Báo cáo môn Tài Chính Tiền Tệ Vấn đề 1: Nguyên nhân gây nên tình trạng lạm phát cao ở Việt Nam từ thời điểm cuối năm 2010 đến 2011. Tác động của nó đến nền kinh tế nước ta? Theo anh (chị) chúng ta phải làm gì để góp phần kiềm chế lạm phát - Pdf 24

Trường Đại học Nha Trang
Khoa Kế toán Tài chính

Báo cáo môn Tài Chính Tiền Tệ
Vấn đề 1: Nguyên nhân gây nên tình trạng lạm phát cao ở Việt
Nam từ thời điểm cuối năm 2010 đến 2011. Tác động của nó
đến nền kinh tế nước ta? Theo anh (chị) chúng ta phải làm gì
để góp phần kiềm chế lạm phát.
GVHD: Phan Thị Lệ Thúy
Nhóm 1_Chi hội 52DN1
1. Nguyễn Thị Minh Nguyệt
2. Trần Thị Hương
3. Phan Thị Hoài
4. Lê Nguyễn Thụy Vi
5. Võ Thị Mỹ Ngân
6. Trần Thi Kiều Oanh
7. Nguyễn Thị Lanh
8. Lại Thị Thanh Nhàn
9. Trần Thị Mai
10.Huỳnh Minh Tuấn
Phần mở đầu
Lạm phát là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất của mọi quốc gia (tăng trưởng
cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư). Tình hình lạm phát hiện
nay ở Việt Nam lên tới mức báo động là 2 con số, vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép
tối đa là 9% của mỗi quốc gia.Tình trạng kinh tế ở Việt Nam được diễn tả trong một bài
ca dao đang phổ biến như sau: Đau đầu vì điện/ Điên đầu vì đô (USD)/ Ngây ngô vì
vàng/ Ngỡ ngàng vì đất/ Ngất vì tỷ giá/ Ngã vì lãi suất/ Uất vì giá xăng.
Lạm phát đang là một vấn đề nóng bỏng được toàn xã hội quan tâm. Báo chí
ngoại quốc, trong nước những cơ quan tài chính và đầu tư quốc tế từ đầu năm tới nay
nói rất nhiều đến tình trạng lạm phát nghiêm trọng ở Việt Nam. Lạm phát ảnh hưởng
đến mọi giới trong xã hội kể cả chính quyền. Lạm phát làm giảm giá trị đồng tiền, ngăn

Property Fund Ltd. Nhiều người e sợ rằng Việt Nam trở lại tình trạng lạm phát phi mã
gần 30% vào năm 2008. Trong khi đó nhà nước nhắm duy trì lạm phát ở mức tối đa là
7% cho cả năm 2011. Điều này xem ra không thể nào thực hiện được trên thực tế.
II, Cách tính chỉ số tiêu thụ CPI (Cunsumer price index).
1, Khái niệm:
Chỉ số giá tiêu dùng (hay được viết tắt là CPI, từ các chữ tiếng Anh Consumer Price
Index) là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng
tiêu dùng theo thời gian. Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một
số hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng. ( Ví dụ như: gạo, thịt, cá, hàng may
mặc, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện, nước, )
2, Đặc điểm:
Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá. Sự thay đổi của mức
giá chính là lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh mức giá chung là Chỉ số giảm phát
tổng sản phẩm trong nước hay Chỉ số điều chỉnh GDP).
Việc tính toán CPI ở Việt nam do Tổng cục Thống kê đảm nhiệm. Quyền số để tính
CPI được xác định năm 2000 và bắt đầu áp dụng từ tháng 7 năm 2001. Quyền số này
dựa trên kết quả của hai cuộc điều tra là Điều tra mức sống dân cư Việt nam 1997-1998
và Điều tra kinh tế hộ gia đình năm 1999. Điều đáng chú ý là quyền số của nhóm hàng
Lương thực - Thực phẩm chiếm tới 47,9% trong khi Văn hoá - Thể thao - Giải trí chỉ
chiếm 3,8%.
3, Cách tính chỉ số tiêu thụ CPI:
Để làm được điều đó phải tiến hành như sau:
1. Cố định giỏ hàng hoá: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định lượng hàng hoá, dịch
vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua.
2. Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá tại mỗi thời
điểm.
3. Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số lượng nhân với giá
cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại.
4. Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng bằng công
thức sau:

P
t
i
là giá của giỏ hàng i tại thời điểm đang nghiên cứu

P
i
0
là giá của giỏ hàng i tại thời điểm gốc

Q
t
i
số lượng giỏ hàng i tại thời điển đang nghiên cứu

Q
i
0
số lượng giỏ hàng i tại thời điểm gốc
Ví dụ: Giỏ hàng hóa gồm trứng vịt lộn + trứng gà
+) Chọn năm 2010 làm năm gốc :
Trứng gà : 2000đ/ quả ; trứng vịt lộn : 3000đ/quả
+) Hiện tại ( 2011)
Trứng gà : 2500đ/ quả ;trứng vịt lộn : 3500đ/quả
+) Mua : 100 quả trứng vịt lộn + 50 quả trứng gà
===> CPI =[ ( 50x2500+100x3500)/ ( 50x2000+100x3500) ] x 100 = 118.75%.
III, Nguyên nhân gây ra tình trạng lạm phát ở nước ta từ cuối năm
2010 đến nay.
Lạm phát cao trong năm 2011 do nhiều nguyên nhân gây ra chứ không phải chỉ do sự
tăng giá của những nhu yếu phẩm.

làm ăn thường là thua lỗ. Vào cuối năm 2010, công ty quốc doanh xây cất tầu
thủy Vinashin rơi vào tình trạng gần phá sản là một thí dụ mới nhất. Vinashin
hay là Vietnam Shipbuilding Industry Group, được thành lập vào năm 2005 với
số vốn 750 triệu USD từ công trái phiếu của nhà nước. Vào tháng 7, 2010, Việt
Nam công bố rằng Vinashin mắc món nợ chồng chất lên 4.4 tỉ USD, không có
khả năng trả nợ và bị đe dọa phá sản. Vào tháng 8, 2010, cựu chủ tịch Vinashin
Phạm Thanh Bình và một số viên chức điều hành bị bắt vì vi phạm luật lệ quản
trị, nhưng cho tới nay chưa có ai bị truy tố. Vào cuối năm 2010, Vinashin điều
đình với các chủ nợ để xin hoãn trả 60 triệu USD trên số nợ 600 triệu USD. Cho
đến đầu tháng 3 vừa qua, Vinashin vẫn chưa trả được nợ. Khả năng khai phá sản
có thể sẽ xảy ra.
 Nguyên nhân thứ sáu là chi phí gia tăng trong nhiều tháng vừa qua. Theo Nghị
Quyết số 11/NQ-CP ban hành ngày 24/2/2011, nhà nước cho phép gia tăng giá
xăng dầu trong nước cho phù hợp với giá xăng dầu thế giới và giá điện trong
nước theo cơ chế thị trường. Tăng giá điện và xăng ảnh hưởng đến tất cả mọi
lĩnh vực kinh tế và trực tiếp làm nạn lạm phát trầm trọng thêm. Đây là một hiện
tượng chi phí đẩy.
Vì ngân sách quốc gia thiếu hụt nghiêm trọng cộng thêm kinh tế bất ổn nói
chung mà nhà nước đã có quyết định không hợp thời là tăng giá xăng liên tục ba
lần kể từ đầu năm nay. Lần tăng 30% mới nhất đã đưa giá xăng lên đến 21,300
VN/lít trong tháng 3. Cũng vào dịp này giá dầu diesel tăng 24%.
 Nguyên nhân thứ bẩy là việc phá giá đồng bạc Việt Nam (VNĐ). Trong 15 tháng
vừa qua, Việt Nam đã phá giá VNĐ tất cả 4 lần và trong khoảng thời gian này trị
giá của VNĐ đã giảm tổng cộng khoảng 20% so với đồng US dollar (USD).
Trong lần thứ tư xảy ra vào ngày 11/2/2011, VNĐ sụt giá 9.3% so với USD. Hối
suất chính thức của VNĐ tăng từ 18,932 lến đến 20,693 cho một USD. NHNN
quyết định phá giá VNĐ là để giảm bớt sự chênh lệch giữa hối suất chính thức
và hối suất chợ đen, đôi khi sự cách biệt lên đến 9% và làm giảm sự khan hiếm
ngoại tệ. Sự phá giá VNĐ cũng giúp tăng xuất khẩu và giảm chênh lệch cán cân
thương mại vì làm giảm chi phí sản xuất trong nước. Tuy nhiên, đồng Việt Nam

siêu của Việt Nam là 47.3 tỉ USD hay trung bình mỗi năm là 7.9 tỉ USD. Thêm vào đó
là nạn đầu tư vô tội vạ của các tập đoàn kinh tế quốc doanh. Thay vì chú trọng vào việc
sản xuất, một số tập đoàn này lại đầu tư vào dịch vụ kinh doanh phi sản xuất như chứng
khoán và nhà đất. Đó là những lý do làm cho Việt Nam đang trải qua tình trạng khan
hiếm ngoại tệ khiến cho các nhà nhập khẩu gặp khó khăn khi thu mua ngoại tệ để mua
hàng từ nước ngoài.
Theo một số báo ở trong nước, xăng trở nên khan hiếm, đặc biệt tại các tỉnh ở
miền Tây Nam phần giáp ranh với Campuchia, sau khi có quyết định tăng giá xăng.
Báo SGGP tường thuật rằng nhiều trạm chỉ bán xăng nhỏ giọt, hoặc đề bảng hết xăng,
hoặc tạm đóng cửa để sửa chữa. Vụ khan hiếm xăng dầu ảnh hưởng đến những người
sống về dịch vụ chuyên chở bằng ghe máy, thuyền máy, hay xe hơi.
Lạm phát nói chung ảnh hưởng đến lương bổng của công nhân và những dân
nghèo ở nông thôn một cách mạnh mẽ. Vì giá xăng dầu và điện gia tăng, các công ty
chuyên chở đã tăng chi phí chuyên chở bằng 15%-20%. Các công ty đường sắt cũng gia
tăng lệ phí 25% kể từ 1/4/2011. Những công ty hàng không cũng có những quyết định
tương tự. Cuối cùng chỉ có những người tiêu thụ chịu mọi hậu quả.
Một cuộc điều tra dư luận của 2,100 công nhân tại bảy thành phố và tỉnh do
Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam thực hiện vào cuối tháng 11, 2010 cho thấy rằng
chỉ có 3.9% số người hồi âm là thỏa mãn với số lương bổng, trong khi đó 50.9% không
hài lòng. Vào năm 2010, ở Việt Nam có khoảng 216 vụ đình công xẩy ra. Trong hai
tháng đầu của năm nay, có trên 20 vụ đình công liên hệ tới lạm phát mà phần lớn là ở
tại những công ty đầu tư nước ngoài sản xuất quần áo, giầy, và đồ điện tử với lương
bổng rất thấp và điều kiện làm việc nghèo nàn.
V, Giải pháp nhằm cải thiện tình hình lạm phát của nước ta hiện
nay.
1. Nhóm biện pháp tình thế:
Trước tình trạng lạm phát gia tăng, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết
số 11/NQ-CP ngày 24-02-2011 đưa ra 7 giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.
Thi hành nghị quyết này, nhà nước đã cho thi hành chính sách siết chặt tiền tệ

trung làm rõ những vấn đề chủ yếu trong công tác bình ổn thị trường một số mặt hàng
thiết yếu, các biện pháp bảo đảm cân đối cung cầu. Trong đó, nhiệm vụ điều tiết, bình
ổn thị trường, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, không để xảy ra thiếu hàng, sốt
giá là nhiệm vụ quan trọng. Một định hướng chính sách cần được quan tâm là đầu tư
phát triển cụm ngành, công nghiệp hỗ trợ để giảm nhập khẩu, tăng hàm lượng nội địa
và giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu. Cần phải tập trung đầu tư mở rộng năng lực sản
xuất các mặt hàng có lợi thế xuất khẩu. Cụ thể ở đây là 8 mặt hàng (sản phẩm nhựa, gỗ,
hàng thủ công mỹ nghệ, dệt may, điện tử - điện lạnh và linh kiện, dây điện và cáp điện,
cơ khí, vật liệu xây dựng). Đồng thời, cần định hướng phát triển xuất khẩu một số mặt
hàng có tiềm năng như giày dép, công nghiệp phần mềm, nâng cao giá trị xuất khẩu
hàng nông sản hướng vào chế biến sâu, có hàm lượng khoa học công nghệ ngày càng
cao.
Thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, trong sản xuất thực hành tiết
kiệm nguyên nhiên vật liệu. Có những sáng chế mới cải tiến máy móc gia tăng sản xuất,
mở rông sản xuất phải đi đôi với bảo về môi trường, tài nguyên thiên nhiên. Về tiêu
dùng cần có những chính sách khuyến khích “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt
Nam”, đánh thuế cao những mặt hàng xa xỉ…
Mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội, an sinh xã hội(ASXH)
thể hiện quyền cơ bản của con người và là công cụ để xây dựng một xã hội hài hòa, văn
minh và không có sự loại trừ. ASXH có nguyên tắc cơ bản là đảm bảo sự đoàn kết, chia
sẻ và tương trợ cộng đồng đối với các rủi ro trong đời sống, do vậy có tác dụng thúc
đẩy sự đồng thuận, bình đẳng và công bằng xã hội. Bên cạnh đó, hệ thống ASXH
thông qua tác động tích cực của các chính sách chăm sóc sức khỏe, an toàn thu nhập và
các dịch vụ xã hội, sẽ nâng cao năng suất lao động, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu lao động
nói riêng và toàn bộ quá trình phát triển kinh tế nói chung.
Quản lý, kiểm soát chặt hoạt động thị trường ngoại tệ phi chính thức, rà soát, cắt,
hoãn, giảm và điều chuyển vốn đầu tư nhà nước, thực hiện trợ cấp cho các tầng lớp,
nhóm dân cư thu nhập thấp, ưu tiên tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho nông
nghiệp và nông thôn, cho xuất khẩu, lập danh mục hạn chế nhập, giảm nhập khẩu, giảm
thâm hụt cán cân thanh toán,.v.v…

hơn. Đó là một sự bất ổn kinh tế toàn diện, từ ngân sách quốc gia thiếu hụt, khu vực
DNNN lỗ lãi, cán cân thương mại mất cân bằng, thị trường bong bóng nhà đất, đầu tư
thiếu kiểm soát, khan hiếm ngoại tệ, cho đến tiền VNĐ mất giá, và nhất là đời sống dân
nghèo cơ cực hơn. Cải tổ khu vực quốc doanh là một việc làm cấp thiết hiện nay nếu
Việt Nam muốn tiến một cách bền vững, muốn loại bỏ những sự phung phí tài nguyên,
và muốn ngặn chặn tình trạng lạm phát tận gốc một cách hiệu quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status