
Sơn La 34 Km, cách huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên 52 Km. Toạ độ địa lý:
21o12’ đến 21o 41’ vĩ độ bắc, 103o 20’đến 103o 59’ kinh độ đông.
Phía Đông giáp huyện Mường La và Thành phố Sơn La tỉnh Sơn La.
Phía Tây giáp huyện Điện Biên Đông, huyện Mường Ảng và huyện Tuần
Giáo tỉnh Điện Biên. Phía Nam giáp huyện Mai Sơn và huyện Sông Mã tỉnh
Sơn La. Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Nhai và huyện Mường La tỉnh Sơn La.
Địa hình Thuận Châu bị chia cắt, cao và dốc, có đỉnh núi Copia cao
1.817 m, trên địa bàn có 2 con sông Đà, Nậm Mu chảy qua, có nhiều dãy núi
đá vôi nối tiếp trung điệp, nhiều dãy núi cao, vách dựng đứng có hang động.
Những dãy núi dất xen kẽ các thung lũng, đồng ruộng, khe suối, đất đai tương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
đối màu mỡ tạo ra các tiểu vùng thích hợp với nhiều loại hình sản xuất nông -
Sơn La).
Năm 1479, Sơn La được sáp nhập vào Đại Việt thời vua Lê Thánh Tông,
thuộc xứ Hưng Hóa.
Dưới thời Pháp thuộc, có một thời gian Thuận Châu bị đặt dưới chế độ
quân quản.
Ngày 24/5/1886, châu Sơn La được thành lập, thuộc phủ Gia Hưng, tỉnh
Hưng Hoá.
Năm 1895, Thuận Châu thuộc tỉnh Vạn Bú (được tách từ tỉnh Hưng Hoá)
Năm 1904, tỉnh Vạn Bú đổi thành tỉnh Sơn La.
Từ năm 1948-1953, Thuận Châu thuộc Liên khu Việt Bắc.
Từ năm 1953-1955, Thuận Châu thuộc khu Tây Bắc.
Đến năm 1955, thành lập khu Tự trị Thái - Mèo, bỏ cấp tỉnh, Thuận Châu
trực thuộc khu Tự trị.
Ngày 27/12/1962, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II đã ra Nghị quyết đổi
tên khu Tự trị Thái - Mèo thành khu tự trị Tây Bắc, lập lại 2 tỉnh Sơn La, Lai
Châu và thành lập tỉnh Nghĩa Lộ; huyện Thuận Châu thuộc tỉnh Sơn La.
Sau khi khu tự trị Tây Bắc giải thể, Thuận Châu là huyện thuộc tỉnh Sơn
La. Đến năm 2003 toàn huyện có 34 xã và 1 thị trấn, huyện lỵ đặt tại Thị trấn
Thuận Châu. Thực hiện Nghị quyết số 43/2002/NQ - HĐND ngày 11/1/2002
của Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La khoá XI - kỳ họp thứ 5, về xây dựng
phương án điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện, xã của tỉnh do ảnh
hưởng di dân tái định cư xây dựng nhà máy Thuỷ Điện Sơn La đã điều chỉnh
chuyển 6 xã thuộc huyện Thuận Châu sáp nhập vào huyện Quỳnh Nhai. Hiện
nay huyện Thuận Châu 29 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn
Thuận Châu (huyện lỵ) và 28 xã: Phổng Lái, Thôm Mòn, Bon Phặng, Mường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Khiêng, Bản Lầm, Noong Lay, Co Tòng, Liệp Tè, Muổi Nọi, Bó Mười, Púng
lòng chảo”. [65;55]
Giống lúa nước của người Thái canh tác trước đây chủ yếu là lúa nếp.
Việc trồng lúa tẻ chỉ phổ biến từ 1954 đến nay. Thời vụ sản xuất nông nghiệp
thường bắt đầu từ tháng 5, 6 (tháng 11,12 theo lịch Thái) với quy trình: tháng
5, 6 cày bừa, gieo mạ, tháng 7, 8 cấy xong, tháng 9, 10, 11 thu hoạch lúa.
Công cụ sản xuất nông nghiệp ruộng nước của người Thái Thuận Châu
cũng giống như các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở các nơi khác. Họ
sớm biết chế tác và sử dụng một số công cụ như: cày, cuốc, hái, liềm, mai
chiếc cày là công cụ không thể trong công việc đồng áng, tiếng Thái gọi là
“Thay”, được làm bằng gỗ, lưỡi sắt. Hình ảnh chiếc cày đối với dân tộc Thái
không chỉ thân quen trong lao động sản xuất, mà còn chiếm lĩnh một phần
quan trọng trong đời sống tâm linh của họ. Sau vụ cày cấy, người ta thường
dựa cày vào bên vách gian cúng tổ tiên. Trong lễ khai trương nhà mới, có nghi
lễ chủ gia đình cầm bắp cày đẩy đi, đẩy lại ba vòng trên gian Hoóng tượng
trưng cho việc cày ruộng, nhằm biểu đạt sự thỉnh cầu làm ăn phát đạt.
Người Thái rất giỏi và có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng nguồn
nước tưới tiêu cho đồng ruộng và sinh hoạt bằng các loại cọn, guồng nước, hệ
thống mương, phai, lai
Người Thái ở Thuận Châu cũng phát rừng làm nương rẫy, trồng lúa cạn
và các loại hoa màu khác, phổ biến là ngô, khoai, sắn, các loại rau đậu, bầu
bí Do điều kiện đất đai, tập tục, nên trong sản xuất kinh tế nông nghiệp,
ruộng nước vẫn mang tính chất quyết định, nhằm giải quyết vấn đề lương
thực. Kinh tế nông nghiệp nương rẫy chiếm vị trí thứ yếu, chỉ mang tính chất
hỗ trợ cho kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước. Ý thức về tầm quan trọng của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
ruộng nước đối với người Thái khá rõ ràng, thể hiện qua câu ngạn ngữ:
“Nương hút tầm mắt không bằng ruộng một thửa”. [5;25]
dê, lợn, gà, vịt, ngan. Đa số các loại gia súc được nuôi theo hình thức thả rông,
ngoài ra còn có dê, lợn, gà, vịt, ngan được nuôi để lấy thịt và trứng.
Cá được thả trong ruộng kết hợp với trồng lúa, cá ăn sâu bọ và sục bùn
giúp cho lúa tốt, khi lúa chín tháo nước ruộng để bắt cá. Những bản người
Thái ở ven sông, suối còn biết đánh bắt cá bằng chài, lưới đan bằng sợi gai,
bắt bằng tay, chém cá ngủ vào ban đêm, hay ruốc cá bằng các loại lá độc, lá
đắng như than mat, cây cơi.
Trong mỗi gia đình người Thái ở Thuận Châu đều có những nghề phụ
phục vụ cho canh tác và sinh hoạt như rèn, đan lát, dệt vải không thấy xuất
hiện nghề gốm. Rừng ở đây có nhiều tre, nứa, giang, song Từ nguồn nguyên
liệu tự nhiên sẵn có này, người Thái ở đây đã tạo ra các sản phẩm như gùi đi
nương, ghế ngồi, ếp, các đồ đựng trong gia đình
Rèn công cụ là nghề có từ lâu trong xã hội cổ truyền Thái. Khi các dân
tộc ở Đông Nam Á bước vào thời kỳ đồ đồng, đồ sắt, thì người Thái cũng biết
sử dụng và rèn kim khí, thời gian chênh lệch không đáng kể. Người Thái trao
đổi sắt với dân tộc Kinh, Hoa. Kĩ thuật rèn sắt của người Thái còn kém, họ
chưa có kĩ thuật nấu, đúc, khoan, mà chỉ biết rèn, gò ở trình độ thô sơ, không
lấy gì làm đặc sắc lắm. [65;98]
Một số người đã biết chế tạo súng kíp, làm mỹ nghệ, chế tác các loại cúc
bướm, xà tích, vòng tay, hoa tai. Công việc này cũng chỉ tập trung ở một vài
bản với số thợ ít ỏi.
So với các dân tộc khác cùng cư trú trên địa bàn, dân tộc Thái là dân tộc
có nghề dệt phát triển nhất. Họ trồng bồng và cây chàm để phục vụ cho việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
nhuộm sợi và dệt vải. Hiện nay mặc dù vải vóc được bán trên thị trường nhiều,
song đồng bào Thái vẫn duy trì nghề dệt. Ngoài việc dệt vải, họ còn dệt thổ
cẩm, khăn Piêu, túi xách
thành Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc. Đến năm 2001, trên cơ sở Trường
Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc, Chính phủ ra quyết định thành lập Trường Đại
học Tây Bắc. Năm học 2007 – 2008, trường đã chuyển về Sơn La, chỉ còn một
số ngành đào tạo tại Thuận Châu.
Hiện nay hầu hầu hết các xã đều có trường phổ thông cơ sở và trường
tiểu học, số học sinh phổ thông tăng gấp nhiều lần, trình độ dân trí của đồng
bào cũng được nâng cao.
Cũng như dân tộc Thái nói chung, người Thái ở Thuận Châu có nền văn
học dân gian phong phú (câu đố, tục ngữ, truyện thơ, các làn điệu dân ca), có
các lễ hội, các loại hình nghệ thuật dân gian phong phú như ném còn, Hạn
Khuống, các điệu xòe
Về tín ngưỡng, tôn giáo, người Thái ở Thuận Châu hầu như không chịu
ảnh hưởng hay theo một tôn giáo nào. Tín ngưỡng của họ là tín ngưỡng đa
thần, vạn vật hữu linh. Hệ thống tín ngưỡng này vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
Thuận Châu là địa bàn sinh sống của các dân tộc: Thái (74,05%),
H’Mông (11,16%), Kinh (9,32%), Kháng (2,57%) và các dân tộc khác
(2,94%).
Xã hội của người Thái trước Cách mạng tháng Tám 1945 thuộc “thời kỳ
đầu của chế độ phonh kiến” [53;25]. Khi thực dân Pháp đô hộ, cùng với cả
nước, Tây Bắc mang thêm ách thuộc địa, và người Thái ở Thuận Châu cũng
không nằm ngoài quy luật đó.
Người Thái trước năm 1945 sống trong những Mường có tính chất như
những lãnh địa phong kiến. Mỗi mường có một mường trung tâm gọi là
“Chiềng” hay “Mường phìa trong” và các mường xung quanh gọi là “Mường
phìa ngoài”, là đơn vị hành chính ngang cấp, song Mường phìa trong bao giờ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
cũng là hàng thứ nhất, các Mường phìa ngoài ở hàng thứ hai. Mường phìa lớn
cho mượn mà sinh sống. Chúa đất coi họ là một thứ của cải riêng, có thể bán
họ hoặc chia họ cùng với ruộng đất cho các chức dịch hay họ hàng của chúa.
Tuy vậy họ được phép có nhà riêng, có công cụ sản xuất, tài sản riêng và có
quyền được chuộc mình bằng tiền hay sản phẩm để trở thàng nông dân tự do.
Người nhà (Côn hươn): hoàn toàn phụ thuộc vào chúa, sống ngay trong
nhà chúa (nên mới gọi là người nhà), phải làm bất kỳ việc gì mà chúa sai bảo.
Chúa có quyền bán, giết, bắt lấy vợ, lấy chồng theo ý chúa. Họ không được
công nhận là thành viên và cũng không được tham gia vào các công việc
chung của bản, mường.
Trong xã hội của người Thái cổ truyền, chúa đất (Chảu mường, Pú chải,
Á nha) cai quản, gọi mường là Hàng Châu, có ranhg giới nhất định, được triều
đình công nhận, có bộ máy cai trị, có luật lệ và các nghi thức tôn giáo riêng.
Chảu mường là người đại diện cho quyền lực của một dòng họ quý tộc trong
mường, đại diện cho nhà vua điều khiển và quyết định mọi hoạt động của
châu mường theo luật định. Chảu mường còn kiêm chức “Thổ tù” tượng tưng
cho linh hồn toàn mường để giao tiếp với trời đất, quỷ thần, tổ tiên để giữ cho
bản mường được yên vui. Như vậy vương quyền kết hợp chặt chẽ với thần
quyền, Chảu mường phải là người thuộc dòng dõi quý tộc làm thủ lĩnh, được
tập toàn quý tộc trong mường coi là bậc cha anh. Chảu mường là tộc trưởng
và cũng là người nắm tộc quyền, được quyền chỉ định các chức dịch, tập hợp
bô lão trong toàn mường. [5;28]
1.5. Khái quát về ngƣời Thái ở huyện Thuận Châu
1.5.1. Nguồn gốc, tên gọi và lịch sử cƣ trú của ngƣời Thái ở Thuận Châu
1.5.1.1. Nguồn gốc