PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRANH ẢNH VÀ LƯỢC
ĐỒ TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ- sử 9-
Bài 28
Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền
Sài Gòn ở miền Nam (1954-1965)
1.Đồng bào Hà Nội đón bộ đội vào tiếp quản thủ đô
Bộ đội tiến về Hà Nội 10-10-1954
Theo kế hoạch đã định, ngày 8/10/1954, các đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam chia làm
nhiều hướng tiến vào ngoại thành Hà Nội. Đến 16h30’, Bộ đội ta tiến đến đường Đê La
Thành, Vĩnh Tuy, Bạch Mai, Cầu Giấy, Nhật Tân. Sáng ngày 10/10/1954, quân đội ta
chia làm nhiều canh tiến vào 5 cửa ô. Trên ảnh thể hiện đoàn quân đang tiến vào phía Bắc
thành phố. Trên đường một biểu ngữ lớn lối liền 2 dãy phố với hàng chữ: “Hoan nghênh
quân đội nhân dân vào giải phóng Hà Nội”. Từ các ô cửa sổ của các ngôi nhà 2 bên phố,
những lá cờ đỏ sao vàng phấp tung bay. Hai bên hè phố, quần chúng nhân dân gồm già,
trẻ, gái, trai tay cầm cờ, hoa, biểu ngữ vẫy chào bộ đội. ở giữa lòng đường, bộ đội với ba
lô trên lưng, đầu đội mũ bọc vải đang bước đi trong hàng quân tiến vào thành phố.
Bức ảnh được sử dụng khi dạy học phần “Tình hình, nhiệm vụ mới của nước ta sau Hiệp
định Giơnevơ 1845”.
Khi sử dụng, giáo viên cần kết hợp với tài liệu tham khảo để miêu tả. Trước khi trình bày,
giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức ảnh, nêu lên nội dung qua gợi mở của thầy.
Tiếp theo, giáo viên bổ sung và trình bày: “Theo kế hoạch đã định, ngày 8/10/1954, các
đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam chia làm nhiều đường tiến vào ngoại thành Hà Nội.
Chiều 9/10/1954, quân đội ta tập kết tại cẩccô thành phố. Sáng 10/10/1954, các đơn vị
quân đội ta, trong đó có các chiến sĩ của trung đoàn Thủ đô -những người con tám năm
trước « Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh », đã trở về Hà Nội trong đoàn quân chiến
thắng.”Trùng trùng quân đi như sóng, lớp lớp đoàn quan tiến về”. Các cánh quân bao
gồm bộ binh, pháp binh, cao xạ, cơ giới chia làm nhiều hướng tiến vào thành phố. Sau đó
toả ra các khu rồi lần lượt tiếp quản nhà ga Hà Nội, Phủ Toàn quyền, khu Đồn thuỷ, Bờ
Hồ, Bắc Bộ Phủ… Bộ đội ta tiến đến đâu, bộ mặt thành phố biến đổi đến đó. Trước đó,
phố xá còn im ắng, lặng lẽ, mọi nhà đóng chặt cửa. Nhưng khi đoàn quân tiếp quản đến,
người phụ nữ nông dân mặc quần đen, áo cánh nâu, đầu chít khăn mỏ quạ, bế trên tay đứa
con nhỏ, ăn mặc sạch sẽ và ấm áp,người phụ nữ trên môi nở nụ cười, nét mặt rạng rỡ đầy
phấn khởi, hài lòng. Trước mặt người phụ nữ là anh bộ đội đang cắm tấm biển (chắc là
tên người phụ nữ) vào thửa ruộng mà chị được chia. Từ đây, chị đã trở thành chủ thửa
ruộng đó, điều mà trước đây chị cũng như bao người dân cày nghèo khác có lẽ chỉ có
được trong những giấc mơ. Đảng và Chính phủ đã làm cuộc đổi đời cho họ. Từ nay, chị
và gia đình sẽ thoả sức cày cấy trên những thửa ruộng đó, tạo ra nhiều lúa gạo, bảo đảm
đời sống ấm no cho gia đình và ủng hộ cho kháng chiến. Tin gia đình được chia ruộng đất
bay đến chiến trường Điện Biên Phủ, đã góp phần không nhỏ trong việc động viên tinh
thần đối với các chiến sĩ Điện Biên, thúc đẩy các anh thêm hăng hái chiến đấu, quyết tâm
chiến thắng quân thù.
-Hướng dẫn sử dụng :
GV cho HS quan sát đồng thời tổ chức cho HS trả lời các câu hỏi:
Thái độ của nông dân khi được chia ruộng đất?
ý nghĩa của việc công cuộc cải cách ruộng đất?
HS trả lời câu hỏi. GV nhận xét và chốt ý.
3. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phó chủ tịch nước Tôn Đức Thắng (Tháng 7/1960)
Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng cụ Tôn Đức Thắng được bầu làm Phó Chủ tịch nước
tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II (tháng 7-1960).
Mùa thu năm 1960, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng tại Thủ đô Hà
Nội, chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đại hội lần này là đại hội xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà
-Nội dung :
Từ ngày 7-15/7/1960 diễn ra kỳ họp thứ nhất của quốc hội khoá II. Quốc hội đã bầu Hồ
Chí Minh giữ chức Chủ tịch nước, Tôn Đức Thắng giữ chức Phó chủ tịch nước, Trường
Chinh giữ chức chủ tịch uỷ ban thương vụ Quốc hội, Phạm Văn Đồng giữ chức Thủ
tướng Chính phủ. Quốc hội bầu hội đồng quốc phòng, cử viện trưởng viện kiểm sát nhân
Trong bối cảnh đó, hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành trung ương Đảng ta đã họp
(tháng 1/1959) và chỉ rõ con đường cho cách mạng miền Nam. Dưới ánh sáng nghị quyết
hội nghị 15, ngọn lửa “Đồng khởi” trên nhiều vùng ở miền Nam đã bùng lên mạnh mẽ.
Từ tháng 2/1959, nhân dân ở vùng Đông và Tây Bắc Ái (Ninh Thuận) đã nổi dạy phá tề,
trừ gian; tháng 4/1959, nhân dân làng Tà Boóc, huyện Đắc Lây (Kon Tum) và nhiều làng
khác ở Kon Tum, Đắk Lắk đã nổi dậy diệt ác, rời làng vào rừng chống Mỹ-Diệm. Tháng
8/1959, tại các xã Trà Phong, Trà Lãnh, Trà Quân… thuộc huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi)
nhất loạt chiêng trống, tù và nổi lên triệu tập nhân dân đứng dậy tiêu diệt bọn cảnh sát,
bảo an… Phong trào phát triển nhanh chóng thành cao trào “Đồng khởi”, trong đó tiêu
biểu là ở Bến Tre.
Ngày 17/1/1960, nhân dân các xã Định Thuỷ, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ
Cày với gậy gộc, giáo mác… đã nổi dạy đánh đồn, diệt ác ôn, giải tán chính quyền địch,
giành lấy quyền làm chủ ở thôn xã. Cuộc nổi dậy lan ra toàn huyện mỏ cày, toàn tỉnh Bến
Tre và toàn Miền Nam.
“Đồng khởi” đã làm cho hệ thống kìm kẹp của Mĩ – Diệm ở thôn xã bị phá vỡ từng mảng
lớn. Ngày 20/12/1960, mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam – người đại diện
chân chính của nhân dân miền Nam đã ra đời…
-Hướng dẫn sử dụng :
GV cho HS quan sát đồng thời tổ chức cho HS trả lời các câu hỏi:
-Trước hết GV cho HS quan sát lược đồ, giới thiệu khái quát lược đồ. Đồng thời tổ
chức cho HS khai thác lược đồ với các câu hỏi:
-Địa điểm những nơi nhân dân nổi dậy?
-Phong trào đồng thời phát triển như thế nào?
-Nêu nhận xét về phong trào Đồng khởi?
5.Hình. Nhân dân nổi dậy ở Trà Bồng (Quảng Ngãi năm 1959)
Nông dân nổi dậy ở Trà Bồng ( Quảng Ngãi-năm 1959)
-Nội dung :
Đây là bức ảnh rút ra từ tập ảnh được lưu giữ tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam
Trong ảnh là cảnh nhân dân người dân tộc Co ở vùng cao huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng
Ngãi mang theo các biểu ngữ kéo nhau ra rãy, ra rừng, nhằm tẩy chay cuộc bầu cử của
vội vã về phía trước. Qua bức ảnh ta thấy, đây là một chiến thuật hiện đại, diễn ra hết sức
nhanh chóng, bất ngờ, nhằm tiêu diệt lực lượng đối phương.
-Hướng dẫn sử dụng
GV cho HS quan sát đồng thời tổ chức cho HS trả lời các câu hỏi:
-Em hiểu thế nào về chiến thuật “trực thăng vận”?
-Quân Mĩ được trang bị như thế nào khi thực hiện chiến thuật “trực thăng vận”?
Sau khi Hs trả lời GV nhận xét và kết luận như nội dung trên.
7.Hình . Phá ấp chiến lược khiêng nhà về làng cũ
Ấp chiến lược
Phá “ấp chiến lược”, khiêng nhà về làng cũ
-Nội dung :
Trong việc tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” dựa vào lực lượng quân sự và
bằng những cuộc hành quân càn quét, Mĩ – Nguỵ ráo diết dồn dân, lập “ấp chiến lược” .
Chúng dự định dồn 10 triệu dân vào 16 nghìn ấp trong tổng số 17 nghìn ấp toàn miền
Nam bằng những thủ đoạn cưỡng bức trắng trợn. ấp lập đến đâu, địch giăng đồn bốt, bảo
an, dân vệ, chính quyền đến đó để kìm kẹp.
Nhân dân trong các “ấp chiến lược” bị kiểm soát gắt gao, ngột ngạt như trong các trại tập
trung. Mỹ – Nguỵ coi “ấp chiến lược” là một “quốc sách” và lập ấp chiến lược như một
cuộc chiến tranh tổng lực nhằm đẩy lực lượng cách mạng ra khỏi các xã, ấp, tách dân
khỏi cách mạng, tiến tới nắm dân, thực hiện chương trình “Bình định” miền Nam.
Để chống địch “Bình định”, cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra giai dẳng, giằng co
nhau quyết liệt giữa lập và phá “ấp chiến lược”. Đến cuối năm 1962, mặc dù Mĩ- Nguỵ
đã huy động gần như toàn bộ quân vào nhiệm vụ càn quét, dồn dân, lập ấp chiến lược
nhưng chúng cũng chỉ thực hiện được một phần kế hoạch bình định. Trên nửa tổng số ấp
với gần 70% nông dân (6,5 triệu) toàn miền Nam vẫn do cách mạng kiểm soát.
Trong ảnh là cảnh nhân dân phá “ấp chiến lược” khiêng nhà về làng cũ. Nhà được làm
bằng tre, luồng và lợp gianh (rơm dạ đánh thành từng tấm). Có đến gần 2 chục người cả
ông già và thanh niên tham gia cùng với bộ đội và du kích. Không khí thật khẩn trương,