Nội dung và phương pháp sử dụng tranh ảnh và lược đồ trong Sách giáo Khoa
lịch Sử
Bài 1
liên xô và các nước đông âu
từ năm 1945 đến giữa những năm 70 của thế kỷ xx
1. Hình. Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Liên Xô
-Nội dung
Cùng với việc khôi phục kinh tế (1945-1950), nhân dân Liên Xô lại bắt tay
ngay vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Trong đó, việc nghiên cứu khoa học nhằm đuổi kịp và vươn lên vượt Mĩ là một
mục tiêu quan trọng, nhằm ứng dụng những thành tựu của khoa học không
những để phát triển kinh tế mà còn trong lĩnh vực quân sự, vì Mĩ năm 1945 đã
chế tạo thành công bon nguyên tử.
Việc xây dựng cơ cở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô diễn
ra trong điều kiện cực kì khó khăn. Các nước đế quốc do Mĩ cầm đầu đã phát
động cuộc “chiến tranh lạnh” nhằm bao vây kinh tế, cô lập chính trị, tích cực
chạy đua vũ trang, chuẩn bị một cuộc chiến tranh tổng lực nhằm tiêu diệt Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. chính vì vậy, Liên Xô vừa phải chi
những khoản tiền lớn cho xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật, cừa phải chi tiền
cho củng cố quốc phòng để bảo vệ tổ quốc, giúp đỡ phong trào cách mạng thế
giới, đồng thời là nước đi tiên phong trong nhiều lĩnh vực khoa học – kĩ thuật và
nghiên cứu vũ trụ.
Nhân dân Liên Xô đã thu được những thắng lợi to lớn trong các kế hoạch 5
năm và 7 năm, đạt được những thành tựu về kinh tế, khoa học – kĩ thuât và vũ
trụ.
Trong lĩnh vực khoa học – kĩ thuật. Ngày 4-10-1957 Liên Xô đã phóng thành
công vệ tinh nhân tạo lên khoảng không vũ trụ mang tên “Xputnich”, trở thành
nước đầu tiên trên thế giới chinh phục vũ trụ.
Vệ tinh được phóng lên bởi một tên lửa do Cô-lô-lép chế tạo, bay quanh trái
đất theo một quĩ đạo hình bầu dục, điểm thấp nhất cách mặt đất 227km, điểm
cao nhất cách mặt đất 947km, thời gian vệ tinh được phóng lên bay vòng quanh
truy quét công đội phát xít Đức qua lãnh thổ Đông Âu, nhân dân và các lực
lượng vũ trang Đông Âu đã nổi dậy phối hợp với Hồng quân Liên Xô tiêu diệt
bọn phát xít, giành chính quyền và thành lập các nước dân chủ nhân dân: Cộng
hòa nhân dân Ba lan(22-7-1944), Cộng hoà nhân dân Hung- ga- ri(4-4-1945),
Cộng hoà Tiệp Khắc(9-5-1945), Cộng hoà liên bang nhân dân Nam Tư(29-11-
1945), Cộng hoà nhân dân An- Ba- ni(11-12-1945) và Cộng hoà nhân dân Bun-
ga- ri(15-9-1946).
Đối với nước Đức, năm 1949 có hai nước Đức ra đời. Theo kết quả của hội
nghị Pốt-xđam, các nước Mĩ, Anh, Pháp sẽ kéo quân vào Tây Đức, Liên Xô sẽ
vào Đông Đức làm nhiệm vụ tiêu diệt tận gốc chế độ phát xít, làm cho nước Đức
được thống nhất, hoà bình, phát triển và dân chủ thực sự. Tại Đông Đức Liên Xô
đã chấp hành nghiêm chỉnh những nhiệm vụ này. Nhưng với âm mưu chia cắt
lâu dài nước Đức, phục hồi chủ nghĩa phát xít và gây thù địch với Liên Xô,
tháng 9 -1949 các nước Mĩ, Anh, Pháp đã giúp đỡ các thế lực tư bản thế lực
phản động hợp nhất ba miền tạm chiếm đóng của ba nước này lại và thành lập
nhà nước Cộng hoà liên bang Đức ( Tây Đức). Liền sau đó, thể theo nguyện
vọng của nhân dân Đông Đức, dưới sự giúp đỡ của Liên Xô, ngày 7-10-1949,
nước Cộng hoà dân chủ Đức cũng chính thức được thành lập. Thủ đô Béc-lin
cũng bị chia làm hai khu vực là Đông Béc-lin dưới sự ảnh hưởng của Liên Xô
và Tây Béc-lin dưới sự ảnh hưởng của Anh, Pháp, Mĩ.
Sự ra đời của các nước dân chủ nhân dân Đông Âu là một thay đổi lớn của
cục diện Châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Từ 1945-1949, các nước dân chủ nhân dân Đông Âu đã tiến hành nhiều
nhiệm vụ quan trọng để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân như
xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, cải cách ruộng đất, quốc hữu hoá các
xí nghiệp tư bản, ban hành các quyền tự do dân chủ cho người dân…
Phương pháp sử dụng
Đây là lược đồ thể hiện vị trí địa lí và tình hình của tám nước dân chủ nhân
dân Đông Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945). GV sử dụng kênh
hình này để dạy mục I, ý 1- sự ra đời của các nước dân chủ nhân dân Đông
bằng máy móc. Quy trình sản xuất mới và các hệ thống tự động được lắp đặt ở
các nhà máy cơ khí. Năng lượng điện tử được sử dụng rộng rãi. Ngành điện tử
bắt đầu phát triển. Công nghiệp quốc phòng được nhà nước đặc biệt chú trọng.
Sau nhiều nghiên cứu và thử nghiệm, các nhà khoa học Liên xô đã chế tạo thành
công bom nguyên tử vào năm 1949. Kế hoạch phát triển công nghiệp được hoàn
thành trong vòng 4 năm 3 tháng.
Về nông nghiệp: Mặc dù những hậu quả mà chiến tranh để lại cho nông
nghiệp rất nghiêm trọng, nhưng Đảng và nhà nước Liên Xô đã kịp thời đề ra
những biện pháp nhằm nhanh chóng khắc phuc hậu quả chiến tranh và phát triển
nông nghiệp.
Công tác quản lý và tăng cường lực lượng lao động cho nông nghiệp được
chú trọng. Hàng ngàn đảng viên tình nguyện về nông thôn tham gia lao động.
Các nông trang được giao chỉ tiêu, kế hoạch chi tiết đến từng sản phẩm.
Cơ sở vật chất và kỹ thuật nông nghiệp được mở rộng và tăng cường đáng
kể. Hơn 900 trạm máy kéo và máy nông nghiệp được thành lập. Tổng số máy
kéo tăng 30%; máy liên hợp tăng 405%.
Ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn. Đến cuối năm 1948, số đầu gia súc đã
đạt mức trước chiến tranh, nhưng không đáp ứng kịp nhu cầu ngày càng tăng.
Thức ăn gia súc, thịt, sữa vẫn là những vấn đề cấp bạch cần giải quyết.
Giao thông vận tải: đạt được những thành tựu lớn, đường sắt được khôi phục
nhanh chóng, ngành đường sắt đã vượt mức kế hoạch vận chuyển hàng hoá.
Những chuyến đường sắt ở U-ran và ngoại Cáp-ca-rơ bắt đầu được xây dựng và
đưa vào sử dụng.
Quan hệ ngoại thương của Liên Xô thời kỳ này thiết lập chủ yếu với các
nước xã hội chủ nghĩa. Để tăng cường hợp tác kinh tế giữa các nước xã hội chủ
nghĩa, hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) được thành lập ở Mát-xcơ-va (tháng 1
năm 1949).
(Theo: Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Thư.
Lược sử Liên Bang Nga 1917-1991
NXB Giáo dục H.2002)
học Liên Xô trong lĩnh vực lượng tử được thế giới công nhận. Các khoa học ứng
dụng như sinh học , sinh hoá, y học cũng đạt được những thành tích lớn, đóng
gớp trực tiếp vào việc phát triển kinh tế, cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng
cao tuổi thọ của người dân.
Kỹ thuật không ngừng phát triển. Các công cụ tự động và bán tự động, các
dụng cụ kiểm soát bằng chương trình thúc đẩy trực tiếp quá trình tự động hoá
sản xuất. Nganh công nghiệp pôlime bắt đầu phát triển đã sản xuất ra các loại
vật liệu mới.
Nổi bật nhất trong các thành tựu khoa học – kỹ thuật của Liên Xô là những
thành tựu thần kỳ trong công cuộc chinh phục vũ trụ. Liên Xô là nước đầu tiên
phóng thành công vệ tinh nhân tạo lên quỹ đạo của trái đất (tháng 10/1957).
Ngày 12/4/1961 đã ghi nhận một sự kiện quan trọng – lần đầu tiên con người
bay vào vũ trụ. Những năm tiếp theo chứng kiến những thành công mới của
Liên Xô trong lĩnh vực này.
Khoa học xã hội được chú trọng phát triển.Các ngành kinh tế học, triết học,
sử học… Cũng đạt được nhiều thành tựu lớn.
I. Ga-ga-rin – Nhà du hành vũ trụ đầu tiên
trên thế giới
I-u-ri A-lếch-xây E- vích Ga-ga-rin sinh ngày 8/3/1934 tại tỉnh Smô-len-
xcơ, làng Kru-xi-nô (nay là thành phố Ga-ga-rin). Nhập ngũ năm 1955,
năm1957 anh được đào tạo trở thành phi công tiêm kích. Từ năm 1960, anh
được lựa chọn vào nhóm 20 phi công suất sắc nhất của toàn bộ quân chủng
không quân Liên Xô để tập luyện, chuẩn bị cho chuyến bay vào vũ trụ.
Ngày 12/4/1961 đã trở thành mốc son, niềm tự hào của khoa học Liên Xô và
thế giới: Lần đầu tiên con người bay vào vũ trụ. I.Ga-ga-rin đã thực hiện thành
công chuyến bay lịch sử này với 1h48’ trên con tàu vũ trụ “Phương Đông”.
Do những thành tích xuất sắc của mình, I.Ga-ga-rin đã được Đảng và nhà
nước Liên Xô chao tặng danh hiệu anh hùng Liên Xô, tiếp đó trở thành anh
hùng lao động Tiệp Khắc, Bun-ga-ri, Việt Nam. Năm 1963, được phong quân
hàm Đại tá, năm 1968 tốt nghiệp học viện kỹ thuật quân sự hàng không. Anh là
thì những người theo đường lối của dân tộc chủ nghĩa Lít- va tiến hành hoạt
động công khai. Tháng 4-1990, cùng với hai nước vùng biển Ban Tích là Lat-
vi- a và E-xtô-ni-a, Đảng Cộng Sản Lít- va tuyên bố rút ra khỏi Đảng Cộng Sản
Liên Xô và đòi độc lập. Sau cuộc chính biến thang8-1991 không thành,Liên Xô
đã công nhận nền độc lập của Lít- va.
Bức ảnh trong SGK chụp đoàn người tham gia cuộc biểu tình của người dân
Lí- va, có cả người lớn, trẻ em, đàn ông, đàn bà. Họ mang theo biểu ngữ, cờ và
bản đồ. Họ đòi tách khỏi Liên Xô để trở thành một nước độc lập. Ước muốn đòi
độc lập của họ được thể hiện trong bức tranh mà họ mang theo khi đi biểu tình.
Cụm từ viết tắt “CCCP” nghĩa là Liên Xô, hình chiến kéo cắt đôi làm hai phần:
một phần có chữ “CCCP” biểu thị cho việc tách khỏi Liên bang Xô Viết để
thành lập một nhà nước riêng. Đó la Lít- va.
Bức ảnh cũng diễn tả lại không khí tham gia biểu tình của người Lít- va đòi
độc lập trong bối cảnh chung lúc bấy giờ ở Liên Xô, góp phần thúc đẩy nhanh
chóng sự tan rã của đất nước sau gần 70 năm tồn tại của Liên bang cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Xô Viết.
Phương pháp sử dụng
Đây là bức ảnh chụp về một cuộc biểu tình đòi độc lập của nhân dân Lí- va
muốn tách khỏi Liên bang Xô Viết 1991. GV sử dụng bức ảnh này để dậy muc I
– sự khủng hoảng và tan rã của Liên bang Xô Viết (từ nửa sau những năm 70
đến những năm 90 của thế kỉ XX).
GV cho HS quan sát bức ảnh, đặt một số câu hỏi gợi mở:
- Những người dân Lít- va trong bức ảnh đang làm gì ?
- Nét mặt của họ như thế nào?
- Bức ảnh cho chúng ta biết thông tin gì về đất nước Liên Xô
trong những năm 90 của thế kỉ XX ?
- Tại sao lại có cuộc biểu tình này ?
Sau khi HS trả lời câu hỏi, GV có thể yêu cầu một HS đứng lên nhận xét về
cuộc biểu tình đòi độc lập của nhân dân Lít- va, sau đó GV kết luận.
2. Lược đồ các nước SNG
Cộng hoà Ca- dắc- xtan:diện tích 2 717 300 km
2
; dân số 17 triệu người; thủ
đô là An- ma A- ta.
Cộng hoà A- déc- bai- gian: diện tích 86 600 km
2
; dân số 7 triệu người; thủ
đô là Ba- cu.
Cộng hoà Ac- mê- ni- a: diện tích 29 800 km
2
; dân số 3,5 triệu người; thủ đô
là Ê- rê- van.
Cộng hoà Môn- đô- va: diện tích 33 700 km
2
; dân số 4,2 triệu người; thủ đô
là Ki- si- nhốp.
Cộng hoà Tát- gi- ki- xtan: diện tích 143 100 km
2
; dân số 5 triệu người; thủ
đô là Đu- san- be.
Cộng hoà Cư- rơ- gư- xtan: diện tích 143 100 km
2
; dân số 4,2 triệu người;
thủ đô là Phrun- de.
Cộng hoà Tuốc- mê- ni- xtan:diện tích 448 100 km
2
; dân số 3,5 triệu người;
thủ đô là A- sơ- kha- bát.
Riêng ba nước vùng biển Ban Tích (Lít- va, Lát- vi- a và E- xtô- li- a) đã
tuyên vố độc lập từ nửa đầu năm 1990.
lục quân. Các vị khách nói với Goóc-ba-chốp: “Thưa ngài tổng thống, ngày mai
ngài không thể về thủ đô được, ngài phải trao lại quyền hành ngay lập tức!”.
Goóc-ba-chốp không nói gì. cũng chẳng đợi Goóc-ba-chốp trả lời, Brê-kha-nốp
ra lệnh gọi một đơn vị đang đợi ở bên ngoài: “cắt đứt mọi liên hệ giữa biệt thự
tổng thống với bên ngoài”.
Đêm 18 rạng sáng 19/8/1991, uỷ ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp được
thành lập. Thành phần của uỷ ban gồm có: phó tổng thống Liên Xô G.I-A-na-ép,
Thủ tướng Páp-lốp, Bộ trưởng quốc phòng B.I-a-dốp, Bộ trưởng nội vụ B.Pu-gô
và một số nhân vật khác.
Uỷ ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp (gọi tắt là uỷ ban khẩn cấp) ban bố
tình trạng khẩn cấp trong cả nước; thay đổi cơ cấu chính quyền, đình chỉ hoạt
động các đảng phái, cấm mít tinh và biểu tình, kiểm soát các phương tiện thông
tin đại chúng. Quân đội tiến vào thủ đô Mát-xcơ-va.
Dân chúng nhìn chung không có phản ứng. Các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ,
công xưởng, cơ quan, giao thông vận tải… vẫn tiếp tục hoạt động. ở nông thôn
việc thu hoạch mùa màng vẫn được tiến hành. Chỉ ở Mát-xcơ-va và một số
thành phố lớn khác của Nga, Tổng thống Nga En-xin tập hợp được hàng ngàn
người đồng tình phản đối, dựng trướng ngại vật trước toà nhà Xô viết tối cao của
Nga. Uỷ ban khẩn cấp ban bố lệnh giới nghiêm ở Mát-xcơ-va.
Ngày 21/8, B.En-xin dần dần ổn định được tình thế, tình hình phát triển theo
chiều hướng có lợi cho En-xin. Những người lãnh đạo nhà nước Liên Xô “ủng
hộ” Uỷ ban khẩn cấp lần lượt thay đổi lập trường, nội bộ phe đảo chính tan rã.
Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tuyên bố việc gạt bỏ Tổng thống và trao
quyền cho phó tổng thống là “không hợp pháp”. Viện công tố Liên Xô khởi tố
điều tra các thành viên uỷ ban khẩn cấp. B.En-xin tuyên bố tại kỳ họp đặc biệt
của Xô viết tối cao Liên Bang Nga sẽ đảm nhận quyền lãnh đạo các lực lượng
vũ trang đóng trên lãnh thổ Liên bang nga. En-xin còn đưa ra một thông điệp
cuối cùng gửi G.Da-na-ép, lệnh cho ông ta thả M.Goóc-ba-chốp.
9 giờ tối ngày 21/8, M. Goóc-ba-chốp được trả lại tự do. 2 giờ sáng ngày
22/8, dưới bầu trời u ám, M. Goóc-ba-chốp lên chuyên cơ bay về Mát-xcơ-va.
người Nga vào cảnh nghèo khổ.
Năm 1985, Goóc-ba-chốp lên cầm quyền và phá tan bầu không khí chính trị
tĩnh nặng ở Liên bang Xô viết. Trong những quán trà, xung quanh nhà thờ, tại
các khu buôn bán, người dân dự đoán một “điềm lạ” đến với nước Nga bởi
Goóc-ba-chốp được chúa trời định cho một cái bớt trên trán. Quả thật, con người
nổi tiếng với những hành động cấp tiến này đã mang đến cho đất nước Xô viết
một cơn lốc thay đổi và cả những bí ẩn bởi cho đến giờ người ta vẫn còn tiếp tục
tranh cãi cơn lốc đó là xấu hay tốt.
Ưu tiên chính trong cuộc cải tổ (tái cơ cấu) của ông Goóc-ba-chốp là giảm
vai trò tập trung quyền lực nhà nước. ông muốn biến nền kinh tế kế hoạch thành
nền kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp được tự do làm ăn, không được nhận
trợ cấp từ nhà nước nữa nên sẽ phải tự tìm cách làm ăn có lãi. Cùng với việc tự
do hoá nền kinh tế là tự do hoá hệ thống chính trị, tự do tôn giáo, tổ chức bầu cử
tự do và xoá bỏ những quy định kiểm soát ngặt nghèo.
Đây là những thay đổi quá lớn ở một đất nước trước nay vẫn vận hành theo
một cơ chế bao cấp của nhà nước. Tất nhiên, những bước đi này đầy táo bạo và
là một đòi hỏi thiết yếu đối với đất nước Xô viết. Tuy nhiên, theo các nhà phân
tích, vấn đề là ở chỗ ông đã tiến hành những bước thay đổi quá cấp tiến, quá vội
vàng trong khi cả đất nước Xô viết vốn trì trệ, vẫn chưa được chuẩn bị gì cho
những thay đổi đó. Nghịch lý trong đường lối cải cách của Goóc-ba-chốp là ở
chỗ ông tiến quá nhanh và những kế hoạch đó tham vọng tới mức nó đe doạ tới
cuộc sống, miếng cơm manh áo của tất cả mọi người dân. Người công nhân phải
làm việc cật lực nhưng có thể mất việc bất cứ lúc nào, các ông chủ cũng có thể
bị bỏ phiếu bất tín nhiệm mà mất việc, các văn phòng Bộ, ngành có thể bị đóng
cửa bất cứ lúc nào. Để làm được cuộc cải cách đó, người dân thường Xô viết sẽ
phải trả những cái giá rất lớn mà họ không thể nhìn thấy lợi ích nào trước mắt.
Nói đúng hơn, ông Goóc-ba-chốp cũng không có đủ thời gian để gặt hái được
những thành quả từ những cải cách của mình. Bởi vậy mà công cuộc cải tổ của
ông đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi đã không nhận được sự ủng hộ rộng rãi của
người dân Liên Xô trong khi bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng cần đến quần
ở Nga. Thậm chí, mốt thời thượng của thanh niên lúc bấy giờ còn là đưa những
câu nói của ông vào trong các bài hát.
Như các nhà phân tích bây giờ đánh giá, Goóc-ba-chốp đã không thiếu
những sai lầm, nhưng cuộc cải cách của ông rốt cuộc cũng sẽ là điều tất yếu ở
Liên Xô. Rất nhiều những di sản tiêu cực bắt đầu từ những năm 1990 đến bây
giờ vẫn còn tiếp tục. Xong công cuộc cải tổ đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng
trong lịch sử xô viết, dù rằng bước ngoặt vẫn được đánh giá là còn giang dở cho
đến tận ngày nay.
Bài 3. Quá trình phát triển của phong trào giải phóng dân tộc và sự tan
rã của hệ thống thuộc địa
1. Những nét lớn Địa lí, lịch sử xã hội châu phi
Với diện tích hơn 30 triệu km
2
, là châu lục lớn thứ ba trên thế giới, sau châu
á và châu Mĩ, châu Phi có nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và nhiều nông
sản quý.
Phần lớn châu Phi có khí hậu nóng, khô, Hoang mạc Xa-ha-ra là hoang mạc
lớn nhất thế giới. Dân cư đa phần thuộc chủng tộc Nê-gro-ít, có nước da nâu
sẫm.Đầu thế kỉ XX. Hầu hết các quốc gia ở châu lục này vẫn là thuộc địa của
các nước đế quốc. Cho đến giữa thế kỉ XX, cuộc chiến tranh vì độc lập dân tộc
của các nước châu Phi mới giành được thắng lợi.
Sau khi thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, các nước châu Phi
bắt tay ngày vào công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế –xã hội. Đây là
cuộc đấu tranh cực kì gian khổ và lâu dài vì các nước này có nền tảng kinh tế và
cơ sở xã hội lạc hậu hơn nhiều so với các nơi khác trên thế giới.Hơn nữa, các
nước này được thành lập trong khuôn khổ thuộc địa cũ, trước đây vốn được
phân chia theo sức mạnh và sự thoả hiệp giữa các nước đế quốc chứ không có
đường biên giới tự nhiên và phân bố dân cư theo sắc tộc. Vì thế, tình trạng xung
đột sắc tộc là khó tránh khỏi.
Sau một thời gian nỗ lực ổn định chính trị và phát triển kinh tế, các nước
Xê-nê-gan: 68%;Ma-rốc: 64%; Li-bê-ri-a: 63%; Cộng hoà Nam Phi: 50%
Châu phi còn được gọi là “lục địa của bệnh AIDS” số người mắc bệnh chiếm
tỉ lệ cao nhất thế giới.
Cho đến nay, tình trạng khó khăn của châu Phi vẫn chưa được khắc phục,
mặc dù các nước châu Phi đang có những lỗ lực nhằm tìm ra chiến lược phát
triển cho các nước.
Cộng đồng quốc tế thực sự quan tâm và giúp đỡ các quốc gia ở lục địa này.
Tuy nhiên, tình hình châu Phi vẫn chưa có những cải thiện cản bản.
(Theo:Nguyễn Anh Thái (Chủ biên),
Lịch sử quan hệ quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc
á-Phi-Mĩ La Tinh, NXB Giáo Dục, 1998, tr.85-86)
2. Chế độ A-pác-thai ở Nam phi
Chủ nghĩa A-pác-thai là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc cực đoan và tàn bạo,
được thực hiện tại Nam Phí. Từ A-pác-thai (Apartheid) là ghép hai từ tiếng Hà
Lan nói ở Châu Phi: Apart là “tách biệt”, và heid là “chủng tộc”. Những người
theo chủ nghĩa A-pác-thai lập luận rằng người da trắng và người da đen không
thể bình đẳng được, phải sống tách biệt nhau và chỉ có sự tách biệt theo màu da
thì mới có thể đảm bảo được sự phát triển của chúng tộc và quốc gia.
Đạo luật đầu tiên về chủ nghĩa A-pác-thai được ban hành ở Nam Phi vào
năm 1913 và tăng cường mạnh mẽ từ năm 1948, khi chính quyền này vẫn lấy
chủ nghĩa A-pác-thai làm quốc sách của họ. Người da trắng (Chủ yếu là người
Hà Lan, Anh) chỉ chiếm 1/5 dân số, nhưng họ nắm trong tay 87% đất đai trồng
trọt, 75% tổng số thu nhập và toàn bộ hầm mỏ, xí nghiệp, ngân hàng, giao thông
vận tải… Chính quyền da trắng ở Nam Phi còn gọi là chính quyền Prê-tô-ri-a –
Prê-tô-ri-a là thủ đô của nước cộng hoà Nam Phi) ban hành hơn 70 đạo luật phân
biệt chủng tộc như “Luật cách li chủng tộc”, “Luật trị an công cộng”, “Luật giao
thông”, “Luật giấy thông hành”…theo đó, những người da đen và da màu (70%
dân cư là người da đen, 9% là người lai, còn lại là người ấn Độ và các Kiều dân
khác phải sống trong những khu riêng biệt, chữa bệnh ở những bệnh viện riêng,
đi học ở những trường học riêng và đặc biệt họ bị xét xử theo những luật pháp
Bắc Phi với thắng lợi mở đầu là cuộc chính biến cách mạng của binh lính, sĩ
quan ai cập (tháng 7/1952), lật đổ nền thống trị thực dan Anh và vương triệu
Pha-rúc, thành lập nước cộng hoà Ai Cập.
- Từ năm 1954 – 1960, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở
Bắc Phi, Tây Phi, Châu Phi Xích đạo. nhiều nước Bắc phi và Tây phi đã gình
được độc lập.
- Từ năm 1960-1975, phong trào giải phóng dân tộc ngày càng dâng cao.
Năm 1960, được gọi là “năm Châu Phi”, vì trong năm này 17 quốc gia châu
Phi đã giành được độc lập, trong đó có 8 quốc gia cùng giành được độc lập trong
tháng 8, đó là:
- Đa-hô-mây (Bê-nanh) giành độc lập ngày 1/8 với dân số 1,7 triệu người,
diện tích 112622km
2
.
- Cộng hoà Ni-giê giành độc lập ngày 3/8, với dân số 2,5 triệu ngừơi, diện
tích 1267000km
2
.
- Cộng hoà Thượng Vôn-ta (Buóoc – ki-na Pha-xô) giành độc lập ngày 5/8
với 3,3 triệu người, diện tích 247200km
2
.
- Bờ biển Ngà (Cốt-đi-voa) giành độc lập ngày 7/8 với 2,5 triệu người, diện
tích 322464km
2
.
- Cộng hoà Trung Phi giành độc lập ngày 13/8 với 1,1 triệu người, diện tích
622984km
2
.
bộ cuộc xung đột ở Su - đăng và bắt đầu một giai đoạn mới trong quan hệ giữa
đất nước này với các nước láng giềng châu Phi, châu Âu và cả Mĩ, Lại một lần
nữa, người ta thấy sự dàn xếp của Mĩ. Một mặt, chính quyền Bu-sơ ủng hộ lực
lượng nổi dậy ở miền Nảmtong một thời gian dài và không ngừng gây sức ép lên
Chính phủ Su - đăng trong quá trình đàm phán. Mặt khác, Mĩ kêu gọi Chính phủ
Su - đăng và quân nổi dậy SPLM phối hợp chấm dứt cuộc khủng hoảng Đác-phu
và Mĩ sẽ nâng cấp quan hệ với Su-đăng “một cách tích cực” khi nào việc này
được thực hiện.
Về phần mình, là nước đã từng phản đối việc Mĩ đe doạ áp đặt lệnh trừng
phạt với Su-đăng, Nga tập trung ca ngợi cố gắng của cộng đồng quốc tế đặc
biệtlà Liên hợp quốc, Liên minh châu Phi trong việc giải quyết cuộc xung đột tại
Su-đăng. Nga cũng sẵn sàng giúp đỡ Su-đăng giữ gìn sự thống nhất và xây dựng
kinh tế. Tổng thư kí Liên hợp quốc Cô-phi An-nan, người vừa kết thúc chuyến
thâmccs nạn nhân sóng thần trong 2 ngày tại Sri Lan-ka, cũng bày tỏ sự “phấn
khởi” trước nền hoà bình đang mở ra ở Su-đăng sau khi hiệp định được kí kết.
Rõ ràng, cả thế giới đang hồi hộp theo dõi diễn biến tình hình tại Su-đăng
với hị vọng người dân tại đây có thể đạt được một nền hoà bình thực sự. Tuy
nhiên, trước mắt họ còn vô vàn khó khăn. Cuộc xung đột tại Su-đăng, vốn chỉ
mang tính chất sắc tộc- tôn giáo giữa hai miền Nam – Bắc, tưởng như đã được
giải quyết bỗng chốc bùng phát dữ dội trong những năm1970 vì lí do phát hiện
được mỏ dầu có sản lượng khoảng 2 tỉ thùng.Liệu rằng một kịch bản tương tự có
thể tái diễn hiệp định hoà bình quy định lợi nhuận từ dầu lửa sẽ được chia đều
theo tỉ lệ 50-50 cho cả hai bên Chính phủ và SPLM sau thời kì quá độ 6 năm?
Một khó khăn nữa là tại miền Nam, mặc dù không bị áp dụng điều luật Hồi
giáo hà khắc Sa-ri-a như ở miền Bắc, nhưng có rất nhiều người dân bị ảnh
hưởng bởi xung đột, hơn 4 triệu người đã rời bỏ quê hương, đi lên phía Bắc, tập
trung tại Khắc-tum hoặc trong các trại tị nạn. Chỉ cònlại khoảng 8 triệu người ở
lại trên mảnh đất đã bị xung đột tàn phá nặng nề. Họ sẽ phải xây dựng lại miền
Nam, một nơi thiếu hoàn toàn cơ sở vật chất hạ tầng và cả sức người. Thậm chí,
có những vùng không có cả điện lẫn nước và tỉ lệ mù chữ lên đến 80%. Ngoài
được đổi là Prê-tô-ri-a. Thú vụ ửo chỗ tên Tơ-soa-nê nghĩa là “chúng ta giống
nhau” hay “chúng ta là một vì chúng ta cùng chung sống”.
Sau gần 300 năm tồn tại dưới chế độ thuộc địa và phân biệt chủng tộc, chúng
tôi muốn phục hồi bản sắc văn hoá và di sản của mình bằng cách lấy lại những
gì đã bị mang đi. Tuy nhiên chúng tôi vẫn tôn trọng những quy định của Hiến
chương tự do là “Nam Phi thuộc về tất cả những người sống ở đó, bất kể là da
trắng hay da màu…”
(Theo: Báo Quốc tế, tháng 4-2005)
6. Mĩ La-tinh - Lục địa bùng cháy
Mĩ La-tinh bao gồm hơn 20 nước ở Bắc, Trung và Nam châu Mỹ, từ Mê-hi-
cô đến ác-hen-ti-na, chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá La-tinh, có diện tích
trên 20 triệu km
2
. Mĩ La-tinh có nhiều tài nguyên, phong phú về nông sản, lâm
sản, khoáng sản.
Năm 1492, Cô-lông-bô tìm ra châu Mỹ và cho đến năm 1500, thực dân Tây
ban nha đã xâm chiếm hầu hết vùng đất này. Trải qua nhiều năm đấu tranh anh
dũng, đến đầu thế kỷ XIX, các thuộc địa Tây Ban Nha đều giành được độc lập.
Nhưng sau đó, thực dân Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Mĩ đã xâm lược và thống trị
các nước này.
Năm 1933, Tổng thống Mỹ F.Ru-dơ-ren đưa ra chính sách “láng giềng thân
thiện”, mở đầu thời kỳ thực dân mới ở Mĩ La-tinh.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, với ưu thế về kinh tế và quân sự, Mĩ đã tìm
cách biến Mĩ La-tinh thành “Sân sau” của mình. Mỹ gây sức ép buộc các nước
Mĩ La-tinh chấp nhận “kế hoạch Cô-lay-tơn” – Còn gọi là “Hiến chương kinh tế
của châu Mỹ” với nội dung tự do buôn bán, tự do đầu tư, tự do mở xí nghiệp, tạo
điều kiện cho tư bản Mỹ xâm nhập rộng rãi vào các nước Mĩ La-tinh.
Mỹ còn ép các nước Mĩ La-tinh tham gia hàng loạt hiệp ước quân sự với sự
khống chế chặt chẽ của Mĩ như hiệp ước phòng thủ chung tây bán cầu (1947),
Hiệp ước quân sự tay đôi (1952), Hiệp ước chống cộng (1954)…
- Từ sau thắng lợi của cách mạng Cu-ba, nhiều nước Mĩ La-tinh đã ủng hộ
mạnh mẽ, kiên quyết những thành quả của cách mạng Cu-ba. Đây là một trong
những nhân tố quan trọng giúp Cu-ba đứng vững trong cuộc bao vây, tấn công
của Mĩ.
(Theo:Nguyễn Anh Thái (chủ biên),
Lịch sử Quan hệ quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc
á - Phi – Mĩ – la – tinh, Nxb GD, H.199, tr.93-95)
Bài 4 – các nước châu á
1.Hình. Chủ tịch Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước cộng hoà
nhân dân Trung Hoa.
Nội dung
Mao Trạch Đông (1893- 1976), quê ở Hồ Nam, xuất thân trong một gia đình
nông dân nghèo, sau dần chuyển thành phú nông kiêm buôn bán thóc gạo. Sau
này ông tốt nghiệp trung học sư phạm.
Mao Trạch Đông là một trong những nhân vật chính trị nổi tiếng trong lịch
sử hiện đại Trung Quốc. Ông là một những người sáng lập ra Đảng cộng sản
Trung Quốc (7-1921) và là người có công lao to lớn trong việc thống nhất lục
địa Trung Quốc như một quốc gia.
Trong cuộc vạn lí trường trinh phá vòng vây của quân đội Tưởng Giới Thạch
để tiến lên khu căn cứ phía Bắc, tại hội nghị quân nghĩa ( tỉnh Lí Châu), tháng
11-1945 Mao Trạch Đông được cử nắm quyền lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung
Quốc. Cũng kể từ đó,ông lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống
Nhật (1937-1945), và cuộc đấu tranh chống Tưởng Giới Thạch (1945-1949),
hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc.
Ngày mùng 1- 10- 1949, trong không khí mít tinh ăn mừng chiến thắng của
hơn 30 vạn nhân dân thủ đô Bắc Kinh trên quảng trường Thiên An Môn, chủ
tich Mao Trạch Đông trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới sự ra đời của nhà
nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Cũng từ đó ông trở thàng chủ tịch nước
đầu tiên của nước CHND Trung Hoa.
Năm 1958, Mao Trạch Đông phát động phong trào “Đại nhảy vọt” và “công
đoàn Tưởng Giới Thạch. Nền thống trị của quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch
cầm đầu đến đây chính thức diệt vong. Đến cuối năm 1949, toàn bộ lục địa
Trung Quốc được giải phóng, trừ Tây Tạng. Tập đoàn Tưởng Giới Thạch phải
tháo chạy ra đảo Đài Loan.
Ngày 1-10-1949, Nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa tuyên bố chính thức
thành lập, do Mao Trạch Đông làm chủ tịch.
Như vậy cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc hoàn thành thắng lợi năm
1949 là một trong những sự kiện thắng lợi to lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với
lịch sử Trung Quốc nói riêng và lịch sử thế giới thời kì sau chiến tranh thế giới
thứ 2 nói chung. Thắng lợi này đã kết thúc hơn 100 năm ách nô dịch và thống trị
của đế quốc, phong kiến, tư sản mại bản, đưa nhân dân Trung Quốc vào kỉ
nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội .
Với diện tích hơn 9,5 triệu km
2
, bằng 1/4 Châu á và chiếm gần 1/4 dân số thế
giới, thắng kợi của cách mạng Trung Quốc năm 1949 đã tăng cường lực lượng
của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới, hình thành một hệ thống xã hội chủ
nghĩa kéo dài từ Âu sang á. Đồng thời, thắng lợi này cũng ảnh hưởng sâu sắc
đến sự phát triển của phong trao giải phóng dân tộc ở Châu á, đặc biệt là Đông
Nam á.
Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, Trung Quốc bước vào thời
kì cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nhiệm vụ đưa Trung Quốc từ một
nước nông nghiệp nghèo nàn , lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giai
đoạn Tư bản chủ nghĩa.
Phương pháp sử dụng
Đây là lược đồ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa sau ngày thành lập
(1949). GV sử dụng kênh hình này để giảng dạy mục II, ý 1- Sự ra đời của nước
cộng hoà nhân dân Trung Hoa. GV cũng có thể khai thác nội dung lược đồ này
kết hợp với hình 5- Chủ tịch Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước CHND
Trung Hoa để giảng dạy cho HS.
đến tham quan mỗi năm.
Trong ảnh là một góc nhỏ của thành phố Thượng Hải hơn 20 năm Trung
Quốc tiến hành công cuộc cải cách- mở cửa, những toà nhà lớn, cao kéo dài suốt
thành phố chính là những trung tâm công nghiệp, thương mại, khu tiền tệ, văn
hoá mọc lên san sát. Đặc biệt ở đây có hệ thống giao thông dày đặc với nhiều
làn đường giành cho các loại xe ô tô, xe máy… tất cả đều toát lên sự sầm uất và
nhộn nhịp của thành phố.
Hiện nay, với việc mở rộng thành phố ra ngoại vi, xây dựng khu kinh tế tổng
hợp phố Đông, chắc chắn không lâu nữa, Thượng Hải sẽ trở thành một trung
tâm kinh tế, tài chính có tầm cỡ bậc nhất của Trung Quốc và ven bờ biển Thái
Bình Dương.
Phương pháp sử dụng
Đây là bức ảnh chụp một góc thành phố Thượng Hải của Trung Quốc sau
hơn 20năm đất nước này tiến hành công cuộc cải cách- mở cửa (1978-2001).
GV sử dụng bức ảnh này để dạy mục II, ý 4- công cuộc cải cách – mở cửa
(1978 đến nay) trong bài.
GV yêu cầu HS quan sát toàn diện bức ảnh một cách khái quát, rồi đặt câu
hỏi gợi mở, kích thích sự suy nghĩ của HS:
- Nhìn vào bức ảnh, các em có nhận xét gì về thành phố Thượng
Hải ?
- Thành phố này nằm ở đâu ?
- Thượng Hải có ý nghĩa như thế nào đối với công việc thúc đẩy sự phát
triển nền kinh tế của Trung Quốc ?
Sau khi đặt câu hỏi, GV tiến hành miêu tả bức ảnh có phân tích như nội dung
khai thác ở trên.
4.Hình. Hà Khẩu- thủ phủ tỉnh Hải Nam, đặc khu kinh tế lớn nhất Trung
Quốc.
Nội dung
Hà Khẩu là thành phố nằm ở bờ Nam eo biển Quỳnh Châu, thuộc phía Bắc
đảo Hải Nam, do con sông lớn của tỉnh đảo Hải Nam- sông Nam Độ, đổ ra biển