Tiểu luận môn thực hành thiết kế cơ sở nhà máy đường - Pdf 24

VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ THỰC PHẨM
∞- ∞ -∞
TIỂU LUẬN MÔN
THỰC HÀNH CƠ SỞ THIẾT KẾ NHÀ MÁY
ĐỀ TÀI:
THIẾT KẾ NHÀ MÁY ĐƯỜNG

GVHD:
Th.s:Phạm Huỳnh Thái Sơn
LỚP: ĐHTP4TLT
Nhóm thực hiện:
NGUYỄN THỊ KIM PHƯƠNG 10369821
TRẦN LÊ QUÂN 10332901
NGUYỄN ĐĂNG MÃI 10348801
NGUYỄN PHƯỚC QUANG 10321621
TP HCM, THÁNG 03 NĂM 2013
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
MỤC LỤC
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 2
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
MỞ ĐẦU
Việc nước ta gia nhập WTO và trở thành thành viên thứ 150 ảnh hưởng không
nhỏ đến nền kinh tế, khoa học – kĩ thuật. Một số mặt hàng được nhập với giá rẻ hơn
làm cho ngành đó ít được chú ý đầu tư và phát triển, riêng với ngành mía đường vẫn
được duy trì các biện pháp bảo hộ: mức thuế nhập khẩu đường ở mức cao, hạn ngạch
bắt buộc phải nhập khẩu theo cam kết chỉ có 55.000 tấn đường, trong khi đó nhu cầu về
đường cho sinh hoạt, cho các ngành: bánh kẹo, đồ hộp đồ uống … là rất lớn.
Đường có ý nghĩa quan trọng đối với dinh dưỡng của cơ thể con người, cung
cấp năng lượng cao. Ở nước ta, đường được sản xuất nhiều và dưới nhiều hình thức
khác nhau, từ sản xuất đường truyền thống ở các lò nấu đường thủ công, các cơ sở nhỏ
đến những nhà máy đường hiện đại. Việc xây dựng một nhà máy đường, giải quyết

công nghiệp vào đầu thế kỷ 17 . Sau năm 1625, người Hà Lan mang mía từ Nam Phi
đến các đảo ở vùng Caribê nơi nó được trồng từ Barbados đến đảo Virgin. Những năm
1625 đến 1750 thấy đường trở nên đáng giá như vàng. Cùng với châu Âu thuộc địa hóa
châu Mỹ, Caribê trở thành nguồn đường lớn nhất thế giới. Các đảo này có thể cung cấp
mía dùng sức lao động của nô lệ và sản xuất đường với giá rẻ hơn rất nhiều so với
đường nhập khẩu từ phương Đông.
Trong suốt thế kỷ 18, đường trở nên cực kỳ phổ biến và thị trường đường đã trải
qua nhiều cuộc bùng nổ kinh tế. Do châu Âu đã thiết lập các xưởng sản xuất đường
trên các đảo lớn hơn ở Caribê, giá đã giảm, đặc biệt ở Anh. Cuối thế kỷ 18, tất cả mọi
thành phần trong xã hội đều trở thành khách hàng bình thường của một mặt hàng từng
là xa xí phẩm. Đầu tiên, đường ở Anh dùng trong trà, nhưng sau đó kẹo và sôcôla trở
nên cực kỳ phổ biến. Các nhà cung cấp thường bán đường trong các bánh đường, và
người dùng cần phải dùng kẹp cắt đường để cắt thành miếng.
Bắt đầu từ cuối thế kỷ 18, việc sản xuất đường đã được cơ giới hóa nhiều hơn.
Động cơ hơi nước đầu tiên được sử dụng trong các nhà máy đường ở Jamaica vào năm
1768, và không lâu sau, hơi nước đã thay thế việc đốt lửa trực tiếp trong chế tạo đường.
Cũng trong thế kỷ này, châu Âu bắt đầu thử nghiệm sản xuất đường từ các cây khác.
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 4
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
Andreas Marggraf đã tìm thấy sucrose trong rễ củ cải đường và học trò của ông, Franz
Achard, đã xây dựng nhà máy sản xuất đường từ củ cải đường ở Silesia. Tuy nhiên nền
công nghiệp đường từ củ cải đường đã bùng nổ trong suốt chiến tranh Napoleon, khi
Pháp và phần lục địa châu Âu bị cắt nguồn cung cấp từ Caribê. Ngày nay, 30% lượng
đường được sản xuất từ củ cải đường.
Ngày nay, một nhà máy đường cỡ lớn khoảng 1500 tấn mỗi ngày cần một nguồn
nhân lực thường xuyên khoảng 150 người để sản xuất liên tục 24 giờ.
1.1.2 Tình Hình Sản Xuất Tiêu Thụ Đường Trên Thế Giới Và Việt Nam
Ngành mía đường thế giới phát triển từ thế kỷ thứ 16. Sản lượng đường toàn cầu
phát triển nhanh theo nhu cầu tiêu thụ, đầu những năm cách mạng công nghiệp (1750-
1830) khoảng 820 ngàn tấn/năm, trước thế chiến thứ nhất (1914-1918) khoảng 18 triệu

Cây mía và nghề làm mật, đường ở Việt Nam đã có từ xa xưa, nhưng công
nghiệp mía đường mới được bắt đầu từ thế kỷ thứ XX. Đến năm 1994, cả nước mới có
9 nhà máy đường mía, với tổng công suất gần 11.000 tấn mía ngày và 2 nhà máy
đường tinh luyện công suất nhỏ, thiết bị và công nghệ lạc hậu. Hàng năm phải nhập
khẩu từ 300.000 đến 500.000 tấn đường. Năm 1995, với chủ trường “Đầu tư chiều sâu,
mở rộng các nhà máy đường hiện có, xây dựng một số nhà máy có quy mô vừa và nhỏ
ở những vùng nguyên liệu nhỏ. Ở những vùng nguyên liệu tập trung lớn, xây dựng các
nhà máy có thiết bị công nghệ tiến tiến hiện đại, kể cả liên doanh với nước ngoài, sản
lượng đường năm 2000 đạt khoảng một triệu tấn (Nghị Quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ 8). Chương trình mía đường được chọn là chương trình khởi đầu để tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, xoá đói, giảm nghèo, giải quyết
việc làm cho lao động nông nghiệp. Ngành mía đường được giao “không phải là ngành
kinh tế vì mục đích lợi nhuận tối đa mà là ngành kinh tế xã hội”.
Thực hiện “Chương trình quốc gia 1 triệu tấn đường” ngành mía đường Việt
Nam tuy còn non trẻ, chỉ sau 5 năm (1995-2000) đã có bước tiến đột phát. Đầu tư mở
rộng công suất 9 nhà máy cũ, xây dựng mới 33 nhà máy, tổng số nhà máy đường của
cả nước là 44, tổng công suất là 81.500 tấn (so với năm 1994 tăng thêm 33 nhà máy và
trên 760.000 tấn công suất), năm 2000 đã đạt mục tiêu 1 triệu tấn đường. Về cơ bản đã
đáp ứng được nhu cầu đường tiêu dùng trong nước, chấm dứt được tình trạng hàng
năm nhà nước phải bỏ ra hàng trăm triệu USD để nhập khẩu đường. Đặc biệt hầu hết
các nhà máy đường mới đều được xây dựng tại các vùng nông thôn, vùng trung du,
miền núi, vùng dân tộc ít người, vùng đất nghèo khó khăn, vùng sâu, vùng xa và được
phân bổ khắp cả 3 miền (miền Nam: 14 nhà máy, Miền Trung và Tây Nguyên: 15 nhà
máy, và miền Bắc: 13 nhà máy).
Tuy nhiên, bước vào hội nhập kinh tế khu vực AFTA và gia nhập tổ thức
thương mại thế giới WTO, ngành mía đường Việt Nam đang đứng trước những thách
thức lớn là:
Các nhà máy đường Việt Nam phần lớn vừa mới được xây dựng với quy mô
vừa và nhỏ. Hiện tại còn 37 nhà máy đường đang hoạt động, gồm 6 nhà máy có vốn
đầu tư nước ngoài với tổng công suất 27.000 TMN, bình quân một nhà máy 4500

4 lần so với giá đường trung bình trên thế giới (tháng 8/2005 là 631,9 Euro, tương
tương 764,1 USD) đã bóp mép thị trường đường của các nước đang phát triển. Việt
Nam cũng không nằm ngoài chịu sự tác động này.
Trước những thách thức hết sức to lớn đó, các nhà máy đã từng bước khắc phục khó
khăn. Từ đó, các nhà máy đã gặt hái được những thành công lớn. Đặc biệt là trong 3
năm qua thực hiện quyết định 28/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các nhà
máy đường đã được chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần,
mối quan hệ hợp tác giữa nhà máy và người trồng mía và các địa phương trồng mía,
trong việc xây dựng vùng nguyên liệu có nhiều triển vọng mới.
Tóm lại, hơn một thập kỷ qua (1995-2008) tuy thời gian chưa nhiều, được sự hỗ
trợ và bằng sự tác động có hiệu quả bởi các chính sách của Chính phủ, ngành mía
đường non trẻ của Việt Nam đã đóng góp một phần vào sự tăng trưởng nền kinh tế
quốc dân, và phần quan trọng hơn là góp phần lớn về mặt xã hội, giải quyết việc làm
ổn định hàng triệu nông dân trồng mía và hơn 2 vạn công nhân ổn định làm việc trong
các nhà máy, có đời sống vật chất tinh thần ổn định ngày một cải thiện, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo nên các vùng sản xuất hàng hoá lớn, bộ mặt nông thôn
các vùng mía được đổi mới,…
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 7
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
1.1.3 Nguồn Nguyên Vật Liệu
Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng cần phải có nguyên liệu, đây là một
trong những yếu tố đầu vào quan trọng nhất của quá trình sản xuất. Thừa hay thiếu
nguyên liệu đều ảnh hưởng tới quá trình sản xuất của Doanh nghiệp. Nếu thiếu nguyên
liệu, quá trình sản xuất sẽ bị trì trệ, không tận dụng được hết công suất của máy móc và
nguồn lực của Doanh nghiệp. Ngược lại, nếu thừa nguyên liệu sẽ làm tăng chi phí lưu
kho. Từ đó làm giá bán sản phẩm tăng, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm. Vì vậy để
quá trình sản xuất đảm bảo liên tục và hiệu quả thì việc đảm bảo nguyên liệu đầu vào
là hết sức quan trọng của các xí nhiệp sản xuất nói chung, các nhà máy đường nói
riêng.
Nguyên liệu là những đối tượng lao động dùng trong sản xuất và chế biến của

như bản chất vốn có của giống.
1.1.3.3 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp
Ruộng đất vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt và
không đồng nhất. Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu vì nó có vai trò quyết định tạo
ra các loại nông phẩm. Các tư liệu sản xuất khác thường sẽ bị hao mòn qua quá trình sử
dụng. Nhưng đối với đất, nếu biết sử dụng, cải tảo, bảo vệ và bồi dưỡng hợp lý thì
không bị hao mòn, mà còn tốt thêm. Đây chính là điểm đặc biệt của đất. Bên cạnh đó,
do cấu tạo thỗ nhưỡng, địa hình, vị trí, độ màu mỡ của ruộng đất thường là khác nhau.
Nên ở những vùng khác nhau, đất sẽ có một số đặc điểm riêng, tạo nên tính không
đồng nhất của đất
Đối tượng sản xuất của nông nghiệp là những cơ thể sốn. Chúng tồn tại, phát
sinh, phát triển và phát dục theo các quy luật sinh học. Do đó, trong quá trình sản xuất,
chúng luôn đòi hỏi sự tác động thích hợp của con người và tự nhiên để sinh trưởng và
phát triển.
Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, đặc biệt là ngành trồng trọt. Mỗi cây
trồng, vật nuôi sẽ có các giai đoạn sinh trưởng và phát triển diễn ra trong những
khoảng thời gian khác nhau của mùa vụ sản xuất. Từ đó, thời gian, hình thức và mức
độ tác động của con người sẽ khác nhau trong mùa vụ, làm xuất hiện những thời vụ sản
xuất. Hoặc cùng một loại cây trồng, vật nuôi nhưng ở những vùng có điều kiện khí hậu
và thời tiết khác nhau thường có mùa vụ và thời vụ sản xuất khác nhau.
Sản xuất nông nghiệp thường có chu kỳ dài và phần lớn tiến hành ngoài trời
trên không gian ruộng đất rộng lớn, lao động và tư liệu sản xuất luôn luôn di động và
thay đổi theo thời gian và không gian.
Sản xuất nông nghiệp chịu sự tác động và ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự
nhiên. Đặc biệt là điều kiện về đất đai, khí hậu, nguồn nước, …
1.1.3.4 Đặc điểm của nguyên liệu mía
Có tính thời vụ: Cũng như những cây nông nghiệp khác cây mía có tính thời vụ.
Vì thời gian sinh trưởng dài gần 9 tháng nếu giống mía chín muộn, do đó mỗi năm chỉ
trồng được một vụ.
Phụ thuộc vào thời tiết, đất đai: Là cây nông nghiệp nên cây mía phụ thuộc vào

Độ Bx:
Độ Bx là tỷ lệ phần trăm tổng số khối lượng chất khô hòa tan trong một dung
dịch nào đó (dung dịch nước mía ép).
Độ Bx của nước mía bao gồm chủ yếu là đường sacarosa và các loại đường khử
(glucosa và fructosa), do đó độ Bx trong nước mía cao thì tỷ lệ đường cũng cao.
Độ Pol:
Độ Pol là số trị quay cực trực tiếp thu được của một dung dịch đường hoặc nước
mía quan sát bàng máy Polarimet. Độ Pol phản ánh số trị gần đúng hàm lượng đường
sacarosachứa trong dung dịch hoặc nước mía. Do vậy trong thực tế, người ta dùng độ
Pol để đánh giá chất lượng sản phẩm đường hoặc chất lượng một giống mía. Độ Pol
càng cao thì đường sacarosa nhiều và ngược lại.
ì Độ tinh khiết AP:
Độ tinh khiết AP là tỷ số phần trăm giữa độ Pol và độ Bx.
RS:
RS là một tập hợp các đưòng khử không kết tinh trong điều kiện chế biến thông
thường như đường glucosa, fructosa và một số khác. Cây mía khi còn non tỷ lệ RS cao
và mía càng già thì tỷ lệ RS càng giảm. Thường lúc mía chín tỷ lệ RS chỉ còn trên dưới
1%.
Chất sơ:
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 10
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
Chất sơ là thành phần chất khô không hòa tan trong nước, đó là chất xenlulo trong bã
mía.
Chữ đường:
Chữ đường là khái niệm về năng suất công nghiệp chỉ lượng đường thương
phẩm có thể lấy ra từ mía ở các xí nghiệp chế biến đường mía.
Dây chuyền công nghệ sản xuất đường
Mía nguyên liệu

Cân

Trung hoà ( pH = 6,8 ÷ 7,2 )
Gia nhiệt 2 ( t
0
= 100 ÷ 105
0
C)

Tản hơi Bã mía
Chất trợ lắng Lắng Nước bùn Khuấy trộn
Nước lắng trong Lọc chân không
Gia nhiệt 3 ( t
0

= 110 ÷ 115
0
C Nước lọc trong Bã bùn
Bốc hơi ( 4 hiệu )
Thông SO
2
lần 2 (pH = 6,2 ÷ 6,6 )
Lọc kiểm tra
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 12
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
Mật chè
Nấu non A Nấu non B Nấu non C
Trợ tinh A Trợ tinh B Trợ tinh C
Máng phân phối Máng phân phối Máng phân phối

Li tâm Li tâm Li tâm
Loãng A Cát A Nguyên A Cát B Mật B Cát C Mật rỉ

2.1.1.2 Tính cho nước mía nguyên.
+Trọng lượng nước mía nguyên = Trọng lượng mía – Trọng lượng xơ mía
=2000 – 260 =1740 (Tấn)
+ Pol nước mía nguyên = Trọng lượng đường sac/Trọng lượng nước mía nguyên x
100
=( 212.4/1740 ) x 100 = 13,56 %
+ Bx nước mía nguyên = Trọng lượng chất khô / Trọng lượng nước mía nguyên x100
= (298/1740) x100 = 17.12 %
+AP nước mía mguyên = Pol/Bx x 100 = 13.56/17.12 x 100 = 79,2 %

2.1.1.3.Tính cho bã mía:
+Trọng lượng đường trong bã = Trọng lượng đường trong mía x (100- Hs ép)/100 =
236 x (100 – 95)/10 = 11,8 (T/ngày)
+Trọng lượng chất khô trong bã = Trọng lượng đường trong bã/AP bã
x 100 = 11.8/73 x100 = 16.16 (T/ngày)
+ Bx bã = Pol bã/ AP bã x 100 = 2.5/73 x 100 = 3,42%
+Thành phần xơ trong mía =100 – (w bã+ Bx bã)
= 100 – (49 + 3,42) = 47,58%
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 14
+ Trọng lượng chất khô trong nước mía hỗn hợp = Trọng lượng chất khô trong mía –
Trọng lượng chất khô trong bã
= 259,2 – 14,15 = 244,65 (T/ngày)
+Bx nước mía hỗn hợp = TL chất khô trong nước mía hỗn hợp/ TL nước mía hỗn hợp
= ( 244.65/1758.2) x100 = 13,9%
+ Thể tích nước mía hỗn hợp = Trọng lượng nước mía hỗn hợp/Tỷ t
= 2008.2/1.056 = 1901,70 (m
3
/ngày)
+Trọng lượng đường trong nước mía hỗn hợp
= trọng lượng đường trong mía – trọng lượng đường trong bã
= 212,4 – 10,62 = 201,78 (T/ngày)
+ Pol nước mía hỗn hợp
=(Trọng lượng đường trong nước mía hỗn hợp/Trọng lượng nước mía hỗn hợp )x100
= (201.78/1758.2) x100 = 11,47%
+ AP nước mía hỗn hợp = PoL/Bx x 100 = (11.47/13.9) x 100 = 82,56%
+ Trọng lượng chất không đường trong nước = Trọng lượng chất không đường trong
mía – trọng lượng chất không đường trong bã
= 46,8 – 3,93 = 42,87 (T/ngày)
+ Tổn thất đường trong ép = (TL đường trong bã/TL mía) x 100
=(10.62/212.1 ) x 10
Bảng1: Tổng kết công đoạn ép mía
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 15
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
Hạng mục Kết quả
Đơn vị
1. Tính cho mía

. AP
. Thể tích
. Trọng lượng đường
. Trọng lượng chất không
đường

212,4
234
46,8
295,2
1566
13,56
16,55
81,93
10,62
3,42
47,58
491,8
27,32
3,93
240,98
1758,2
97,68
13,9
11,47
82,56
1664,96
201,87
42,87
5

Số liệu tính toán:
Lưu huỳnh so với mía: 0,07%
CaO so với mía: 0,16%
CaO hiệu trong vôi: 75%
Nước bùn so với nước mía trung hoà: 25%
Độ ẩm bùn lọc: 75%
Tỷ trọng bùn lọc:1,1
Thành phần đường trong bùn khô:14%
Nước rửa bùn: 180%
Hiệu suất hấp thụ SO
2
:86%
Tổn thất đường không xác định: 0,8%
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 17
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
Nồng độ sữa vôi: 12
0
Bx
2.1.2.1.Tính cho vôi.
+ Trọng lượng CaO có hiệu =Trọng lượng mía x(CaO so với mía/100)
= 2000 x(0.16/100) = 3.2 (T/ngày)
+ TL CaO cần dùng = (Trọng lượng CaO có hiệu / Hàm lượng CaO có hiệu trong
vôi ) x 100
=(3.2/75) x100 = 4.27(T/ngày)
+ Trọng lượng sữa vôi = (Trọng lượng CaO có hiệu/ Nồng độ CaO có hiệu sữa vôi )x
100
=(3.2/5.74) x 100 = 55.75 (T/ngày)
+ Thể tích sữa vôi =TL sữa vôi/Tỷ trọng= 55.75/1.046 = 53.3 (m
3
/ngày)

( Coi độ tinh khiết của lưu huỳnh là 100% )
+ Trọng lượng SO
2
= 64/32 x Trọng lượng lưu huỳnh
= 2 x 1,4 = 2,8 (T/ngày)
+ Lượng SO
2
xông lần 1 (lấy 80% tổng lượng SO
2
)
= 2,8 x 80/100 = 2,24 (T/ngày)
+ Lượng SO
2
hấp thụ = 2,24 x 86/100 = 1.9264 (T/ngày)
+ Trọng lượng nước mía sau xông SO
2
lần 1
= Trọng lượng nước mía sau gia vôi + Lượng SO
2
hấp thụ
= 1775,75 + 1,34 = 1777,48 (T/ngày)
+ Trọng lượng chất khô sau xông SO
2
lần 1
= Trọng lượng chất khô sau gia vôi = Lượng SO
2
hấp thụ
= 245,93 + 1,734 = 247,66 (T/ngày)
2.1.2.4. Tính cho nước mía trung hoà.
+ Lượng CaO (dùng 2/3) = 2/3 x 3.84 = 2.56 (T/ngày)

+ Trọng lượng bùn lọc = Trọng lượng mía x Bùn lọc so với % mía/100
= 2000 x 2.5/100 = 50 (T/ngày)
+ Trọng lượng bùn khô = Trọng lượng bùn lọc x (100 – phần nước trong bùn)/100
= 50 x (100 – 75)/100 = 12.5 (T/ngày)
+ Bùn khô so với mía = Trọng lượng bùn khô/Trọng lượng mía x 100
= 12.5/2000 x 100 = 0,625%
+ Trọng lượng đường tổn thất trong bùn lọc
= Trọng lượng bùn khô x Thành phần đường trong bùn/100
= 12.5 x 14/100 = 1.75 (T/ngày)
+ Trọng lượng nước rửa bùn =Trọng lượng bùn lọc x Nước rữa bùn so với mía/100

= 50 x 180/100 = 90 (T/ngày)
+ Trọng lượng nước lọc trong
= TL nước bùn + TL nước rửa bùn – TL bùn lọc
= 453,145 + 90 – 50 = 493,145 (T/ngày)
+ Trọng lượng đường tổn thất không xác định
= Trọng lượng đường trong mía x Tổn thất đường không xác định/100
= 212,4 x 0.8/100 = 1,7 (T/ngày)
2.1.2.6. Tính cho chè trong.
+ TL chè trong = TL lượng nước mía lắng trong + TL nước mía lọc trong
= 1358.63 + 493.145 = 1851.775 (T/ngày)
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 20
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
+ Trọng lượng đường trong chè trong = TL đường trong nước mía hỗn hợp
- TL đường trong bùn – Tổn thất đường không xác định
= 201.78 – 1.575 – 1.7 = 198.5 (T/ngày)
+ Trọng lượng chất khô trong chè trong
= Trọng lượng chấtkhô trong nước mía trung hoà - Trọng lượng bùn khô
= 250,22 – 11,25 = 238,97 (T/ngày)
+ Pol chè trong = TL đường trong chè trong/TL chè trong x 100

2
= 60)
Thay số vào ta có:
W = 1847,775 ( 1 – 12.9/60 ) = 1450,5 (T/ngày)
+ Trọng lượng mật chè = Trọng lượng chè trong – Trọng lượng nước bốc hơi
= 1847,775 – 1450,5 =397,275 (T/ngày)
+ Mật chè so với mía = TL mật chè/TL mía x 100
= 397.275/2000 x 100 = 19.86%
+ Tổn thất đường trong bốc hơi (0,004%)
TL = 198,5 x 0.004/100 = 0,008 (T/ngày)
+ Tổn thất chất khô trong bốc hơi (0,006%)
TL = 238,97 x 0.006/100 = 0,0143 (T/ngày)
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 21
1847,775
1,0521
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
+ Trọng lượng đường trong mật chè
= TL đường trong chè trong – TL đường tổn thất trong bốc hơi
= 198,5 – 0,008 = 198,492 (T/ngày)
+ Trọng lượng chất khô trong mật chè
= TL chất khô trong chè trong – TL chất khô tổn thất bốc hơi
= 238.97 – 0.0143 = 238.955 (T/ngày)
+ Thể tích mật chè = TL mật chè/Tỷ trọng
= 297.275/1.28873 = 308.27 (m
3
/ngày)
(Coi AP mật chè = AP chè trong và bằng 83.26%)
2.1.3.2. Tính xông SO
2
lần 2.

T/ngày
T/ngày
T/ngày
m
3
/ngày
%
T/ngày
T/ngày
m
3
/ngày
T/ngày
m
3
/ngày
T/ngày
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 22
20
100
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
. Trọng lượng lưu huỳnh
. Trọng lượng SO
2
. Lượng SO
2
xông lần 1
. Lượng SO
2
hấp thụ

. Chè trong so với mía
. Hiệu suất làm sạch
7.Tính cho bốc hơi và xông SO
2
lần 2
. Trọng lượng nước bốc hơi
. Trọng lượng mật chè
T/ngày
T/ngày
T/ngày
T/ngày
T/ngày
T/ngày
T/ngày
T/ngày
m
3
/ngày
T/ngày
T/ngày
%
m
3
/ngày
T/ngày
m
3
/ngày
%
T/ngày

2
xông lần 2
%
T/ngày
T/ngày
T/ngày
T/ngày
m
3
/ngày
%
T/ngày
2.2: CÂN BẰNG NĂNG LƯỢNG
2.2.1 Hệ bốc hơi:
Sơ đồ phân phối hơi đốt trong hệ bốc hơi 4 hiệu với phương án bốc hơi áp
lực chân không.

W
1
W
2
W
3
W
4 Hình .1: Sơ đồ bốc hơi áp lực - chân không 4 hiệu
E
1

c
: Nồng độ dung dịch đầu và cuối (Kg/h).
2.2.1.2. Lượng nước bốc hơi của quá trình cô đặc:
Nhóm Sinh Viên Thực Hiện: ĐHTP4TLT 24
Ngưng tụ
E
3
E
2
E
1
R
2
R
1
Hơi sống D
o
Hiệu I Hiệu IV Hiệu III Hiệu II
NMHH
Mật chè
GVHD: Th.s Phạm Quỳnh Thái Sơn TL: Thiết Kế Nhà Máy Đường
W= ,
G
đ
= 2019,149 (tấn /ngày) = 84131,208(kg/h), X
đ
= 13,733%, (CBVC), X
c
= 60%
Thay số vào ta có: W = 64874,977(kg/h).

Hạng mục Hiệu I Hiệu II Hiệu III Hiệu IV
Lượng nước bốc hơi, W
i
(Kg/h) 29409,989 18651,556 10542,284 6271,248
Nồng độ ở các hiệu, Bx
i
(%) 21,114 32,032 45,260 60
2.2.1.3 Xác định áp suất và nhiệt độ mỗi nồi :
Gọi P
o
: là áp suất hơi đốt vào hiệu I (P
0
= 2 ÷ 3 at). Chọn P
o
= 2,8 at.
P
1
, P
2
, P
3
: áp suất hơi đốt vào các hiệu 2, 3, 4.
P
4
: áp suất hơi thứ hiệu 4 đi vào tháp ngưng tụ (P
4
= 0,2  0,3at). Chọn P
4
= 0,3
at.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status