Đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính tại
Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt nam
HÀ NỘI, Tháng 02 - 2009
MỤC LỤC
Bảng 1: Kế hoạch kinh doanh năm 2008 63
Bảng 2: Kết quả kinh doanh qua các năm 65
Em phải có số liệu ít nhất 3 năm, làm tròn đến đơn vị triệu đồng, và ghi rõ có làm
tròn ở cuối bảng 65
Bảng 3: Phân loại nợ tại Hội sở chính và Chi nhánh Hồ Chí Minh 66
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay, thế giới nói chung cũng như Việt
Nam nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn. Nhất là việc gia nhập WTO vào năm 2006
của Việt Nam,khiến tình hình cạnh tranh giữa các công ty với nhau là hết sức khốc liệt.
Để có thể tồn tại và đứng vững trên cái thị trường mở này,các công ty phải không ngừng
đổi mới công nghệ,đổi mới phương thức kinh doanh trong đó đổi mới công nghệ,thiết bị
máy móc là yếu tố quan trọng nhất bởi nó quyết định tới chất lượng sản phẩm nói
riêng,và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doang nói chung.
Thực tế cho thấy, việc đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị ở các doanh nghiệp
sản xuất là một đòi hỏi bức thiết trong bối cảnh hội nhập để nâng cao chất lượng sản
phẩm cũng như năng suất lao động, giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Phần lớn các trang thiết bị của nhiều doanh nghiệp đã lạc hậu từ 2-3 thế hệ so với các
nước tiên tiến. Song muôn thuở nan giải vẫn là câu hỏi: lấy vốn ở đâu? Hiện nay lượng
vốn dài hạn đầu tư cho các dự án này ở các doanh nghiệp Việt nam là hết sức khiêm tốn.
Kênh tài trợ quen thuộc vẫn là đi vay ở các ngân hàng thương mại.Tuy nhiên, đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp mới ra đời không có đủ tài sản đảm bảo cũng
như uy tín thì việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng quả là khó khăn. Ngoài ra, phát
hành cổ phiếu, trái phiếu cũng là một kênh dẫn vốn nhưng chưa hiệu quả ở nước ta cũng
do các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số.Trong những trường hợp như vậy, đi thuê
tài chính là một giải pháp tối ưu, kịp thời và đúng đắn góp phần tháo gỡ khó khăn về
nguồn tài trợ cho các doanh nghiệp
Phần trên hơi dài quá. Em cần chú y về chính tả và ngữ pháp: sau dấu chấm và
được sử dụng ở Hoa Kỳ đều dưới dạng hợp đồng cho thuê. Đây là hình thức hữu hiệu
nhất để gia tăng mở rộng nguồn tài chính trong cả nước. Hơn 80% các công ty- từ nhỏ
mới thành lập cho đến những công ty lớn trong danh sánh Forture 500- đã thuê từ vài hay
tất cả các thiết bị với tổng số giá trị hợp đồng thuê ban đầu gần $300 tỷ mỗi năm.
Thời Đại Hy Lạp Và Babylonia Cổ Đại
Trong chương 1 nếu các phần em tham khảo ở tài liệu nào, thì cần ghi rõ tên tác giả, tên
sách, năm xuất bản, để tránh trường hợp trùng với các bạn khác, nếu trùng, có có bằng
chứng là em tham khảo ở tài liệu nào. Tuy nhiên, tham khảo trong tài liệu, em cũng phải
tóm lược lại, đừng chép y nguyên
Những hình thức cho thuê sớm nhất đã được phát hiện khoảng 5,000 năm. Lịch sử ghi
nhận sự có mặt của một công ty cho thuê vào khoảng năm 1800 trước công nguyên ở
Babylonia. Nếu một nhân viên hay một người lính không muốn trồng trọt trên đất đai mà
họ được cấp sau khi phục vụ cho chế độ quân chủ, anh ta sẽ cho công ty đó thuê lại, đó là
chuyên gia cho thuê. Công ty đã chi trả tiền thuê cho người lính trước và sau đó cho
những người nông dân thuê lại mảnh đất đó.
Người Hy Lạp cổ đại là những người đầu tiên phát triển việc cho thuê hầm mỏ. Nhiều
loại hầm mỏ có kích cỡ khác nhau ở Athens thì thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và nó
sẽ được cho thuê lại thông qua một đặc quyền cho các công ty khai thác mỏ từ 3 đến 7
năm. Người Hy Lạp cổ đại cũng đi tiên phong tạo ra khái niệm ngân hàng cho thuê. Tài
sản thuộc quyền sở hữu của ngân hàng cho thuê đầu tiên được ký kết vào năm 370 trước
công nguyên trong đó bao gồm tên ngân hàng, tiền ký quỹ, các văn phòng và đội ngũ
nhân viên.
Vương Quốc Anh
Một trong những đạo luật đầu tiên liên quan đến lĩnh vực cho thuê ở Vương Quốc Anh là
Đạo Luật Wales được ban hành vào năm 1284. Đạo Luật đã dựa trên những luật lệ đất
đai hiện hành để làm khuôn khổ hợp pháp cho việc cho thuê bất động sản cũng như cho
việc cho thuê các dụng cụ trong ngành nông nghiệp. Những chuyến hàng hoá của ngành
đường sắt vào những thập niên 19 cho thấy rằng những doanh nghiệp nhỏ đã đầu tư
nguồn vốn của họ vào các chuyến xe goòng chở than đá và sau đó lại cho những công ty
hầm mỏ thuê mướn lại. Các hợp đồng cho thuê thông thường cho người đi thuê có quyền
dễ dàng
1.1.2. Chu kỳ phát triển của ngành công nghiệp cho thuê tài chính.
Mặc dù ngành công nghiệp cho thuê tài chính trong mỗi quốc gia phát triển theo tuỳ
theo tốc độ tăng trưởng của quốc gia đó, nhưng tất cả đều theo khuynh hướng của một
chu kỳ tiến triển chắc chắn. Chu kỳ cho thuê tài chính này được minh hoạ ở sơ đồ dưới
đây. Sự liên quan mật thiết giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sẽ giúp những
người cho thuê hiểu rõ hơn về môi trường cạnh tranh mà họ đang phải đối mặt một khi đã
hội nhập vào thị trường quốc tế.
Số sơ đồ: Sơ đồ chu kỳ phát triển của hoạt động Cho thuê tài chính
Nguồn tham khảo, đặt cuối sơ đồ
Cho thuê tài chính
(Finance leases)
Cho thuê tài chính linh hoạt
(Flexible/Creative Finance leases)
?
Cho thuê cấp cao
(Maturity)
Cho thuê đổi mới
(Innovative leases)
Cho thuê vận hành
(Operating leases)
1.2. HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH HIỆN NAY.
1.2.1. Các khái niệm cơ bản:
I Khái niệm cho thuê tài chính (CTTC) và những thuật ngữ liên quan.
a. Cho thuê tài chính.
Chúng ta biết rằng khi doanh nghiệp cần mua sắm trang thiết bị sản xuất có thể sử
dụng hình thức thuê tài sản. Nếu hợp đồng thuê tài sản gần như kéo dài suốt vòng đời
hữu ích của nó và không thể hủy ngang hoặc chỉ được hủy ngang khi doanh nghiệp đã
bồi thường thỏa đáng cho bên cho thuê thì gọi là thuê tài chính. Ngược lại, thuê tài
16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 thì tài sản thuê là máy móc, thiết bị, phương tiện
vận chuyển và các động sản khác đạt tiêu chuẩn kỹ thuật tiến tiến, có giá trị sử
dụng hữu ích trên một năm được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu.
e. Thời hạn cho thuê:
Là thời gian bên thuê sử dụng tài sản thuê và trả tiền thuê, được bên cho thuê và
bên thuê thoả thuận trong hợp đồng CTTC.
f. Tiền thuê:
Tiền thuê là khoản tiền bên đi thuê phải thanh toán cho bên cho thuê theo thoả
thuận trong hợp đồng.
g. Phí cho thuê:
Trong hoạt động CTTC phí cho thuê được tính trên cơ sở lãi suất cho vay trung
hạn, dài hạn và phí quản lý của Công ty CTTC.
h. Lợi nhuận hợp lý:
Là phần lợi nhuận thu được từ hoạt động CTTC đủ để hấp dẫn bên cho thuê tiếp
tục tái đầu tư, tài trợ cho các giao dịch khác.
II Quyền chọn mua:
Là quyền dành cho bên thuê có thể chọn mua hoặc không mua tài sản thuê theo một mức
giá tượng trưng vào thời điểm kết thúc hợp đồng cho thuê. Quyền này chỉ có hiệu lực khi
dự liệu trước trong hợp đồng.
Các tiêu chuẩn xác định một giao dịch là CTTC.
a. Theo Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC).
Theo Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế, một giao dịch được gọi là CTTC phải thoả
mãn ít nhất1 trong 4 tiêu chuẩn sau:
1) Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao khi kết thúc hợp đồng thuê.
2) Hợp đồng quy định quyền chọn mua tài sản thuê với giá tượng trưng tại
thời điểm chấm dứt hợp đồng.
3) Thời hạn hợp đồng chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản.
4) Hiện giá của các khoản tiền thuê do người thuê trả tương đương hoặc lớn
hơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.
b. Theo Hội đồng tiêu chuẩn kế toán tài chính Mỹ (FASB).
Bảng 1.1:
Bảng thống kê tiêu chuẩn để một giao dịch được gọi là CTTC của một số quốc
gia trên thế giới.
Nếu bảng này không do em tự tập hợp lên, thì phải ghi nguồn tài liệu tham khảo
IASC Mỹ Anh Nhật Hàn Quốc Indonesia Việt Nam
- Chuyển
giao
quyền sở
hữu khi
kết thúc
hợp đồng.
Có Có Có Có Không có
quy định cụ
thể.
Có Có
- Quyền
chọn mua.
Có Có Không
bắt
buộc.
Không
bắt
buộc.
Không bắt
buộc.
Có Có
- Quyền
huỷ ngang
hợp đồng.
Không Không Không Không Không Không Không
- Hiện giá
thuần các
khoản tiền
thuê tối
Bằng
hoặc
lớn
hơn
≥90% ≥90% ≤90% Trả đủ
tiền thuê
Bằng hoặc
lớn hơn
thiểu so
với giá trị
hợp lý của
tài sản
thuê.
1.2.2. Đặc thù của hoạt động CTTC.
I Sự khác biệt của CTTC với hình thức tín dụng ngân hàng.
Thực chất, CTTC là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn nhưng so với hoạt động
tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng, CTTC vẫn mang những điểm khác biệt.
- Trong giao dịch CTTC , bên cho thuê tài trợ cho doanh nghiệp bằng các tài sản
như máy móc, thiết bị, gọi chung là các động sản. Còn trong tín dụng ngân hàng, ngân
hàng sẽ tài trợ cho doanh nghiệp trực tiếp bằng tiền và doanh nghiệp sẽ sử dụng số tiền
đó để mua máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất của mình. Như vậy, so với tín
dụng ngân hàng, CTTC đảm bảo cho bên tài trợ là khoản tiền bỏ ra đã được sử dụng đúng
mục đích.
- Nghiệp vụ cho thuê tài chính thường có quan hệ nhiều bên: bên đi thuê, bên cho
thuê, nhà cung cấp, nhà bảo hiểm ngược lại tín dụng ngân hàng thì thường chỉ có quan hệ
song phương giữa người đi vay và người cho vay.
Tín dụng thuê mua trả góp là một hình thức mua trả góp tài sản trong một khoảng
thời gian từ 1 tới 5 năm, được áp dụng đối với trường hợp người mua có thế chấp và cả
không có thế chấp. Nhưng trong hầu hết mọi giao dịch, tín dụng thuê mua trả góp là một
hình thức tài trợ vốn cho người thuê không có thế chấp.
Khi bên thuê có nhu cầu thuê mua tài sản theo hình thức này, họ sẽ thiết lập hợp đồng
với chủ tài sản. Trong đó bên thuê thường phải trả ngay cho nhà tài trợ một khoản tiền từ
25% đến 30% giá trị của tài sản, phần còn lại bên thuê sẽ phải trả góp làm nhiều lần, mỗi
lần trả một phần giá trị của tài sản cùng tiền lãi. Đến khi kết thúc hợp đồng bên thuê sẽ
được chuyển giao quyền sở hữu tài sản từ người cho thuê.
Bảng 1.3: Phân biệt CTTC và Thuê mua trả góp Nếu bảng này không do em tự
tập hợp lên, thì phải ghi nguồn tài liệu tham khảo
Tiêu thức Cho thuê tài chính Thuê mua trả góp
1. Bên cho thuê Công ty Cho thuê tài chính. Nhà cung cấp hoặc Công ty cho
thuê tài chính.
2. Bên đi thuê Các pháp nhân. Các pháp nhân và thể nhân.
3. Thời hạn hợp
đồng
Có thời hạn dài từ 1 đến 20 năm
thậm chí dài hơn.
Có thời hạn trung bình từ 1 đến 5
năm.
4. Giá trị còn lại Có thể chuyển giao cho người
thuê khi hết hạn hợp đồng.
Chuyển giao cho người thuê khi
hết hạn hợp đồng.
5. Quyền sở hữu Quyền sở hữu thuộc về bên cho
thuê và có thể được chuyển giao
cho bên thuê khi kết thúc hợp
đồng.
Chuyển giao cho bên thuê vào
5.Cung ứng tài sản thuê.
- Tài sản cho thuê thường do người thuê
đặt hàng, giao nhận và sử dụng.
- Tài sản thuê thường do người cho thuê
cung cấp.
6.Chuyển quyền sở hữu hoặc bán tài sản.
- Trong hợp đồng có quy định chuyển
quyền sở hữu tài sản hoặc bán lại tài sản
sau khi kết thúc hợp đồng.
- Trong hợp đồng không có thoả thuận
chuyển quyền sở hữu hoặc bán lại tài sản.
7.Rủi ro.
- Người thuê chịu mọi rủi ro thiệt hại - Người cho thuê chịu mọi rủi ro thiệt hại.
Trên thế giới hiện nay, các nước phát triển đã vận dụng hai hình thức này rất linh hoạt
và đa dạng. Điều này phụ thuộc vào các điều kiện chủ quan và khách quan của các chủ
thể tham gia vào các giao dịch cho thuê. Do đó, đôi lúc ranh giới phân biệt giữa chúng
đôi lúc còn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, ở Việt nam hiện nay do do điều kiện kinh tế còn
chậm phát triển, nhu cầu thuê chưa đa dạng nên cho thuê vận hành vẫn còn là một nghiệp
vụ trong tương lai.
1.2.3. Các hình thức CTTC hiện nay. Mỗi hình thức phân loại, cần ghi rõ tài liệu
nào phân loại như vậy. Tất cả các sơ đồ dưới đây, nếu không do em tự tập hợp, thì
phải ghi rõ nguồn tài liệu tham khảo
I Phân loại CTTC dưới phương diện người cho thuê.
A. CTTC hai bên (Two-party Lease).
Là loại hợp đồng CTTC trong đó người cho thuê sử dụng thiết bị của họ có sẵn tài trợ
cho bên thuê.
Người cho thuê thường là các nhà sản xuất hoặc các công ty cho thuê, sử dụng tài sản
của họ để tài trợ cho người thuê. Hình thức tài trợ này có đặc điểm cơ bản sau:
o Hàng hoá cho thuê thường là những tài sản có giá trị không quá lớn thường
là máy móc, thiết bị.
1. Bên cho thuê và bên thuê ký hợp đồng CTTC.
2. Bên CTTC và nhà cung cấp ký hợp đồng mua tài sản.
3. Nhà cung cấp và bên thuê ký hợp đồng bảo hành, bảo dưỡng (có thể bên cho
thuê ký với nhà cung cấp về việc bảo hành và bảo dưỡng cho bên thuê).
4. Nhà cung cấp lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cho bên cho thuê.
5. Nhà cung cấp chuyển giao tài sản cho bên thuê.
6. Bên cho thuê thanh toán tiền mua tài sản.
7. Bên cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho bên thuê.
8. Bên thuê thanh toán tiền thuê định kỳ cho bên cho thuê.
Phương thức tài trợ có sự tham gia của ba bên còn gọi là phương thức thuê mua thuần
(net lease) là phương thức được áp dụng phổ biến nhất hiện nay, đặc biệt là ở các nước
đang phát triển. Trên thế giới, 80% hợp đồng CTTC áp dụng theo phương thức này.
C. CTTC liên kết (Syndicate Lease)
Đây là phương thức cho thuê gồm nhiều bên tài trợ cho một người thuê. Sự liên kết
này có thể xảy ra theo chiều ngang hoặc chiều dọc tuỳ theo tính chất của loại tài sản hay
khả năng tài chính của các nhà tài trợ. Trong trường hợp tài sản có giá trị lớn, nhiều định
chế tài chính hay các nhà chế tạo cùng nhau hợp tác để tài trợ cho người thuê tạo thành sự
liên kết theo chiều ngang. Còn đối với trường hợp các đinh chế tài chính hay các nhà chế
Bên cho thuê
(Lessor)
Bên thuê
(Lessee)
Nhà cung cấp
(Supplier)
tạo lớn giao tài sản cho chi nhánh của họ thực hiện giao dịch tài trợ cho khách hành thì
hình thành sự liên kết theo chiều dọc.
Các bước và đặc điểm trong giao dịch với bên thuê của hình thức này không khác biệt
lớn so với phương thức cho thuê điển hình.
Bên cho thuê Bên thuê
1.Có thể có sự liên kết giữa các định chế
Đây là hình thức cho thuê chỉ được áp dụng ở những nước mà công nghệ cho thuê đã
phát triển rất mạnh. Theo phương thức tài trợ này, những nhà môi giới cho thuê có thể
tìm kiếm những người có nhu cầu thuê, thoả thuận với nhà cung cấp (hoặc những nhà sản
xuất), bảo đảm những khoản nợ tài trợ cho người cho thuê để sử dụng trong việc mua các
thiết bị cho thuê và xác định người cho thuê cuối cùng trong giao dịch cho thuê. Những
nhà môi giới cho thuê điển hình không sở hữu tài sản hay nắm giữ các giao dịch cho thuê
Bên
thuê
(Lessee)
Bên cho
thuê
(Lessor)
Bên cho
vay
(Lender)
Tiền
trả
nợ
Tiền
cho
vay
Tài sản
Tiền thuê
trong tài khoản của chính họ. Những nhà môi giới cung cấp một hoặc rất nhiều dịch vụ,
dựa trên yêu cầu được đưa ra trong các giao dịch CTTC.
Sơ đồ 1.4: CTTC môi giới (CTTC trọn gói - Pakaged Lease)
Nhà cung
cấp
(Supplier)
Nhà môi
Sơ đồ 1.5: Giao dịch bán và tái thuê.
NNgươi
Công ty CTTC
Bên mua
Bên cho thuê
Chủ sở hữu
ban đầu
Bên bán
Bên thuê
Thoả thuận mua bán tài sản
Quyền sở hữu pháp lý
Tiền mua tài sản
Quyền sử dụng tài sản
Trả tiền thuê
Hợp đồng thuê mua