Website: Email : Tel : 0918.775.368
A. Phần mở đầu
Thời đại ngày nay là thời đại của văn minh tri thức, thời đại mà toàn thể nhân
loại đã đạt đợc rất nhiều thành tựu lớn lao trong quá trình hình thành và phát triển
của mình, đó là sự tiến bộ vợt bậc tạo ra những bớc nhảy vọt trong lức lợng sản
xuất cùng với quan hệ sản xuất phù hợp với nó, điều này đợc thể hiện trong đời
sống nh văn hóa, khoa học kỹ thuật, kinh tế xã hội theo đúng quy luật khách
quan, xã hội loài ngời luôn biến đổi không ngừng, chuyển từ xã hội này sang xã
hội khác, xã hội sau tiến bộ hơn xã hội trớc. Thực tiễn Việt Nam chúng ta từ khi
có đảng lãnh đạo đã xác định đấu tranh xây dựng và phát triển đất nớc theo con đ-
ờng XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mac-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh đa đất nứơc
phát triển đi lên theo đúng quy luật khách quan và xu thế của thời đại. Thực tiễn
qua 15 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn trong đờng lối của Đảng đồng
thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con đờng đi lên CNXH ở nớc ta
con đờng đi lên của nớc ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN,
tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thợng
tầng TBCN, nhng tiếp thu, kế thừa, những thành tựu mà nhân loại đã đạt đợc dới
chế độ TBCN, đặc biệt là về khoa học công nghệ để phát triển LLSX xây dựng nền
kinh tế hiện đại, xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN tạo ra sự biến đổi về chất
của xã hội trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh
giữa cái mới và cái cũ. Trong thời kỳ quá độ có nhiều hình thức sở hữu về t liệu
sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, Đảng và
nhà nớc ta chủ trơng thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà
nứơc theo định hớng XHCN, đó là nền kinh tế thị trờng XHCN, là mô hình kinh tế
tổng quát của nớc ta trong thời kỳ quá độ lên CNXN. Do mỗi chế độ xã hộ đều
dựa trên cơ sở kinh tế nhất định, nền kinh tế nớc ta phát triển theo định hớng
XHCN vì vậy kinh tế Nhà Nớc giữ vai trò chủ đạo tạo nền tảng cho chế độ xã hội
mới XHCN. Kinh tế Nhà Nớc đại diên cho phát sản xuất tiên tiến cho nền kinh
dựa trên chế độ công tức là sở hữu toàn dân, chính vì vậy mà vai trò của thành
phần kinh tế này rất cần thiết, nó quyết định đến sự phát triển xã hội. Trong thời
đảm bảo sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
1.3. Đặc điểm của thành phần kinh tế Nhà Nớc.
Thành phần kinh tê Nhà Nớc dựa trên sowr hữu toàn dân, viẹc tổ chức sản
xuất kinh doanh fđợc tiến hành theo nguyên tắc hạch tyóan kinh tế, thực hiện phân
phối theo lao động.
Thành phần kinh tế Nhà Nớc đợc sử dụng nh một công cụ để điều tiết nền
kinh tế theo định hớng của Nhà Nớc.
1.4. Các bộ phận cấu thành của kinh tế Nhà Nớc.
Kinh tế Nhà Nớc bao gồm các DNNN, các tài sản thuộc sở hữu Nhà Nớc và
các doanh nghiệp Nhà Nớc góp vốn.
Trong đó các DNNN và các doanh ngiệp cổ phần đợc hình thành trên cơ sở:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Nhà Nớc đầu t xây dựng
- Quốc hữu hóa các doanh nghiệp t nhân
- Góp cổ phần khống chế đối cới các doanh nghiệp t nhân.
2. Tính tất yếu tốn tại và phát triển kinh tế Nhà Nớc.
Nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trờng có sự quản lí của Nhà Nớc. Muốn đạt đợc mục tiêu định hớng nền
kinh tế theo con đờng xã hội chủ nghĩa thì việc tồn tại và phát triển kinh tế Nhà N-
ớc ở nớc ta là một tất yếu, kinh tế Nhà Nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân việc xxác lập vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà Nớc là vấn đề có tính
nguyên tắc và lá sự khắc nghiệt có tính bản chất giữa kinh tế thị trờng xã hội chủ
nghĩa với kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa.
2.1. Tính tất yếu tồn tại và phát triển kinh tế Nhà Nớc trong nền kinh tế Việt Nam.
Mỗi chế độ xã hội đều dựa trên cơ sở kinh tế nhất định, nền kinh tế nớc ta
phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa vì vậy kinh tế Nhà Nớc giữ vai trò chủ
đạo tạo nền tảng cho chế độ xã hộ mới xã hội chủ nghĩa .
Kinh tế Nhà Nớc đại diện cho phát triển sản xuất tiên tiến cho nền kinh tế
dựa trên chế đọ công hữu.
hội.
Tài sản này đợc Nhà Nớc quản lí và sử dụng để thực hiện các chứcnăng
nhiệm vụ của mình.
3.3. DNNN Nhà Nớc góp vốn.
Đó là các doanh nghiệp mà trong đó có sự đóng góp cổ phần của Nhà Nớc.
4. Kinh tế Nhà Nớc và các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế Việt
Nam.
4.1. Mối quan hệ giữa kinh tế Nhà Nớc và các thành phần kinh tế khác.
Nền kinh tế hàng hóa quá độ trong đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế với
những kiểu sản xuất hàng hóa không cùng bản chất, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn
với nhau. Tính thống nhất của các thành phần kinh tế thể hiện:
Một là, các thành phần kinh trong quá trình hoạt động không biệt lập nhau, mà
gắn bó đan xen xâm nhập lẫn nhau thông qua các mối quan hệ kinh tế vì chúng
đều là các bộ phận của hệ thống phân công lao động xã hội thống nhất.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hai là, mỗi thành phần kinh tế- xã hội và đều chịu sự quản lý thống nhất của
hệ thống các qui luật kinh tế đang tác đọng trong thời kì quá độ và thị trờng thống
nhất.
Tuy nhiên, các thành phần kinh tế này tồn tại trong mâu thuẫn, mâu thuẫn
giữa ccác thành phần kinh tế với nhau thể hiện: ở những mâu thuẫn giữa công hữu
và t hữu; giữa t nhân và tập thể với Nhà Nớc giữa xu hớng t bản chủ nghĩa và xã
hội chủ nghĩa.
Mâu thuẫn là động lực của mọi sự vận động và phát triển. Trong hệ thống thống
nhất của nền kinh tế hớng đối lập, một mặt phủ đinhj bài trừ lẫn nhau, cạnh tranh
nhau, mặt khác chúng thống nhất với nhau, thâm nhập, nơng tựa vào nhau để tồn tại
và phát triển thông qua hợp tác và cạn tranhh, liên doanh liên kết:
Tùy khả năng và trình độ xã hội hóa từng thành phần kinh tế và sự đan
xenliên kết đa dạng lẫn nhau giữa chúng, giải phóng mọi khả năng lực lợng sản
xuất kinh doanh, phát triển lực lợng sản xuất phát triển sản xuất và lu thông, phát
đích chính nh các doanh nghiệp phục vụ an ninh, quốc phoòng, giao thông công
cộng, trờng học, bệnh viện... cần có chính sách, cơ chế phù hợp để quản lí và sử dụng
có hiệu quả của các nguồn lực đợc đầu t, đảm bảo mục tiêu chính trị xã hội trong quá
trình tăng trởng và phát triển nhằm nâng cao đời sông nhân dân
Hai là, những doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận,
tập trung kiện toàn và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp lớn, những doanh
nghiệp hoạt động tôt, có khả năng canh tranh và tham gia thị trờng thế giới, phải
trở thành những doanh nghiệp mạnh toàn diện, là đầu đàn về công nghệ, kỹ thuật
và chất lợng sản phẩm, đi đầu về đảm bảo xã hội, phát huy giúp đỡ và ảnh hởng tốt
đến sự phát triển kinh tế xã hội bằng tính chất xã hội chủ nghĩa của mình, tạo ra sự
chuyển bviến vững chắc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Đối với các DNNN nhỏ và quá nhỏ, những doanh nghiệp không có vai trò
quan trọng không có hiệu quả htì phải xử lý thích hợp nh chuyển hình thức sơ hữu
cổ phần hóa, khoán, giải thể hoặc phá sản theo luật.
Những doanh nghiệp mang tính độc quyền hoặc các doanh nghiệp có chức
năng ổn định thị trờng, giá cả càn phải xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn và sự
điều tiết của Nhà Nớc, nhằm đảm bảo công bằng trong phát triển, tạo môit trờng
cho sự cạnh tranh và phục vụ cho sự định hớng nền kinh tế.
Ba là, mạnh dạn nghiên cứu và ứng dụng các hình thiức tổ chức quản lí trong
các DNNN. Tăng cờng hoạt động của kinh tế Nhà Nớc trong lĩnh vực phân phối lu
thông, từng bớc xây dựng văn minh thơng nghịêp, đảm bảo quyền lợi ngời tiêu
dùng.
Bốn là, vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong đổi mới kinh tế Nhà Nớc nhằm
nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh đó là vấn đề cán bộ và lực lợng lao động. Cần
hoàn thiện hệ thống chính sách tuyển dụng đãi ngộ, gắn trách nhiệm với quyền
hạn và nghĩa vụ, sớm tiêu chuẩn hóa các chức danh.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đổi mới kinh tế Nhà Nớc theo hớng trên một mặt khắc phục đợc sự bảo thủ
muốn duy trì kinh tế quốc doanh kiểu cũ, jém hiệu quả, mặt khác chống t tởng
ty giấy Việt Nam tồn kho 16 nghìn tấn giấy trị giá 140 tỷ đồng trong đó công ty
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giấy 7900 tấn, thêm vào đó, tồn đọng hơn 60000 m gỗ nguyên liệu dùng sản xuất
giấy. Sở dĩ co tình trạng trên la do:
Lợng giấy nhập khẩu vào Việt Nam trong tháng 6 đầu năm 96 lên tới 60.000
tấn tơng đơng với khối lợng dự kiến sản xuất trong năm của công ty giấy bãi Bằng,
cộng với 59.000 tấn giấy sản xuất trong nớc đã khiến thị trờng giáy trở nên bế tắc,
thị trờng ế ẩm nhiều nhà máy trở nên thua lỗ do không có tiền trả lãi vay ngân
hàng. Ta lại nhập những sản phẩm mà trong nớc sản xuất đợc. Giá giấy trên thị tr-
ờng thế giới giảm mạnh trong năm qua( nh giấy in giảm từ 910 USD/tấn xuống
còn 510USD/ tấn ), trong khi đó, giá thành sản xuất trong nớc cao hơn giấy nhập
khẩu.
Các nhà máy giấy đã phẩi giảm giá giấy nh giấy viết bãi bằng tại kho giảm từ
10660 ngàn đồng nhng lợng tiêu thụ vẫn chỉ đã có 2 nhà máy giấy ở Việt Nam
phải tạm đình chỉ sản xuất mộtt thời gian.
Sản xuất phân bón còn gặp khó khăn: đến đầu tháng 6 theo số liệu của tổng
công ty phân bón và hóa chất Việt Nam nhà máy phân đạm Hà Bắc đã đọng 20000
tấn phân đạm, nhà máy phân lân Ninh Bình đọng 15000 tấn phân lân trong đó
9000 tấn thành phẩm công ty super phốt phát lâm thao đọng khoảng 29000 tấn,
nhà máy phân lân Long Thành là 12000 tấn. Nguyên nhân do tốc độ tiêu thụ rất
chậm, chẳng hạn tại nhà máy phân lân Hà Bắc lợng phân bán ra chỉ đạt 60-70 tấn
một ngày trong khi một ngày nhà máy sản xuất 450 tấn. Lợng phân bón cần nhập
năm nay theo kế hoạch của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn là 1,4 triệu tấn
nhng đến trớc tháng 4/1996, lợng phân nhập về đã là 1,5 triệu tấn
Mỗi năm, các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nớc sản xuất đủ đáp ứng
60-70% nhu cầu, nhng thực tế năm 1996, các nhà máy nh phân lân Văn Điển,
Ninh Binh, Long Thành mới chỉ chạy 1/2 công xuất đã ứ đọng. Trong khi đó tổng
công ty vât t nông nghiệp nơi nhập hơn 40% lợng phân bón nhập khẩu đang lỗ 26-
27 tỷ đồng và buộc phải dự trữ lu thông 100 nghìn tấn để đề phòng thiếu hụt trọng
trong đông cơ chủ yếu của cải cách là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Công cuộc
đổi mới nền kinh tế đã mang lại những thành tựu quan trọng, đa nớc ta thoát khỏi
khủng hoảng và tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển.
Cuộc cải cách kinh tế cho thấy vai trò của khu vực quốc doanh ngày càng quan
trọng. Trớc năm 1986 khu vực quốc doanh chiếm 38% GDP thì đến năm 1998 đã
chiếm 40,2% GDP tốc độ tăng bình quân của khu vực quốc doanh trong năm này là
10,5% trong khi khu vực ngoại quốc doanh chỉ tăng 6,1%. Khi chuyển sang cơ chế
hoạt động mới phần các DNNN đều thiếu vốn, kỹ thuật và lúng túng trong phơng
thức hoạt động. Chính vì thế một trong những nội dung cơ bản trong cải cách khu vực
quốc doanh là cơ cấu lại và sắp xếp lại các DNNN nhằm khắc phục sự dàn trải và
năng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc. Để thực hiện việc sắp
xếp các doanh nghiệp Nhà nớc, nhiều biện pháp đã đợc thực hiện nh đăng ký lại
doanh nghiệp, giải thể các đơn vị hoạt động yếu kém, cổ phần hóa các doanh nghiệp,
tổ chức các tổng công ty. Nhìn chung những biện pháp thực hiện đã có những kết
quả nhất định. Quá trình sắp xếp các doanh nghiệp Nhà nớc tiến hành qua các giai
đoạn phát triển nh sau:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Giai đoạn 1 :(trớc năm 1990) tại Đại hội Đảng lần thứ VI (12.1986) Đảng đã
đề ra đờng lối đổi mới toàn diện đất nớc, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản
xuất hàng hóa và của thị trờng. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã bị phê phán
triệt để, khẳng định doanh nghiệp chuyển sang hẳn hạch toán kinh doanh. tRong
thời gian náy một số các chính sách đổi mới xí nghiệp quốc doanh đợc ban hành
nh quy định tạm thời về quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị KINH
Tế cơ sở( quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987)Trong 6hời kì này các
DOANH NGHIệP đợc thành lập trên một quy mô rộng lớn cả cấp huyện, và không
có sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trung ng và địa phơng. Đến cuối
nam 1989 cả nớc có 12296 DNNN, và đặc tẻng cơ bản của doanh nghiệp trong
thời kì này là quy mô nhỏ , vốn ít và công nhệ lạc hậu. Sự dàn trải của các doanh
nghiệp làn cho nguồn vốn đầu t của Nhà nớc không thể tập trung để phát triển cho
gia đoạn này, công tác đôpỉ mới sắp xếp các doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào
việc tổ chức quản lý và xây dựng cơ chế tự chủ cho các doanh nghiệp, sáp nhập ,
giải thể để tạo ra mmột hệ thống hợp lý các doanh nghiệp cho nền kinh tế. Sự
chuyển dịch cơ cấu của các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn cha thực hiện đợc. Phần
lớn các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn còn ở quy mô nhỏ, cơ cấu ngành vùng lảnh thổ
cha hợp lý.
Giai đọa 3(từ năm 1994 đế nay). Tiến hành sắp xếp tổng thể các doanh
nghiệp để tạo ra một hệ thống các doanh nghiệp hợp lý và có hiệu quả, đảm nhận
vai trò chủ đạo trong sự phát triển của toàn bộ nền king tế. Trong thời gian này
chính phủ đã thành lập một số tổng công ty có quy mô quốc gia nhằm tập trung
vốn, kỹ thuật để tăng cờng sức cạnh tranh và định hớng chiến lợc của Nhà nớc
trong các ngành kinh tế quan trọng. Các tổng công ty Nhà nớc này thu hút 750
doanh nghiệp Nhà nớc là thành viên hyạch toán độc lập và phụ thuộc, chiếm
khoảng 30% tổng số doanh nghiệp Nhà nớc đang hoạt động và khoảng 70% doanh
nghiệp do trung ơng quản lý. Các tổng công ty Nhà nớc hiện nay chiếm khoảng
80% sản lợng và vốn của khu vực doanh nghiệp Nhà nớc , có khả năng chi phối
toàn bộ nèn kinh tế việt nam hiện nay cả nớc có 5952dn Nhà nớc ,mặc dù số lợng
doanh nghiệp giảm gần 50% so với năm 1989 song doanh nghiệp Nhà nớc vẫn giữ
vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong các ngành công
nghiêp, giao thông vận tải , viễn thông. Một trong những nhiệm vụ của cải cách
doanh nghiệp Nhà nớc trong thởi kỳ này là tiếp tục thực hiện cổ phần hóa, đa dạng
hóa sở hữu một bộ phận doanh nghiệp Nhà nớc hàng loạt những chíng sách về cổ
phần hóa ra đời, tính đến giữa năm 1999 có 172 doanh nghiệp có quyết định
chuyển thành công ty cổ phần và có 4 doanh nghiệp trở thành công ty trách nhiệm
hữu hạn. Hiẹn nay các bộ , ngành , địa phơng đang tích cực triển khai phân loại
doanh nghiệp để thục hiện phơng án sắp xếp lại doanh nghiệp theo chỉ thị số
20/1998/CT của htủ tớng chíng phủ. Qua các đợt sắp xếp đổi mới doanh nghiệp ,
số lợng các doanh nghiệp có giảm hẳn nhng mục tiêu cơ cấu lại các doanh nghiệp
theo ngành và địa bàn để có một hệ thống hợp lý các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn
cha đáp ứng đợc mục tiêu đề ra. Trong những năm gần đây, tuy quy mô đầu t lớn
bình trình độ công nghệ của các DNNN lạc hậu so với mặt bàng công nghệ thế
giới là khoảng 20 năm. Có những doanh nghiệp có trang thiết bị quá lạc hậu cách
đây gần 50 nămnhwng vẫn không đợc đổi mới. Các DNNN thuộc trung ơng có tới
50,3% ở trình độ phổ thông 41% ở trình dộ cơ khí và chỉ có 4,7% ở trình độ tự
động hóa các DNNN thuộc địa phơng trình độ còn thấp hơn. Vì trình đọ kĩ thuật
kém nên năng suất lao động, chất lợng sản phẩm thấp làm khả năng cạnh tranh
của các DNNN bị ảnh hởn rất lớn.
(5) Cơ chế quản lí của các DNNN còn những hạn chế và cha theo kịp sự phát
triển chung, có nhiều cơ quan quản lí doanh nghiệp nhng lại không có những cơ
quan nào chịu trách nhiệm về những hậu quả do các doanh nghiệp gây ra, Nhà nớc
cha có những biện pháp có hiệu quả để thúc đẩy động lực hoạt động của các công
ty, nhằm s dung hơp hí và toói u những nguồn lực mà các công ty hiện có. Xuất
hiện tình trạng sử dụng các nguồng lực cua công ty, thực chất là nguồn lực của
Nhà nớc, vào việc phục vụ những lợi ích cá nhân và nhóm ngời hoạt độngtrong các
doanh nghiệp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(6) Hiệu quả sử dụng đồng vốn giảm dần. Nếu năm 1995, một đồng vốn tạo
đợc 3,46 đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận thì đến năm 1998 tơng ứng là 3
đồng doanh thu và 0,16 đồng lợi nhuận. Số lao động d thừa năm 219995 là 15%
tăng nên 28% 1998.
Những yếu kiếm của các DNNN nêu trên có thể kể ra từ những nguyên nhân
chính sau:
Cha nhận thức đầy đủ về vai trof chủ đạoc của DNNN trong nền kinh tế thị
trờng nênm cha có một hệ thống các chính sách vĩ moo hợp lí. Hệ thống pháp luật
liên quan đến DNNN cha thực sự hoàn thiệt cha tạo điều kiện cho các DNNN chủ
đọng hoàn toàn trong sẩn xuất kinh doanh, nh những vấn đề về cơ cấu tổ chức,
moo hình các caông ty,tổ chức quản lí các doanh nghiệp
Những ảnh hởng của cơ chế cũ vẫn còn tác động đến các doanh nghiệp. sự
can thiệp quá sâu của các cơ quan quản lí Nhà nớc vào hoạt động của các doanh