Câu hỏi: Nguyên nhân để ngân hàng nhà nước quyết định tăng tỷ giá hối
đoái đầu năm 2011? Tác động của nó đến nền kinh tế nước ta?
Danh sách nhóm 9:
1. Nguyễn Thị An
2. Trần Thị Xuân Ánh
3. Ngyễn Hữu Hoàng Cầm
4. Trần Thị Ngọc Dung
5. Huỳnh Thị Thúy Hà
6. Huỳnh Thị Kim Kha
7. Nguyễn Thị Thanh Nga
8. Hồ Trúc Phương
9. Kiều Thu Thủy
10.Mạnh Hồng Thủy
11.Trần Thị Thùy Trang
LỜI MỞ ĐẦU
Tỷ giá hối đoái là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng có tác động tới nhiều
mặt hoạt động của nền kinh tế . Nó ra đời từ hoạt động ngoại thương và
quay trở lại tác động lên hoạt động xuất nhập khẩu và cán cân thương mại
cán cân thanh toán của mỗi quốc gia. Xây dựng thành công một chính sách
điều hành tỷ giá thích hợp là một vấn đề vô cùng khó khăn phức tạp. Nghiên
cứu vấn đề này là một đề tài mang tính cấp thiết trong thời gian gần đây.
Trong những năm qua, tỷ giá luôn là một bài toán khiến lãnh đạo Ngân hàng
Nhà nước phải đau đầu, quyết định điều chỉnh với mức tăng kỷ lục đến 9,3%
dù gây sốc cho nhiều DN sản xuất và xuất nhập khẩu nhưng lại được giới
chuyên gia tài chính và các ngân hàng cho là một tác động tích cực cho mục
tiêu xóa bỏ khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tự do trên thị trường nhằm
ổn định thị trường và tạo điều kiện gia tăng dữ trữ ngoại hối
Chính sách tỷ giá hối đoái đầu 2011 dưới gốc nhìn của các chuyên gia tài
chính nước ngoài:
Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố điều chỉnh tỷ giá VND so với
đồng USD ở mức 20.693 VND/ 1 USD (tăng 9,3% so với mức 18.932 VND
Chủ tịch danh dự Hội các hãng xuất khẩu gạo Thái Lan cho rằng: do Việt
Nam hiện nay tồn tại hiện tượng kinh tế quá nóng, việc phá giá VND có thể
là "con dao hai lưỡi", sẽ làm cho lạm phát trở nên nghiêm trọng hơn. Liên
đoàn Công nghiệp Thái Lan thì dự kiến, ngành xuất khẩu của Việt Nam rất
có thể gia tăng 7% lợi nhuận bởi phá giá VND, nhưng lạm phát cao cũng sẽ
tăng giá thành của nhiều lĩnh vực, vì thế lại làm giảm thiểu lợi nhuận do phá
giá VND mang lại.
Kể từ khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) thông báo việc thực hiện vòng
hai chính sách nới lỏng tiền tệ, tại các nước châu Á đã lần lượt xuất hiện lạm
phát ở những mức độ khác nhau. Trong khi Trung Quốc, Xinh-ga-po lựa
chọn phương thức nâng lãi suất và tăng dự trữ ngoại tệ để ngăn cản rủi ro từ
lạm phát thì riêng Việt Nam với mức lạm phát lên đến trên 12% lại lựa chọn
biện pháp hạ thấp tỷ giá hối đoái. Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hồi tháng 9-
2008 là 23.9 tỉ USD, thì đến năm 2010 chỉ còn 13.6 tỉ USD, điều này có thể
tạo nguy cơ mất an ninh kinh tế của Việt Nam.
Nguyên nhân để ngân hàng nhà nước Việt Nam quyết định tăng tỷ giá hối
đoái?
I.Tình hình tỷ giá hối đoái của nước ta hiện nay
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thông báo tỷ giá USD bình quân liên
ngân hàng áp dụng cho ngày 7/10/2011 ở mức 20.653 đồng. Đây là tỷ giá
cao nhất kể từ tháng 6 tới nay, Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ giá thêm 9,3%
và hạ biên độ giao dịch từ 3% xuống 1%
Hiện nay, tỷ giá ngân hàng đang ấn định 1 USD quy đổi được 20.600
VND. Vào thời điểm cuối năm, có thể tỷ giá quy đổi này sẽ lên 1 USD bằng
21.000 USD, thậm chí có thể ở mức 21.500 VND. Tuy nhiên, việc tỷ giá quy
đổi có nhích lên trên 21.000 VND/1 USD hay không lại sẽ không thể nói
chắc chắn mà còn phụ thuộc vào những động thái và chính sách tiếp theo
của Ngân hàng Nhà nước nói riêng, và các quyết sách bình ổn kinh tế vĩ mô
nói chung.
BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TÌNH HÌNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG
hàng nhập khẩu đa số là vật liệu sản xuất. Từ nhiều năm qua, Việt Nam có tỷ
lệ tăng trưởng rất cao, nhưng lại mất bình quân trong cán cân mậu dịch.
Tổng cục Thống kê sơ khởi 9 tháng đầu năm 2011, cán cân thương mại của
Việt nam bị thâm hụt 6,84 tỉ đô la Mỹ,trong đó xuất khẩu đã đạt được 70 tỷ
đola Mỹ, tăng 35,4%, nhập khẩu tăng ở mức 26,9% với tổng giá trị gần 76,9
tỷ đôla Mỹ.
Nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu dẫn đến cầu ngoại tệ tăng, cung nội tệ tăng
làm cho giá ngoại tệ tăng, giá nội tệ giảm . Vì vậy, ngân hàng nhà nước việt
nam quyết định tăng tỷ giá hối đoái
3. Lãi suất
Việt Nam đang áp đặt mức trần lãi suất huy động USD là 3%, thấp
hơn nhiều so với lãi suất huy động thực tế khoảng 5% hiện nay Những
khách hàng cá nhân có kỳ vọng về sự ổn định của tỷ giá sẽ có xu hướng bán
lại ngoại tệ cho ngân hàng hoặc bán ra thị trường tự do rồi gửi VNĐ với lãi
suất huy động từ 16 – 18%/năm.
Với sự chênh lệch lãi suất giữa trong nước và ngoài nước không còn
hoặc không đủ để bù đắp rủi ro thì một phần lớn nguồn kiều hối vì lý do này
sẽ bị rút ra chuyển ngược lại về nước ngoài. Nếu như nguồn tiền gửi này bị
rút ra nhanh với số lượng lớn, trong khi hệ thống NHTM Việt Nam vẫn đang
có sự mất cân đối đáng kể giữa huy động và cho vay ngoại tệ, thì sự thiếu
hụt thanh khoản tiền gửi ngoại tệ có thể xảy ra. Khi đó, các NHTM sẽ lại
chạy đua huy động vượt trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ, đẩy lãi suất USD thực
tế tăng lên.
Nếu như ngoại tệ bị chảy ngược ra ngoài thì nhu cầu mua ngoại tệ của
các doanh nghiệp nhập khẩu để bù đắp sự thiếu hụt do khó khăn trong việc
vay ngoại tệ sẽ không được đáp ứng đầy đủ. Vì vậy cầu ngoại tệ tăng, cung
nội tệ tăng dẫn đến giá ngoại tệ tăng suy ra TGHĐ tăng.
4. Cán cân thanh toán quốc tế
Thâm hụt cán cân thanh toán năm 2010 khoảng 4 tỷ USD.Theo chu kỳ
cuối năm, việc mất cân đối cung cầu ngoại tệ càng dễ xảy ra khi nhu cầu
7.Các nguyên nhân khác
Tỷ giá giao dịch trên thị trường tự do luôn cao hơn thị trường chính
thức tăng vọt từ 19.500 VNĐ/USD lên mức gần sát 21.000VNĐ/USD vào
ngày 3/11/2010 trên thị trường tự do. Nên đầu năm 2011 ngân hàng nhà
nước Việt Nam quyết định tăng tỷ giá hối đoái nhằm xóa bỏ sự trên lệnh tỷ
giá giữa 2 thị trường này.
Thiên tai lũ lụt cũng là một trong những nguyên nhân làm cho TGHĐ
tăng.Thiên tai gây mất mùa, hàng hóa khan hiếm, phải nhập khẩu hàng hóa
từ nước ngoài. Dẫn đến cầu ngoại tệ tăng,cung nội tệ tăng,giá ngoại tệ
tăng,giá nội tệ giảm, TGHĐ tăng.
Khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và các nước Châu Âu năm 2010 cũng là
một trong những nguyên nhân làm TGHĐ của nước ta. Cuộc khủng hoảng
đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu Việt Nam sang thị trường
Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu, ngay từ những tháng đầu năm 2008, lãi suất đã
xuất hiện xu hướng giảm tốc đọ xuất khẩu sang Mỹ (Thị trường xuất khẩu
lớn nhất Việt Nam) trong 9 tháng đầu năm, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu
sang Mỹ chỉ đạt 16,7% thấp hơn khá nhiều so với mức 26,7% so với năm
2007. Tỷ trọng của thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam đã giảm từ 20,7% (2007) xuống còn 17,7% (9 tháng đầu năm). Mặt
khác, tỷ trọng của thị trường EU trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam đã giảm chỉ còn 16,5% trong khi năm 2007 là 16%. Trong những năm
tới, khủng hoảng tài chính thế giới khiến dòng đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam giảm. Khi bị khủng hoảng các nước này sẽ tăng giá tư liệu sản xuất và
hàng hóa để bù đắp khoản tiền bị thâm hụt. Vì vậy, giá nhập khẩu tư liệu sản
xuất và hàng hóa của nước ta từ các nước này cũng sẽ tăng lên. Dẫn đến cầu
ngoại tệ tăng,cung ngoại tệ tăng,giá ngoại tệ tăng,giá nội tệ tăng,tỷ giá hối
đoái tăng.
Dự trữ ngoại hối của Việt Nam chỉ còn khoảng 10 tỷ đôla cuối năm
2010 từ con số 16 tỷ một năm trước đó, nợ công của Việt Nam tính đến cuối
năm 2010 là 1.112 nghìn tỷ đồng, bằng 56,7% GDP năm 2010 và dự kiến số
tác động lan truyền thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển để xuất khẩu ra
nước ngoài, gia tăng sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với
doanh nghiệp nước ngoài. Khi đó các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản
xuất sẽ tạo nhiều việc làm cho người lao động.
-Giúp cho các nhà đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng cường đầu tư vào
Việt Nam để giúp tăng trưởng và phát triển công nghệ,khoa hoc- kĩ thuật. 9
tháng đầu năm 2011, Hà Nội thu hút 239 dự án đầu tư nước ngoài với tổng
số vốn đăng ký xấp xỉ 1 tỷ USD, con số này gấp 3 lần so với cùng kỳ năm
2010. Đồng thời ước tính đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 8,2
tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2010. Tính từ đàu năm 2011 đén nay
có 47 quốc gia vào vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam. Hồng Kông
tăng thêm 2,9 tỷ USD chiếm 29,3% tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam.
Singapo tăng thêm 1,5 tỷ USD chiếm 15,2% tổng vốn đầu tư. Nhật BẢn
tăng ttheem 927,3 triệu USD, chiếm 9,4%, Hàn Quốc tăng thêm 894,1 triệu
USD, chiếm 9%, Trung Quốc tăng thêm 606,4 triệu USD, chiếm 6,1%. Trên
địa bàn, Hải Dương là địa phương nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, với
2,5 tỷ USD, tăng thêm 24,6% tổng vốn đàu tư. TP. Hồ Chí Minh tăng thêm
1.73 tỷ USD chiếm 17,4%, Đồng Nai tăng thêm gần 640,9 triệu USD…
-TGHĐ tăng dẫn đến hạn chế nhập khẩu, hạn chế lượng hàng hóa nước
ngoài trong nước.Người tiêu dùng chuyển sang dùng hàng Việt nhiều hơn.
-Giảm áp lực dự trữ ngoại hối của nước ta,lưu lượng ngoại tệ có khuynh
hướng chuyển vào trong nứoc khá hơn, khối lượng dự trữ ngoại tệ có cơ hội
gia tăng.
-Khi tỷ giá hối đoái tăng, làm cho thị trường chợ đen “xẹp hẳn”, hoạt động
giao dịch chợ đen giảm. Tỷ giá chợ đen trước đây cao hơn tỷ giá chính thức
thì nay đã bằng thậm chí giảm hơn tỷ giá ngân hàng là cho sự chi phối USD
chợ đen đối với thị trường ngoại tệ đã bị xóa bỏ.
II.Tác động tiêu cực
- Khi TGHĐ tăng, giá tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng nhập khẩu tăng,
kéo theo giá cả các mặt hàng trong nước có liên quan cũng tăng theo. Đồng
- Việt Nam cũng cần phải đưa ra một loạt chính sách điều hành vĩ mô bao
quát hơn nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ cần tập trung quyết
liệt nhằm kiềm chế lạm phát và chính sách tài chính cần tập trung giải quyết
hạn chế nợ công. Tuy nhiên, nguy cơ khủng hoảng do mất cân bằng trong
cán cân thanh toán và mức dự trữ ngoại tệ suy giảm do lạm phát leo thang và
đồng VNĐ yếu là những vấn đề mà Việt Nam cần quan tâm giải quyết.
- “Chính phủ Việt Nam cần tìm ra phương pháp có hiệu quả hơn nhằm ngăn
chặn thâm hụt thương mại trong khi kinh tế tăng trưởng quá nhanh, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam vẫn còn thiếu tính độc lập khiến người đầu tư ít tin
tưởng vào VNĐ. Trong tình hình hiện nay, chính phủ Việt Nam cần phải tìm
ra sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô”.
- Việt Nam cũng cần phải duy trì chính sách tỷ giá cao hơn để bình ổn giá cả
thị trường và ngăn chặn tình trạng bán ra VNĐ. Có như vậy mới thực hiện
được chủ trương, biện pháp điều hành tỷ giá một cách linh hoạt và đối phó
với tình trạng nhập siêu thay vì áp dụng chính sách tỷ giá cố định trong thời
gian dài.