1
LỜI MỞ ĐẦU
Ai cũng biết rác là chất thải, là thứ bỏ đi. Nhưng không phải ai cũng biết
rác thải ngày càng nhiều và là hiểm họa đối với con người và nguy hại gây
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hiện nay rác thải đang là một hiện trạng
đáng lo ngại ở Việt Nam. Cùng với sự phát triển kinh tế, gia tăng dân số
cộng với sự lãng phí tài nguyên trong thói quen sinh hoạt của con người, số
lượng rác thải đang tăng lên một cách chóng mặt. Điều đó dẫn đến việc thu
gom, vận chuyển và xử lý chúng đang trở thành vấn đề nan giải đối với
nhiều địa phương trong cả nước. Xuất phát từ những thực tế trên, nhóm em
quyết định làm đề tài “Phân loại và xử lý rác thải gia đình”, với mục đích
tuyên truyền đến các hộ gia đình nói riêng cũng như mọi người nói chung
về một số biện pháp xử lý rác thải hiệu quả, cũng như ý thức luôn luôn bảo
vệ môi trường. 2
CHƢƠNG I: Ý TƢỞNG
Quận 8
97.209
Quận 9
50.980
Quận 10
127.834
Quận 11
148.699
Quận 12
15.071
Quận Bình Thạnh
95.548
Quận Gò Vấp
93.057
Quận Phú Nhuận
91.342
Quận Tân Bình
144.851
Quận Tân Phú
Mới thành lập
Quận Thủ Đức
75.172
Quận Bình Tân
Mới thành lập
Huyện BìnhChánh
40.801
Huyện Củ Chi
20.505
Huyện Cần Giờ
5.840
thử nghiệm và áp dụng mô hình nuôi trùn tại nhà, cũng như thực hiện việc
phân loại rác thải một cách hợp lý. Đồng thời nhóm muốn giúp mọi người
nhận thức được ưu điểm của mô hình này. Từ đó nhân rộng mô hình cho
từng hộ gia đình, nhằm giải quyết vần đề rác thải gia đình hiện nay.
5
CHƢƠNG 2: HÀNH ĐỘNG
1. Tổng hợp thông tin
1.1. Thành phần rác thải trong gia đình
- Rác vô cơ (rác khô): gồm các loại phế thải thuỷ tinh, sành sứ, kim
loại, giấy, cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, cát sỏi
Hình 1: Thành phần rác vô cơ
- Rác hữu cơ (rác ướt): là những sản phẩm mà gia đình thải ra như
rau, củ, quả, vỏ trái cây, thức ăn thừa, cơm…
6 Hình 2: Thành phần rác hữu cơ
1.2. Lợi ích của việc phân loại rác
a. Lợi ích kinh tế:
2
, NH
3
…. Khí CH
4
có khả năng tác động ảnh hưởng
đến tầng ôzôn cao gấp 21 lần so với CO
2
. Việc giảm chôn lấp chất thải rắn
có thể phân hủy kéo theo việc giảm lượng khí làm ảnh hưởng đến tầng
ôzôn.
Việc tận dụng các chất thải rắn có thể tái sinh tái chế giúp bảo tồn nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Thay vì khai thác tài nguyên để sử dụng, chúng ta có
thể sử dụng các sản phẩm tái sinh tái chế này như một nguồn nguyên liệu
thứ cấp. Chẳng hạn, chúng ta có thể sử dụng lượng nhôm có trong chất thải
rắn sinh hoạt thay vì khai thác quặng nhôm. Nhờ đó, chúng ta vừa bảo tồn
được nguồn tài nguyên, vừa tránh được tình trạng ô nhiễm do việc khai
thác quặng nhôm mang lại.
c. Lợi ích xã hội:
Phân loại chất thải rắn tại nguồn góp phần nâng cao nhận thức của cộng
đồng trong việc bảo vệ môi trường. Để công tác phân loại này đạt được
8
hiệu quả như mong đợi, các ngành các cấp phải triệt để thực hiện công tác
tuyên truyền hướng dẫn cho cộng đồng. Lâu dần, mỗi người dân sẽ hiểu
được tầm quan trọng của việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt cũng như tác
động của nó đối với môi trường sống.
Lợi ích xã hội lớn nhất do hoạt động phân loại chất thải rắn tại nguồn mang
lại chính là việc hình thành ở mỗi cá nhân nhận thức bảo vệ môi trường
sống.
đó là địa bàn phường Nguyễn Du quận Hai Bà Trưng và phường Phan Chu
Trinh quận Hoàn Kiếm.
- Ở Mỹ, mỗi nhà dân có 3 thùng rác, thùng màu xanh lá cây đựng rác
dễ phân hủy, thùng màu nâu đựng bọc ni lông và các loại rác khó phân hủy,
thùng màu xám chỉ để đưng giấy, vì giấy sau đó sẽ được tái chế lại, còn
chai lọ và lon kim loại như lon bia, lon nước ngọt sẽ được thu gom vào bọc
đựng riêng. Nếu nhà nào không thực hiện tốt việc phân loại rác thì người
thu gom sẽ nhắc nhở hoặc sẽ bị gữi giấy phạt tiền.
- Tại Nhật Bản, rác thải sinh hoạt được chia thành 6 loại: rác đốt được
(thực phẩm, vải sợi, da giày, giấy vụn, lá vụn, cỏ…), rác không đốt được
(sản phẩm điện loại nhỏ, thủy tinh vỡ, đồ gốm…), rác thải nhựa, chai lọ,
lon kim loại (lon đựng đồ uống, bình gas mini…) và rác thải cỡ lớn (chăn,
nệm, bàn, ghế, tủ, giường, xe đạp…). Các loại rác thải này được thu gom
riêng theo từng loại và có các cách xử lý khác nhau.
- Tại Philippines, một nước có mức phát triển tương đương Việt Nam,
việc bảo vệ môi trường và ý thức của người dân cũng rất cao. Các điểm đổ
rác ở cửa hàng, quán ăn hay trụ sở, văn phòng công ty đều được bố trí 3
thùng rác với màu sắc khác nhau để phân loại rác. Chỉ cần nhìn vào màu
sắc là người vứt rác có thể phân biệt được nên bỏ rác vào thùng nào.
1.5. Cách xử lý
a. Rác vô cơ
Bán phế liệu
Ta có thể sử dụng làm các vật dụng nuôi trùn hoặc làm vật dụng
chứa đất để trồng cây cảnh, trồng rau sạch sử dụng trong gia đình
b. Rác hữu cơ
11
Sử dụng phương pháp ủ :
Ta gom chúng vào xô nhựa có dung lượng từ 15 đến 120 lít, tùy mức độ
thải rác của mỗi gia đình. Cho chế phẩm sinh học có tác dụng kích hoạt
pheromone ức chế sự sinh sản của ruồi nhà, góp phần giảm sự phát triển
của quần thể ruồi nhà.
Nhƣợc điểm: phải tạo ra được nguồn nguyên liệu là kén ruồi. Nhiều người
không thiện cảm với loài ruồi… [3]
Sử dụng rác hữu cơ để nuôi trùn :
Chất thải hữu cơ ta cho vào thùng, sau đó thả trùn vào nuôi.
Một thùng giun (cao 61cm, dài 51cm và rộng 30.5cm) có thể xử lý khoảng
2.25kg rác trong một tuần. Quản lý một thùng giun tương đối đơn giản.
Thùng thoáng khí với độ ẩm và nhiệt độ thích hợp, có lớp lót bên dưới là
báo, lá khô hoặc rơm, một lượng đất nhỏ và có lẽ là 0.5kg giun đỏ. Vi
khuẩn và các sinh vật khác phân huỷ thức ăn thừa. Sau đó, giun bắt đầu làm
việc, ăn mọi thứ trên đường đi - chất thải, sinh vật và lớp nền. Sau đó, giun
tiết ra một chất mùn màu tối, giống như đất.
Ƣu điểm: có thể áp dụng cho tất cả mọi người từ sinh viên đến người nội
trợ để xử lý một lượng rác thải hữu cơ mà trong quá trình sinh hoạt thải ra.
Tận dụng được hết tất cả sản phẩm như giun thì bán, cho gà, vịt, chim ăn…
phân giun thì đem trồng cây.
Nhƣợc điểm: có sinh ra mùi chua, nhưng ở cự ly xa thì không nghe hoặc ta
làm thùng có nắp, sau đó đậy nắp lại là hết. [4]
2. Khảo sát nhận thức của hộ gia đình
2.1. Phiếu khảo sát
13
PHIẾU KHẢO SÁT
Nhằm mục đích tìm hiểu sự quan tâm và hiểu biết của mỗi người đối với
rác thải và cách xử lý chúng. Nhóm đã tiến hành đưa ra một số câu hỏi
b. Vứt bỏ
c. Ý kiến khác:
…………………………………………………………………………
7. Theo anh (chị) rác thải sinh hoạt có ích hay không?
a. Chỉ có hại
b. Vừa có ích , vừa có hại
c. Không quan tâm
8. Anh (chị) biết gì về phƣơng pháp nuôi trùng để xử lý rác thải
hữu cơ trong gia đình hay không?
a. Có
b. Không
c. Không quan tâm
9. Nếu có, anh (chị) đƣợc biết về phƣơng pháp đó qua phƣơng tiện
gì?
a. Internet
15
b. Sách báo
c. Bạn bè
d. Ý kiến khác:
………………………………………………………………………
10. Anh (Chị) có ứng dụng phƣơng pháp nuôi trùng xử lý rác thải
hữu cơ tại nhà không?
a. Có áp dụng
b. Không áp dụng
c. Đang quan tâm
11. Anh (chị) có ý kiến gì về tình trạng rác thải hiện nay?
50
15
35
3
70
20
10
4
70
30
0
5
90
10
0
6
60
5
35
7
60
30
10
8
10
80
0
9
10
80
18
30% cho rằng chúng vừa có lợi vừa có hại
10% không quan tâm
Về vấn đề nuôi trùng trong xử lý rác thải hữu cơ trong gia đình:
10% có biết qua internet
80% không biết đến vấn đề này
Về việc ứng dụng vấn đề nuôi trùng để xử lý rác thải hữu cơ trong
gia đình:
80% không ứng dụng
20% đang quan tâm đến vấn đề này
Kết luận chung:
Đây chỉ là kết quả khảo sát, đánh giá sơ bộ nhận thức của người dân về rác
thải sinh hoạt, với một số lượng phiếu khảo sát hạn chế và khu vực khảo sát
mang tính ngẫu nhiên. Tuy kết luận của nhóm đưa ra chỉ mang tính tương
đối, nhưng cũng phần nào đánh giá được ý thức của người dân trong việc
xử lý rác thải - vấn đề nóng bỏng hiện nay.
Với trình độ dân trí nhìn chung tương đối cao như thành phố Hồ Chí Minh
phần lớn hộ gia đình mà nhóm khảo sát đều nhận thức được tác hại của rác
thải hiện nay và đều thực hiện phân loại rác tại nhà. Nhờ có sự quan tâm
của chính quyền địa phương, thường xuyên tuyên truyền và nhắc nhở các
hộ dân nên phần lớn hộ gia đình trong số những gia đình mà nhóm khảo
sát, mỗi nhà đều có hai thùng rác để phân loại hai loại rác vô cơ và hữu cơ.
Với công nghệ truyền tin cao như hiện nay, vấn đề nóng bỏng về môi
trường sống hiện nay đã được phổ biến rộng rãi tới cộng đồng, nhận được
nhiều quan tâm và có nhiều giải pháp để cải thiện cũng như khắc phục.
19
Nhìn chung thì đại bộ phận đã và đang có những suy nghĩ và những hành
động tích cực, văn minh để bảo vệ và cải thiện môi trường sống, nhưng bên
hữu cơ đang phân hủy. Đây là loài giun mắn đẻ, xuất hiện rải rác ở vùng
nhiệt đới, dễ bắt bằng tay, vì vậy rất dễ thu hoạch. Chúng được sử dụng
rộng rãi trong việc xử lý, chuyển hóa chất thải hữu cơ.
Giun Quế có khả năng hấp thu O
2
và thải CO
2
trong môi trường nước, điều
này giúp cho chúng có khả năng sống trong nước nhiều tuần, thậm chí
trong nhiều tháng. Hệ thống bài tiết bao gồm một cặp thận ở mỗi đốt. Các
cơ quan này bảo đảm cho việc bài tiết các chất thải chứa đạm dưới dạng
Amoniac và Ure. Giun Quế nuốt thức ăn bằng môi ở lỗ miệng, lượng thức
ăn mỗi ngày được ghi nhận là tương đương với trọng lượng cơ thể của nó.
[5]
Giun Quế thích nghi với phổ thức ăn khá rộng. Chúng ăn bất kỳ chất thải
hữu cơ nào có thể phân hủy trong tự nhiên (rác đang phân hủy, phân gia
súc, gia cầm…). Tuy nhiên, những thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao,
giúp cho chúng sinh trưởng và sinh sản tốt hơn. [6]
Giun Quế là sinh vật lưỡng tính, sinh sản rất nhanh trong điều kiện khí hậu
nhiệt đới tương đối ổn định và có độ ẩm cao. Khả năng sinh sản này đảm
bảo cho sự duy trì mật độ và khả năng xử lý khá ổn định.
Công nghệ sản xuất phân hữu cơ từ rác với sự tham gia của giun
quế.
Giun có sức tiêu hóa lớn. Tác dụng phân giải hữu cơ của giun chỉ đứng sau
các vi sinh vật. Một tấn giun có thể tiêu hủy được 70 – 80 tấn rác hữu cơ,
hoặc 50 tấn phân gia súc trong một quý. Các nước trên thế giới đã tận dụng
21
cơ năng đặc thù này của giun để xử lý chất thải sinh hoạt hoặc rác thải hữu
cơ, làm sạch môi trường, có hiệu quả tốt.
- Nuôi giun:
Chia hai đợt:
Đợt 1: thử nghiệm (ở nhà bạn Thanh), lượng trùn nuôi là 200g
Mục đích: xác định thời gian, điều kiện môi trường, lượng thức ăn cho vào
và những khó khan gặp phải. Đây là cơ sở cho nuôi trùn ở đợt 2.
Đợt 2: tiến hành tại mỗi gia đình trong nhóm
Số lượng trùn chia theo đầu mỗi người ở từng hộ gia đình.
- Trồng cây
Sử dụng chai lọ, thùng hộp bỏ để trồng cây
Lấy phân trùng để bón
4. Kết quả
4.1. Rác vô cơ
Kết quả thu được sau khi đem bán ve chai
Hộ gia đình
Loại rác thải
Bùi Minh
Dƣơng
(2 thành
viên)
Đặng Hữu
Điện
(4 thành
viên)
Đậu Thị
Kim Hồng
(3 thành
viên)
1,5 kg
Tổng số tiền
( VNĐ)
8 000
24 000
15 500
47 000
34 000
Chú thích:
1 lon giá 250 đồng; 1kg nhựa: 3000 đồng; 1 kg giấy: 3000 đồng. Số liệu
này tổng hợp được trong 1 tháng.
Một số đem đi trồng cây
Hình 5: Cây đƣợc trồng trong chai nƣớc ngọt
24
4.2. Rác hữu cơ
Quá trình thực hiện:
Lần đầu: nuôi thử nghiệm tại nhà của Thanh, lượng trùn mua ban đầu là
khoảng 0.2 kg, mỗi ngày lượng thức ăn vào khoảng 0.5 kg. Với lượng thức
ăn trên thì sau 1 ngày thì chúng phân hủy gần hết. Sau 3 tuần kiểm tra lại số
lượng giun thì thấy khối lượng tăng 0.1 kg.
Do là lần đầu thực hiện, quá trình nuôi gặp nhiều khó khăn:
- Bỏ thức ăn nhiều làm trùn bị chết.
- Thức ăn không được cắt nhỏ khiến giun bị chết nhiều.
- Hộp chứa trùn nhỏ làm trùn bị chết.
- Không được sự hưởng ứng của gia đình vì mùi, mất thẩm mỹ.
Hình 6: Trùn đƣợc nuôi ở lần thử nghiệm
Lần 2: rút được kinh nghiệm lần đầu nhóm tiến hành phân chia lại số