Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––
LA VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CHẤT LƢỢNG CAO
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM Neb-26
KẾT HỢP VỚI ĐẠM TRÊN GIỐNG LÚA ĐS1
TẠI HIÊP HOÀ - BẮC GIANG
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60 62 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG QUÝ NHÂN
THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Tác giả luận văn La Văn Tuấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3. Yêu cầu của đề tài 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4
2.1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.2. Cơ sở thực tiễn 5
2.2. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và việt nam 5
2.2.1. Tình hình sản xuất luá gạo trên thế giới 5
2.2.2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam 7
2.3. Tình hình nghiên lúa trong và ngoài nƣớc 10
2.3.1. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 10
2.3.2. Tình hình nghiên cứu lúa trong nƣớc 14
2.4. Tổng quan về chế phẩm tiết kiệm đạm Neb -26 trong canh tác lúa 19
2.4.1. Hiệ u quả củ a bó n phân truyề n thố ng 19
26 đến động thái tăng trƣởng chiều cao cây 57
4.2.3. Ảnh hƣởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm
Neb-26 đến tốc độ tăng trƣởng chiều cao cây của giống ĐS1 59
4.2.4. Ảnh hƣởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26
đến động thái tăng trƣởng số nhánh của giống lúa ĐS1 60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
v
4.2.5. Ảnh hƣởng của mức đạm bón dạng phân viên nén khi kết
hợp với chế phẩm Neb-226 đến số nhánh hữu hiệu, tỷ lệ
nhánh hữu hiệu của giống lúa ĐS1 63
4.2.6. Ảnh hƣởng của mức đạm bón dạng phân viên nén khi kết hợp với
chế phẩm Neb-26 đến chỉ số SPAD của giống lúa ĐS1 64
4.2.7. Ảnh hƣởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-
26 đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của
giống lúa ĐS1 65
4.2.8. Hiệu quả kinh tế sử dụng chế phẩm Neb-26 kết hợp với phân
đạm của giống lúa ĐS1 67
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
5.1. Kết luận 69
5.2. Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HT1
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam 9
Bảng 3.1. Phân loai, nguồn gốc, đặc điểm canh tác của các giống lúa tham gia
thí nghiệm 30
Bảng 4.1. Đặc điểm sinh trƣởng phát triển của mạ 44
Bảng 4.2. Thời gian sinh trƣởng của các giống lúa thí nghiệm 45
Bảng 4.3. Khả năng đẻ nhánh và chiều cao cây của giống lúa Vụ mùa
năm 2010 48
Bảng 4.4. Một số đặc điểm hình dạng lá của các giống lúa 48
Bảng 4.5. Tình hình sâu, bệnh và khả năng chống đổ của các giống lúa trong
thí nghiệm 50
Bảng 4.6. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa vụ mùa năm 2010 52
Bảng 4.7. Các chỉ tiêu chất lƣợng gạo đánh giá qua xay xát và thƣơng trƣờng 53
Bảng 4.8. Phẩm chất các giống qua nấu nƣớng 54
Bảng 4.9. Chất lƣợng gạo qua phân tích sinh hoá 55
Bảng 4.10. Ảnh hƣởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26
đến thời gian sinh trƣởng của giống lúa ĐS1 (ngày) 56
Bảng 4.11Ảnh hƣởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb- 26
đến tăng trƣởng chiều cao cây của giống lúa ĐS1 (cm) 58
Bảng 4.12 Ảnh hƣởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26
đến tốc độ tăng trƣởng chiều cao cây của giống lúa ĐS1 (cm/tuần) 59
Bảng 4.13 Ảnh hƣởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26
đến động thái tăng trƣởng số nhánh của giống lúa ĐS1 62
Bảng 4.14 Ảnh hƣởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb- 26
đến số nhánh hữu hiệu, tỷ lệ nhánh hữu hiệu của giống lúa ĐS1 63
Bảng 4.15 Ảnh hƣởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb- 26
đến chỉ số SPAD của giống lúa ĐS1 64
Bảng 4.16 Ảnh hƣởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26
đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa ĐS1 65
trôi, bố c hơi và th ấm sâu . Việ c mấ t đạ m ngà y cà ng đƣợ c quan tâm nhiề u
hơn và chú ng không nhƣ̃ ng là m lã ng phí tiề n đầ u tƣ mà cò n là m ô nhiễ m
môi trƣờ ng và gây hiệ u ƣ́ ng nhà kính . Hiệ u quả sƣ̉ dụ ng phân đạ m th ấp
cng làm giảm hiệu quả kinh tế .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
2
Chế phẩ m Neb-26 là loại siêu phân bón thế hệ mới do công ty AGMOR,
Hoa Kỳ sản xuất. Neb- 26 đƣợc nhập khẩu bởi Công ty Cổ phần Xây dựng và
Thƣơng mại Phú Bắc, phân phối bởi Công ty Cổ phần Kỹ thuật nông nghiệp
tỉnh Bắc Giang, Trung tâm nghiên cứu Đất và Phân bón vùng Trung Du . Neb-
26 là loại phân bón hữu cơ có tá c dụ ng tạo điều kiện phát triển các vi sinh vật
có lợi trong đất, cây trồng sử dụng đƣợc nhiều dinh dƣỡng hơn, tăng cƣờng
phát triển bộ rễ, tăng sức đề kháng, giúp cây trồng chống chịu sâu bệnh, tăng
năng suất và chất lƣợng nông sản, tiết kiệm phân bón, giảm đƣợc lƣợng đạm
Urê. Năng suất tăng khoảng từ 10 - 15% so với cách bón thông thƣờng, thân
thiện với môi trƣờng và thân thiện với thực phẩm.
Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu
khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và
hiệu quả sử dụng chế phẩm Neb- 26 kết hợp với đạm trên giống lúa ĐS1 tại
Hiệp Hoà - Bắc Giang".
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định đƣợc 01 giống lúa có năng suất cao , chất lƣợng tốt và hiệu
quả kinh tế cao thích nghi với điều kiện canh tác tại Hiệp Hoà - Bắc Giang,
đồng thời nghiên cứu tỷ lệ đạm bón thích hợp khi kết hợp với chế phẩ m Neb -
26 tƣ̀ đó tìm ra công thức bón t hích hợp nhm giảm lƣợng đạm mà vẫn đảm
bảo năng suất lúa.
1.3. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1 - Đánh giá khả năng sinh trƣởng và phát triển của một số giống lúa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Một trong những tác nhân quan trọng làm tăng năng suất lúa là yếu tố
phân bón. Những giống lúa mới năng suất cao yêu cầu nhiều dinh dƣỡng đặc
biệt là đạm, vì đạm là yếu tố dinh dƣỡng quan trọng nhất. Từ trƣớc tới nay có
rất nhiều nghiên cứu về bón phân cho lúa và các nghiên cứu này đều khẳng
định là hiệu quả sử dụng phân đạm đối với lúa nƣớc không cao, thông thƣờng
hiệu quả sử dụng phân đạm chỉ đạt xấp xỉ 40% [20]. Nguyên nhân của hiệu
quả sử dụng phân bón thấp là do đạm trong đất lúa bị mất đi qua các con
đƣờng sau: Do bốc hơi dƣới dạng NH
3
, do rửa trôi bề mặt khi nƣớc tràn bờ,
do rửa trôi theo chiều sâu nhất là dạng nitrat (NO
3
-
), bay hơi dƣới dạng N
2
do
hiện tƣợng phản nitrat hoá. Do vậy, cần có một biện pháp bón phân hợp lý
nhm làm giảm đáng kể lƣợng đạm bị mất đi, phù hợp với điều kiện kinh tế
và canh tác của nông dân [32]. Bón phân Urê kết hợp chế phẩm Neb đƣợc coi
là một trong những phƣơng pháp bón phân mang lại hiệu quả sử dụng phân
bón cao do hạn chế thất thoát đạm trong canh tác lúa. Phƣơng pháp này đã
đƣợc nhiều tổ chức quốc tế đề nghị áp dụng trên diện rộng ở các nƣớc đang
đạm thất thoát do biến thành amoniac bay vào không khí [61].
Trong những năm gần đây giá cả phân đạm ngày càng tăng cao nên
việc sử dụng chế phẩm tiết kiệm đạm là một giải pháp để hạn chế sử dụng
đạm, qua đó có thể nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.
2.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1. Tnh hnh sản xuất luá go trên th giới
Cây lúa (Oryza sativa L) là một trong những cây lƣơng thực chính với
trên 100 nƣớc sản xuất đảm bảo cung cấp lƣơng thực cho hơn 60% dân số thế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
giới (có khoảng 70% dân số thế giới sử dụng gạo trong bữa ăn hàng ngày). Từ
hàng ngàn năm nay lúa gạo đã đi vào mọi khía cạnh của đời sống xã hội của
các quốc gia trồng lúa. Cho đến nay sản xuất lúa vẫn đƣợc coi là một lĩnh vực
quan trọng nhất trong nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam [25].
Trên thế giới có khoảng trên 100 nƣớc đang trồng lúa thì đa số nm ở
châu Á. Cây lúa gắn bó mật thiết với các quốc gia thuộc Đông Nam Á và
Nam Á, trải rộng từ Pakistan đến Nhật Bản. Trong số 25 nƣớc sản xuất lúa
chính của thế giới có 17 nƣớc nm trong vùng này và 8 nƣớc nm ngoài vùng
[47]. Diện tích lúa của thế giới vào khoảng 150 triệu ha hàng năm (chiếm
11% đất gieo trồng của thế giới) [54].
Trong khi nhu cầu lúa gạo của thế giới liên tục tăng mạnh cả về số
lƣợng cng nhƣ chất lƣợng thì đã có những tín hiệu cho thấy sự giảm sút sản
lƣợng lúa gạo. Giai đoạn 1985 - 1994 sự tăng trƣởng sản xuất lúa gạo chỉ có
1,7%/năm so với 3,2%/năm giai đoạn 1975 - 1985. Thời kỳ 1985 - 1994, việc
tăng trƣởng sản lƣợng lúa gạo ở một số quốc gia Châu Á đã thấp hơn sự tăng
trƣởng dân số. Nhiều quốc gia ở Nam và Đông Nam Á sẽ khó duy trì đƣợc
khả năng tự túc lúa gạo trong vòng 10-20 năm tới. Năng suất lúa thế giới tăng
từ 3,0 - 5,8 tấn/ha thời kỳ 1964 - 1990 ở những nơi chủ động tƣới tiêu. Những
triệu tấn. Năng suất bình quân đạt 13 tạ/ha. Từ năm 1976 đến năm 1994 diện
tích trồng lúa cả nƣớc liên tục tăng, diện tích lúa năm 1994 tăng 123,8% so
với năm 1976, trong khi đó đồng bng Sông Hồng trồng lúa có chiều hƣớng
giảm thì đồng bng sông Cửu Long lại có tốc độ tăng nhanh và đều nhất
(149,6%). Nguyên nhân là do miền Nam mới đƣợc giải phóng và chúng ta bắt
đầu vào thời kỳ đổi mới nên ngƣời dân tiến hành trồng cấy ở nhiều nơi, diện
tích lúa ĐBSH tuy giảm nhƣng tổng diện tích lúa miền Bắc vẫn tăng 105,0%,
và đến năm 2000 diện tích trồng lúa ở hai đồng bng Bắc Bộ và Nam Bộ đã
tăng lên tới 1212,4 nghìn ha và 3936,1 nghìn ha, năng suất đạt đƣợc 42,5 và
42,4 tạ/ha [14].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8
Trong những năm qua, chính phủ đã quan tâm cải tạo cơ sở hạ tầng cho
các công trình thuỷ lợi, diện tích gieo trồng đã mở rộng hơn và hệ số luân
canh tăng theo. Nhiều vùng trƣớc đây chỉ trồng một vụ lúa nay đã trồng đƣợc
2-3 vụ [27]. Sau khi giống lúa IR8 (Nông nghiệp 8) đƣợc nhập nội từ IRRI,
Việt Nam đã mở đầu cuộc cách mạng xanh về cây lúa [14]. Sản lƣợng lƣơng
thực của Việt Nam những năm gần đây tăng bình quân trên 1 triệu tấn/năm.
Từ năm 1989 Việt Nam đã tự túc đƣợc lƣơng thực và duy trì lƣợng gạo xuất
khẩu ngày một tăng. Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu của
Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lƣơng thực. Sản lƣợng lúa
của Việt Nam từ 32,55 triệu tấn năm 2000 đã tăng lên 38,89 triệu tấn năm
2009 [38], bình quân tăng 1,1 triệu tấn/năm, đạt mức tăng trƣởng cao nhất
khu vực và trên thế giới.
Điều đáng chú ý là trong khi diện tích lúa giảm từ 7.666 nghìn ha năm
2000 xuống 7.440 nghìn ha năm 2009, nhƣng sản lƣợng lúa vẫn tăng 6,36
nghìn tấn. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, xu hƣớng đô thị hoá, công
nghiệp hoá đang diễn ra mạnh, dân số liên tục tăng làm cho diện tích đất nông
34,364
2003
7,444
46,6
34,669
2004
7,400
48,0
35,500
2005
7,340
49,5
36,340
2006
7,320
48,9
35,801
2007
7,200
49,1
35,900
2008
7.400
52,3
38,730
2009
7.440
52,3
38,895
Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2011 [38]
Research Institute (IRRI) đã đƣợc thành lập ở Philippin. Viện này đã tập trung
vào lĩnh vực nghiên cứu lai tạo và đƣa ra sản xuất nhiều giống lúa các loại,
tiêu biểu nhƣ các dòng IR, Jasmin [36]. Đặc biệt vào thập niên 80 giống lúa
IR8 đƣợc trồng phổ biến ở Việt Nam đã đƣa năng suất lúa tăng cao đáng kể.
Cuộc " cách mạng xanh " từ giữa thập niên 60 đã có ảnh hƣởng tích cực đến
sản lƣợng lúa của châu Á. Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã đƣợc tạo ra để nâng cao
năng suất và sản lƣợng lúa gạo.
Các nhà nghiên cứu của viện lúa Quốc tế (IRRI) đã nhận thức rng các
giống lúa mới thấp cây, lá đứng tiềm năng năng suất cao cng chỉ có thể có
giải quyết vấn đề lƣơng thực trong phạm vi hạn chế. Hiện nay viện IRRI đang
tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa cao sản (siêu lúa) có thể
đạt 13 tấn/ha/vụ, đồng thời phát huy kết quả chọn tạo 2 giống là IR64 và
Jamin là giống có phẩm chất gạo tốt, đƣợc trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế
giới. Trên cơ sở là một giống lúa chất lƣợng cao viện IRRI đang tập trung vào
nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có hàm lƣợng Vitamin và Prôtêin cao, có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
11
mùi thơm, cơm dẻo ) vừa để giải quyết vấn đề an ninh lƣơng thực, vừa đáp
ứng đƣợc nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nguời tiêu dùng [41].
Nhiều nƣớc ở châu Á có diện tích trồng lúa lớn, có kỹ thuật thâm canh
tiến tiến và có kinh nghiệm dân gian phong phú. Có đến 85% sản lƣợng lúa
trên thế giới phụ thuộc vào 8 nƣớc châu Á, đó là Trung Quốc, Ấn Độ,
Indonêxia, Bangladet, Thái Lan, Việt Nam, Mianma và Nhật Bản [16].
Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất thế giới (trên 1,3 tỷ ngƣời) là
một nƣớc thiếu đói lƣơng thực trầm trọng trong thập niên 60, 70 của thế kỷ
trƣớc, vì vậy công tác nghiên cứu, lai tạo, chọn lọc và ứng dụng các
TBKHKT, nhất là giống lúa mới vào sản xuất. Trong lịch sử phát triển lúa lai
trên thế giới, Trung Quốc là nƣớc sử dụng đầu tiên ƣu thế lai của lúa vào sản
nhất thế giới (1,3 tỷ dân). Các giống lúa lai của Trung Quốc đƣợc tạo ra trong
thời gian gần đây đều có tính ƣu việt hơn hẳn về năng suất, chất lƣợng và khả
năng chống chịu sâu, bệnh. Các giống lúa lai nhƣ Bồi Tạp Sơn Thanh, Nhị Ƣu
838, San Ƣu Quế, SYN6, Thục Hƣng6…Ngày nay Trung Quốc đã hình thành
hệ thống nghiên cứu lúa lai đến tận các tỉnh, đào tạo đội ng cán bộ nghiên cứu
và kỹ thuật viên đông, xây dựng hệ thống sản xuất, kiểm tra, kiểm nghiệm,
khảo nghiệm và chỉ đạo thâm canh lúa lai thƣơng phẩm.
Theo FAOSTAT năm 2011, Ấn Độ là nƣớc có diện tích trồng lúa đứng
đầu thế giới (41.850 nghìn ha), đồng thời Ấn Độ cng là nƣớc đi đầu trong
cuộc "cách mạng xanh" về đƣa các TBKHKT nhất là giống mới vào sản xuất,
làm nâng cao năng suất và sản lƣợng lúa gạo của Ấn Độ. Viện nghiên cứu
giống lúa trung ƣơng của Ấn Độ đƣợc thành lập năm 1946 tại khu Cuttuck
bang Orisa là nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản
xuất. Bên cạnh đó Ấn Độ cng là nƣớc có giống lúa chất lƣợng cao nổi tiếng
trên thế giới nhƣ giống lúa: Basmati, Brimphun có giá trị rất cao trên thị
trƣờng tiêu thụ. Ấn Độ cng là nƣớc nghiên cứu lúa lai khá sớm và đã đạt
đƣợc một số thành công nhất định, một số tổ hợp lai đƣợc sử dụng rộng rãi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
13
nhƣ: IR58025A/IR9716, IR62829A/IR46, PMS8A/IR46, ORI 161, ORI 136,
2RI 158, 3RI 160, 3RI 086, PA- 103 … [42]
Nhật Bản là nƣớc có diện tích trồng lúa ít 1,6 triệu ha nhƣng năng suất
bình quân cao đạt 65 tạ/ha, sản lƣợng đạt 10,4 triệu tấn [66]. Có đƣợc kết quả
đó là do ngƣời Nhật chỉ trồng lúa 1 vụ/ năm, cây lúa đƣợc gieo trồng trong
điều kiện thời tiết thuận lợi nhất, công tác giống lúa của Nhật cng đƣợc đặc
biệt chú trọng về giống chất lƣợng cao vì ngƣời nhật giàu có, nên nhu cầu đòi
hỏi lúa gạo chất lƣợng cao. Để đáp ứng thị hiếu ngƣời tiêu dùng, Nhật bản đã
tập trung vào công tác nghiên cứu giống lúa ở các Viện. Các nhà khoa học
Geo- Wô- Gen (Đài Loan)… đặc biệt giống Đee- Geo- Wo- Gen là một vật
liệu khởi đầu để tạo ra giống lúa IR8 nổi tiếng một thời [48].
Ngoài châu Á, thì ở Mĩ, trong thời gian gần đây các nhà koa học không
chỉ quan tâm đến việc chọn lọc, lai tạo và đƣa ra những giống lúa có năng
suất cao, ƣa thâm canh và ổn định, mà còn nghiên cứu tỷ lệ Prôtêin trong gạo,
phù hợp với thị trƣờng hiện nay.
Ngoài ra, trên thế giới còn rất nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên
cứu các giống lúa nhm mục đích đƣa ra những giống lúa có năng suất cao,
phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, thâm canh.
2.3.2. Tnh hnh nghiên cứu la trong nƣớc
2.3.2.1. Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam
Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, cây lúa luôn gắn
liền với đời sống hàng ngày của dân tộc ta. Vì vậy, có thể nói rng Việt Nam
là cái nôi của nền văn minh lúa nƣớc, sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọng
đối với đời sống của ngƣời dân Việt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của ngƣời dân trong nƣớc mà nó còn góp phần quan trọng vào thị
trƣờng xuất khẩu lúa gạo của thế giới.
Trƣớc năm 1954, ngƣời dân Việt Nam với đức tính cần cù sáng tạo đã
đúc rút đƣợc nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và đã sử dụng các giống lúa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
15
địa phƣơng, tuy năng suất không cao song chất lƣợng tốt, thích ứng với điều
kiện đất đai khí hậu của Việt Nam đồng thời có khả năng chống chịu tốt với
sâu, bệnh. Nhiều giống lúa đƣợc lƣu truyền trong sản xuất từ đời này sang đời
khác nhƣ giống: Chiêm Tép, Chiêm Sài Đƣờng, Chiêm Cút… các giống gieo
cấy vụ mùa nhƣ: lúa Di, lúa Tám Soan, lúa Dự…[22].
Từ sau ngày hoà bình lập lại (1954), miền Bắc nƣớc ta bƣớc vào công
cuộc xây dựng và tái thiết đất nƣớc. Đảng và nhà nƣớc ta đã đặc biệt chú
song một vấn đề đặt ra đó là số lƣợng xuất khẩu nhiều nhƣng giá bán không
cao do chất lƣợng gạo Việt Nam còn kém so với các nƣớc khác nhƣ Thái Lan.
Vì thế chiến lƣợc sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong những năm tới và các
thập niên tiếp theo là: phấn đấu đạt và duy trì sản lƣợng lúa hng năm ở mức
gần 40 triệu tấn/năm nhƣ hiện nay, đồng thời đƣa vào gieo cấy khoảng 1 triệu
ha lúa chất lƣợng cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc và đẩy mạnh
xuất khẩu gạo chất lƣợng cao nhm đem lại hiệu quả kinh tế [59].
Với điều kiện thời tiết, khí hậu địa lí thuận lợi cho việc trồng lúa, Việt
Nam đƣợc coi nhƣ là cái nôi của nền văn minh lúa nƣớc. Phát huy những lợi
thế đó trong những năm qua thực hiện chủ trƣơng đổi mới của Đảng, từ nghị
quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 đến nay nền nông nghiệp nƣớc ta
đƣợc Đảng và nhà nƣớc đặc biệt quan tâm, coi nông nghiệp là mặt trận hàng
đầu và đã đƣợc đầu tƣ đúng mức nên năng suất và sản lƣợng lúa gạo Việt
Nam không ngừng đƣợc nâng cao.
Để có đƣợc một ngành nông nghiệp nhƣ ngày nay, đã có nhiều thế hệ
nhà khoa học đóng góp công sức, trí tuệ để nghiên cứu ra các công trình khoa
học nông nghiệp có giá trị, phục vụ đất nƣớc từ những năm trƣớc giải phóng
cho tới nay. Sau thành công về sản lƣợng lúa chúng ta cần có một cách nhìn
toàn diện hơn về sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong đó vấn đề chất lƣợng
của lúa gạo cần đặc biệt quan tâm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
17
Việt Nam có hàng nghìn giống lúa đƣợc gieo trồng trong cả nƣớc, có
nhiều bộ giống tốt phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau. Một số giống
lúa chất lƣợng cao nhƣ giống Tám Thơm, lúa Dự, Nàng Thơm, Nếp cái Hoa
Vàng, Nếp Cẩm, Nếp Tú Lệ, các giống Nếp Nƣơng, Tẻ Nƣơng…đã đƣợc đƣa
vào cơ cấu gieo cấy ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Chúng ta đã nhập và thuần
hoá nhiều giống lúa tốt từ nƣớc ngoài mà nay đã trở thành các giống lúa đặc