BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ KIM DUNG NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG
PHÂN BÓN ĐẾN CÂY VÀ ĐẤT TRONG TRỒNG NGÔ
TRÊN ĐẤT DỐC TẠI SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Mã số : 60.85.02
Người hướng dẫn : PGS.TS. NGUYỄN NHƯ HÀ
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được nhiều sự quan tâm và chỉ bảo tận tình của các tập thể, cá nhân.
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn đối với sự giúp đỡ quý báu
của các thầy cô giáo Bộ môn Nông Hóa; Bộ môn Vi Sinh và các thầy, cô giáo
Khoa Tài Nguyên và Môi trường; Viện sau đại học trường Đại học Nông
nghịêp Hà Nội đã tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự giúp đỡ và chỉ bảo
tận tình của hai thầy cô là Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Như Hà và Thạc sỹ Lê
Bích Đào, những người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình triển khai
thực hiện đề tài nghiên cứu và viết luận văn.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đối với sự giúp đỡ quý báu của Trung tâm
Phát triển nông lâm nghiệp miền núi Phía Bắc tại tỉnh Sơn La và nhân dân địa
phương đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này.
Bản thân tôi có được thành quả ngày hôm nay, không thể quên được sự
động viên, giúp đỡ của gia đình, người thân và bạn bè đã cùng cảm thông, chia
sẻ những khó khăn vất vả và tạo mọi điều kiện để tôi yên tâm làm luận văn.
Một lần nữa cho phép tôi được cảm ơn những ý kiến đóng góp của các
Thầy trong Hội đồng và sự có mặt của bạn bè đồng nghiệp trong buổi bảo vệ
của tôi hôm nay là nguồn động viên cổ vũ to lớn đối với tôi.
Xin chân thành cảm ơn!.
Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2012
Học viên
Nguyễn Thị Kim Dung
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
iii
iv
3.1 Đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
3.3 Phương pháp nghiên cứu 33
3.3.1 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng 33
3.3.2 Phương pháp phân tích đất và cây 34
3.3.3 Các phương pháp nghiên cứu khác 36
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Kết quả điều tra tình hình sản xuất lương thực và ngô tại Sơn La 39
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Sơn La 39
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La 40
4.1.3 Tình hình sản xuất lương thực và ngô tại Sơn La 41
4.2 Đánh giá tác động của việc bón phân trong trồng ngô 46
4.2.1 Tác động của phân bón đến đến cây ngô trong quá trình trồng trọt 46
4.2.2 Tác động của việc sử dụng phân bón tới khả năng che phủ bảo vệ
đất của cây ngô 49
4.2.3 Tác động của việc bón phân trong trồng ngô tới sức sản xuất của đất 53
4.2.4 Hiệu quả năng lượng của việc bón phân 55
4.2.5 Đánh giá tác động của việc sử dụng phân bón trong trồng ngô tới đất 57
4.3 Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng xấu của tình trạng sử
dụng phân bón trong trồng ngô trên đất dốc 62
4.3.1 Khả năng ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường của tình trạng sử
dụng phân bón trong trồng ngô 62
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Đề nghị 68
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
2-2 Bón phân đạm làm tăng năng suất và hàm lượng protein trong hạt ngô 13
2.3 Ảnh hưởng của bón phân khoáng tới các chất bị mất do xói mòn đất 17
2-4 Ảnh hưởng của bón phân cho ngô tới tình trạng vi sinh vật trong đất 18
2-5 Lợi ích của che phủ trên đất có độ dốc 10% 24
2-6 Tình hình sử dụng phân hóa học và năng suất trên đất Đông Anh 27
2-7 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sản xuất & năng suất đất
đồi xấu 28
2-8 Hàm lượng NO
3
−
trong rau thâm canh bằng phân hóa học &
phân chuồng 28
2-10 Ảnh hưởng của các kiểu phối hợp phân bón đến khả năng ổn
định địa bàn trồng dứa 29
2-10 Bón phân cân đối, không cân đối và năng suất ngô ở Mỹ 31
4-1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô tại Sơn La 43
4-2 Hiện trạng sử dụng phân bón trong trồng ngô của nông dân tại 3
huyện điều tra 44
4-3 So sánh hiện trạng sử dụng phân bón của nông dân với quy trình
hướng dẫn 45
4-4 Diện tích, năng suất ngô năm 2010 tại Sơn La 45
4-5 Tác dụng của phân bón đối với cây ngô trong quá trình trồng trọt 46
4-6 Ảnh hưởng của bón phân tới tình trạng các chất khoáng N,P,K
trong hạt và phụ phẩm của cây ngô (%) 48
4-7 Ảnh hưởng của bón phân tới khả năng che phủ đất của cây ngô 50
4-8 Ảnh hưởng của bón phân cho ngô đến khả năng sản xuất của đất 53
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
vii
Hình 2.2: Diễn biến của nitơ khi bón vào đất [8] 20
Đồ thị 4.1. Lượng mưa và nhiệt độ không khí tại Sơn La, bình quân giai
đoạn 2009 - 2011 40
Đồ thị 4.2. Diện tích, năng suất và sản lượng ngô qua các năm tại Sơn La 43
Đồ thị 4.3. Ảnh hưởng của bón phân đến chiều cao cây ngô qua các giai
đoạn phát triển. 47
Đồ thị 4.4. Ảnh hưởng của phân bón đến diện tích lá của cây ngô tại thời
điểm 60 ngày trồng 51
Đồ thị 4.5. Ảnh hưởng của việc bón phối hợp phân chuồng và vô cơ tới
diện tích lá (công thức 6) 51
Hình 4.1. Mô hình ủ phân 67 Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, sản xuất nông nghiệp
sẽ ngày càng chiếm một tỷ trọng nhỏ trong GDP của mỗi quốc gia, mỗi vùng
lãnh thổ. Nhưng mãi mãi đóng vai trò quan trọng và không ngành nào có thể
thay thế được. Vì nó không chỉ đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, cung
cấp nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và
chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất ra những mặt hàng có giá trị xuất
khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ, mà còn góp phần quan trọng cho ổn định
chính trị, an sinh xã hội cho mỗi quốc gia. Trên 40% số lao động trên thế giới
đang tham gia vào hoạt động nông nghiệp, phần lớn diện tích đất đai đang
được sử dụng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Ở Việt Nam hiện nay tỷ lệ
nông nghiệp mà chủ yếu là trồng trọt. Trong đó cây trồng chính là ngô và đất
canh tác chính lại là đất dốc. Vì vậy, trong hoàn cảnh dân số ngày càng tăng,
quỹ đất sản xuất lương thực có hạn, không còn con đường nào khác buộc Sơn
La phải thâm canh ngô trên đất dốc để đảm bảo an ninh lương thực và an sinh
xã hội nhưng phải gắn liền với bảo vệ môi trường.
Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn nêu trên, chúng tôi thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu tác động của việc sử dụng phân bón đến cây và đất
trong trồng ngô trên đất dốc tại Sơn La” để góp phần phát triển sản xuất ngô
bền vững trên đất đồi núi.
1.2. Mục tiêu của đề tài
• Đánh giá tác động của việc sử dụng phân bón tới cây ngô và đất trồng
ngô
• Xác định ảnh hưởng xấu của việc sử dụng phân bón tới môi trường trong
trồng ngô trên đất dốc
• Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng xấu của việc sử dụng phân
bón trong trồng ngô trên đất dốc
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
3
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Sản xuất nông nghiệp trên đất dốc và vấn đề môi trường
2.1.1. Vai trò của sản xuất nông nghiệp
2.1.1.1. Đáp ứng nhu cầu thiết yếu và an sinh xã hội
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người nông nghiệp là ngành sản
xuất ra đời đầu tiên. Từ lâu nông nghiệp được coi là một trong hai ngành sản
xuất vật chất cơ bản của xã hội bao gồm công nghiệp và nông nghiệp. Vai trò
quan trọng của nông nghiệp thể hiện ở sự đóng góp to lớn, toàn diện vào việc
phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường của mỗi đất nước. [3]
Bản chất của quá trình trồng trọt là tạo điều kiện cho quá trình quang
hợp của cây trồng xảy ra thuận lợi, trong đó áp dụng các biện pháp kỹ thuật
canh tác khác nhau (giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, BVTV ) nhằm sử dụng
hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên: năng lượng mặt trời, tài nguyên
nước, tài nguyên đất bằng bón phân hợp lý trong hệ thống: cây trồng - đất
trồng - khí hậu - phân bón - kỹ thuật canh tác [15].
Vì năng suất cây trồng là kết quả của quá trình quang hợp và được tạo
thành trực tiếp từ các chất: nước, dinh dưỡng khoáng, CO
2
và năng lượng mặt
trời. Trong đó nguồn năng lượng mặt trời và CO
2
có rất nhiều trong tự nhiên
do các cơ thể quang hợp mới chỉ sử dụng được khoảng 2% tổng lượng mà mặt
trời chiếu lên trái đất, CO
2
do cây trồng lấy từ khí quyển qua lá cũng chỉ mới
chiếm 3% tổng khối lượng của khí này có trong khí quyển và được phát thải
từ rất nhiều nguồn trong tự nhiên tới mức gây ô nhiễm môi trường. Xét về
tổng số, nước có trong tự nhiên thường thừa thãi so với yêu cầu của cây từ
lượng mưa hàng năm nhưng do mưa phân bố không phù hợp với yêu cầu
(lúc quá nhiều khi quá ít) nên cây trồng vẫn thường bị thiếu nước. Do đó
trong trồng trọt vẫn thường phải quan tâm cung cấp nước (tưới, tiêu) theo nhu
cầu tạo năng suất của từng loại cây trồng, nhưng có thể khai thác từ những
nguồn có sẵn trong tự nhiên (nước sông, suối ) [15].
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
5
Xét theo thành phần hóa học, cây có các nguyên tố cấu tạo chính là: C
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
6
gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho
sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người… Có thể nói, trong các nhu cầu sử
dụng tài nguyên đất để phát triển kinh tế xã hội ( công nghiệp, giao thông…)
của con người, sử dụng đất cho trồng trọt là số ít nhu cầu sử dụng đất còn có
tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt trong tiêu thụ nguồn CO
2
[15].
2.1.2. Vai trò của trồng ngô ở miền núi phía Bắc
Đất dốc chiếm khoảng 3/4 diện tích đất tự nhiên của Việt Nam phân
bố ở vùng trung du và miền núi nước ta và là vùng chậm phát triển, đời
sống nông dân còn rất nhiều khó khăn, kinh tế nghèo nàn. Vì vậy dù muốn
hay không thì bắt buộc người dân ở vùng trung du miền núi cũng phải sử
dụng đất đồi núi để sản xuất nông nghiệp thì mới đủ đáp ứng cho cuộc
sống của họ. [25]
Trên thế giới, ngô (Zea mays) là cây lương thực có tiềm năng năng suất
rất cao. Ngô là cây có thể trồng trong những điều kiện khí hậu khác nhau, có
khả năng chịu hạn và sử dụng nước tiết kiệm, không kén đất, có thể trồng
được nhiều vụ trong năm. Vì vậy cây ngô được trồng phổ biến ở khắp nơi và
là cây trồng thích hợp cho vùng đất dốc. Ngô là cây lương thực có vị trí thứ 2
(sau lúa) ở Việt Nam, ngoài tác dụng làm lương thực (là lương thực chính của
một số dân tộc ít người), ngô hiện được dùng chủ yếu cho chăn nuôi, làm
nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi [17]. Cây
ngô là một cây ngũ cốc quang hợp theo chu trình C4, là cây ưa nhiệt có hệ
thống rễ chùm phát triển (FAO, 1993)[2].
Miền núi phía Bắc là một trong những vùng trồng ngô chính của Việt
Nam. Sản xuất ngô ở đây còn đặc biệt quan trọng trong ổn định đời sống của
diện tích đất (đặc biệt ở vùng đồi núi). Những đặc điểm trên đã tạo điều kiện
rất thuận lợi cho việc hình thành những dòng nước chảy và tạo ra một quá
trình tự nhiên tác động mạnh nhất đến độ phì nhiêu của các loại đất ở nước ta
là quá trình xói mòn bề mặt [24].
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
8
Bảng 2-1. Ảnh hưởng của xói mòn đến một số chỉ tiêu hóa tính đất
ở những vị trí khác nhau trên sườn đồi
%
Mili định lượng
/100 g đất
Loại đất dốc
Và độ dốc
Vị trí
Hữu
cơ
N K
2
O
Cation
kiềm
Kiềm
thổ
Độ chua
trao đổi
A 0,86 0,07
phiến 17,1
0
B 3,94 0,26
1,52 0,49 6,15 2,67
Nguồn: Nguyễn Vy, 2003
Ghi chú: A, B là các vị trí khác nhau trên sườn đồi
Không những vậy trên vùng đất dốc với các phương thức canh tác lạc
hậu từ ngàn xưa để lại như phát nương, đốt rẫy vừa làm mất lớp che phủ mặt
đất vừa làm mất chất hữu cơ và đạm trong khối lượng chất xanh của thảm thực
vật tự nhiên. Việc trồng các cây lương thực có tán lá quá nhỏ trên đất quá dốc
lại không có biện pháp chống xói mòn bảo vệ đất… đã làm tăng thêm tác dụng
tiêu cực của những nhân tố tự nhiên nêu trên. Do khi mặt đất không hoặc có
cây che phủ kém sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi để cho mưa, gió xối trực tiếp vào
đất và phá vỡ kết cấu đất rồi hình thành những dòng nước chảy tràn trên mặt
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
9
đất mà cuốn trôi đất và các chất dinh dưỡng hòa tan và không hoà tan. Kết quả
của những điều nêu trên, là xói mòn có thể làm mất lớp đất bề mặt (vốn thể
hiện tiềm năng cao nhất của độ phì nhiêu tự nhiên) dày 1 - 2 cm với khối lượng
đất hàng chục tấn/ha cùng với lượng lớn (hàng chục kg/ha) các chất dinh
dưỡng và chất hữu cơ. Làm cho các chỉ tiêu hóa tính đất trên đỉnh đồi và dưới
chân đồi hoàn toàn khác hẳn nhau [24].
Song song với quá trình xói mòn bề mặt, một quá trình khác có thể làm
giảm mạnh độ phì nhiêu của đất, dẫn tới thoái hóa và kiệt quệ các chất dinh
dưỡng khoáng, đặc biệt là các chất ở dạng hòa tan, đó là quá trình rửa trôi theo
phẫu diện. Quá trình này còn gọi là rửa trôi theo trọng lực, rửa trôi theo chiều
tác được nữa, người dân tất phải di chuyển đến chỗ khác để phá rừng trồng cây
lương thực, như vậy diện tích rừng bị giảm dần, phá vỡ vòng tuần hoàn tự
nhiên theo hướng bất lợi như hạn hán, khi hậu biến đổi gây tổn hại về môi
trường cho toàn nhân loại. [25]
2.1.3.2. Tình trạng suy thoái đất
Điểm nổi bật nhất và cũng là xu thế của nhiều vùng đất dốc, là sự thoái
hoá đất. Đất dốc nhiệt đới nói chung có độ phì nhiêu thấp; có phản ứng chua
và thường chứa một tổ hợp các yếu tố hạn chế về hóa học (độc nhôm, sắt;
thiếu lân, canxi, kali, magiê) và vật lý (giữ nước kém, dễ bị rửa trôi, dễ đóng
váng, bị nén chặt); Dung tích hấp thu và độ no bazơ thấp nên có khả năng giữ
chất dinh dưỡng kém; Hoạt động sinh vật thấp; (Mutert E. và Fairhurst T,
1997). [5][15]
Các nguyên nhân gây thoái hóa đất trồng thường là: Xói mòn, rửa trôi;
Chế độ tưới tiêu; Bón phân không cân đối; Kỹ thuật canh tác không hợp lý.
Xói mòn và rửa trôi là nguyên nhân gây thoái hoá thường xuyên và quan
trọng nhất đối với đất dốc vùng nhiệt đới ẩm, vì nó không chỉ làm suy thoái
độ phì nhiêu tầng đất mặt, gây chua hoá đất mà còn có thể làm mất dần lớp
đất canh tác. Tác động này càng nặng nề, nếu đất dốc không được che phủ
thường xuyên, hoặc đất bị canh tác ngay trước hay trong khi mưa [15][24].
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
11
Xói mòn và rửa trôi thường liên quan tới lượng mưa; độ dốc; độ che
phủ và thảm thực vật; biện pháp canh tác… Chế độ tưới, tiêu “nhờ nước trời”,
lúc gây hạn, lúc quá nhiều nước, đặc biệt khi lượng mưa quá lớn, trở thành
“đồng minh đắc lực” của xói mòn, rửa trôi. Kỹ thuật canh tác không hợp lý
như: sử dụng giống cây trồng không phù hợp với điều kiện sinh thái; làm đất,
gieo trồng không theo đường đồng mức; xới xáo đất khi mưa sẽ trở thành
nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất [15][24] [28].
về vai trò của phân bón với cây trồng ở khắp các châu lục trên thế giới đều cho
thấy, trong số các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn, bón phân luôn là biện
pháp kỹ thuật có ảnh hưởng lớn nhất, quyết định nhất đối với cây trồng. [16]
Theo FAO trong thập niên 1969 - 1979 trên phạm vi toàn thế giới,
trung bình phân bón quyết định 50% năng suất cây trồng, cứ bón 1 tấn các
chất dinh dưỡng nguyên chất chính thì sản xuất được 10 tấn hạt ngũ cốc. Ở
các nước có hệ thống nông nghiệp phát triển trong hơn 100 năm gần đây (từ
khi bắt đầu sử dụng phân bón hóa học), hơn 60% năng suất cây trồng tăng là
nhờ sử dụng phân khoáng. Kết quả nghiên cứu và điều tra ở Việt Nam cho
đến năm 1997 cho thấy, tính trung bình phân bón làm tăng 38 - 40% tổng sản
lượng, bón 1 tấn dinh dưỡng nguyên chất có thể thu được 13 tấn thóc (Viện
thổ nhưỡng nông hóa, 1999). Tổng kết về vai trò của từng yếu tố kỹ thuật
trong nông nghiệp hiện đại ở Mỹ cho thấy: Năng suất quyết định bởi: 41% do
phân khoáng, 15 - 20% do thuốc BVTV, 15% do hoàn thiện các biện pháp kỹ
thuật, 8% do chọn giống, 8% do tưới nước, 11 - 18% do các yếu tố khác (Lê
Văn Khoa, 1996). [16]
2.2.1.2.Phân bón với chất lượng sản phẩm
Mặc dù chất lượng sản phẩm cây trồng quyết định bởi đặc điểm của cây
và giống cây trồng. Nhưng do cây trồng hút chất dinh dưỡng từ đất và phân
bón để tạo nên năng suất và chất lượng sản phẩm nên việc thiếu hay thừa một
số chất nhất định trong dinh dưỡng của cây làm ảnh hưởng đến hoạt động của
men, do đó ảnh hưởng đến phẩm chất nông sản.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
13
Phân bón (nhất là phân vi lượng, phân kali) tác động mạnh lên hàm
lượng và tính chất các loại men nên vừa có khả năng tạo năng suất cây trồng
cao vừa có khả năng tạo phẩm chất tốt (chất khoáng, protein, đường và
vitamin). Phân lân làm tăng rõ phẩm chất các loại rau, cỏ làm thức ăn gia súc
Vì vậy, bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng không chỉ làm tăng
năng suất mà còn làm tăng chất lượng sản phẩm như: hàm lượng các chất
khoáng, protein, đường, bột và vitamin… Điều này được thể hiện rõ trong
nhiều công trình nghiên cứu và thực tiễn sản xuất ở khắp nơi trên thế giới. [16]
Trong thực tế sản xuất có những hiện tượng chứng tỏ là bón nhiều phân
hóa học phẩm chất nông sản bị sút kém rõ rệt. Bón quá nhiều đạm ảnh hưởng
xấu tới chất lượng của các nông sản (làm tăng tỷ lệ nước và hàm lượng NO
3
–
gây bất lợi cho người sử dụng, làm giảm tỷ lệ Cu trong cỏ nên có thể gây vô
sinh cho bò sinh sản). Bón phân không cân đối tạo ra các nông sản (thức ăn)
không cân đối, thiếu các vitamin, thiếu các nguyên tố vi lượng khiến người và
động vật mắc các bệnh suy dinh dưỡng, thiếu máu, vô sinh… Vì bón phân
không cân đối đều có thể gây mất an toàn chất lượng nông sản và môi trường,
điều này thường thấy rõ nhất với yếu tố N. (Vũ Hữu Yêm, 1995) [16]
Vì vậy, để sử dụng phân bón hiệu quả và an toàn, ngoài kiến thức về
phân bón còn cần có những hiểu biết về mối quan hệ giữa bón phân với các
yếu tố liên quan khác như: đất trồng, khí hậu, kỹ thuật trồng trọt. [16]
2.2.1.3. Vai trò của các chất dinh dưỡng chính đối với cây
Trong ngành trồng trọt sở dĩ việc cung cấp các chất dinh dưỡng khoáng
thiết yếu, đặc biệt là các chất đa lượng, có vai trò rất quan trọng đối với cây
trồng vì những lý do sau đây:
Đạm là chất không thể thiếu đối với các cơ thể sinh vật nói chung;
đạm là yếu tố chính, yếu tố quyết định sự sinh trưởng, phát triển và năng
suất của cây. Do đạm là thành phần cơ bản và thường chiếm 15 - 17% của
chất protein - chất biểu hiện của sự sống. Đạm có trong nhiều hợp chất hữu
cơ, rất cơ bản và rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây:
Diệp lục, các axit nucleic (ADN và ARN), các loại men, bazơ có đạm, một
tuy nhiên trữ lượng và khả năng cung cấp dưới dạng dễ tiêu đối với cây của các
chất này có trong đất lại có hạn, đặc biết đối với các loại đất nghèo dinh dưỡng.
Do đó việc đảm bảo dinh dưỡng khoáng bằng bón phân cân đối cho cây trồng
trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của trồng trọt.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
16
2.2.2. Vai trò của phân bón đối với hiệu quả sản xuất
Như trên đã thấy, bón phân là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng quyết
định đối với năng suất, phẩm chất nông sản, nên trong trồng trọt người sản
xuất rất coi trọng đầu tư phân bón. Vì việc sử dụng phân bón hiệu quả sẽ làm
tăng nhiều thu nhập và lợi nhuận cho người sản xuất. [16]
Andre Gros (1977) cho biết: Một trong những điều kiện cơ bản của lợi
nhuận nông nghiệp là tận dụng được vốn kinh doanh, trong đó vốn dùng cho
phân bón có tác dụng kích thích lãi và không nên hà tiện. Người trồng trọt có
thể bón phân để đạt lợi nhuận tối đa từ một đơn vị diện tích trồng trọt thông
qua việc xác định được lượng phân bón và năng suất tối thích [16].
Nghiên cứu của HLS. Tandon (1994) về sản xuất của một nông hộ trên
2 ha cho thấy, nhờ thâm canh cao dù chi phí sản xuất tăng nhiều hơn (1200$,
trong đó tăng chi phí phân bón nhiều nhất - 500$) mà làm tăng thu nhập
(4000$) hơn 8 lần so với không thâm canh (480$).[16]
2.3. Tác dụng của phân bón đối với môi trường
2.3.1. Tác dụng tích cực của phân bón đối với đất
Trong trồng trọt cần bón phân nhằm đạt năng suất cây trồng cao thỏa
đáng với chất lượng tốt, hiệu quả sản xuất cao, đồng thời để ổn định và bảo vệ
được đất trồng. Bón phân là biện pháp để hoàn trả lại các chất khoáng cây
trồng hút để tạo sản phẩm hay bị rửa trôi, xói mòn, giữ cho đất khỏi bị suy
kiệt đi. Bón phân còn là biện pháp bổ sung và điều chỉnh các chất khoáng
trong đất làm cho môi trường đất trở nên tốt hơn và cân đối hơn. Ví dụ như