Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
dân
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang hòa mình vào sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
khu vực và thế giới. Trong xu thế đó, Thương mại quốc tế đã trở thành hoạt
động mang tính chất sống còn đối với sự lớn mạnh của đất nước cũng như của
từng doanh nghiệp và là con đường tốt nhất và nhanh nhất để các doanh
nghiệp, các quốc gia hòa mình vào dòng chảy kinh tế thế giới, hội nhập sâu và
rộng tới các nền kinh tế khác.Cùng với quá trình đó Việt Nam cũng đang từng
bước tham gia vào dòng chảy này, với việc tham gia và thực hiện đúng lộ
trình cam kết gia nhập WTO,đã và đang không ngừng cố gắng đẩy mạnh sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước, đưa nền kinh tế hòa nhập vào khu vực Đông
Nam Á và các nước phát triển trên thế giới.
Với xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu, còn nhiều hạn
chế về trình độ khoa học kĩ thuật thì con đường nhanh nhất để tiến hành
CNH-HĐH đất nước là cần nhanh chóng tiếp cận những công nghệ và kĩ
thuật tiên tiến của các nước phát triển. Để làm được điều này thì nhập khẩu
đóng một vai trò vô cùng quan trọng.Nhập khẩu cho phép phát huy tối đa nội
lực trong nước đồng thời tranh thủ được các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công
nghệ của thế giới. Trước bối cảnh đó đã đặt cho ngành thương mại nói chung
và Trung tâm XNK nói riêng những cơ hội và thử thách lớn lao. Đó là làm thế
nào để có những máy móc thiết bị có công nghệ tốt nhất, hiện đại nhất với
thời gian và chi phí ít nhất, đạt hiệu quả cao.
Trung tâm XNK chuyên nhập khẩu máy móc thiết bị xây dựng
phục vụ cho nhu cầu của các doanh nghiệp trong nước. Để đáp ứng nhu cầu
chất lượng cao của khách hàng thì Trung tâm XNK phải có nhiệm vụ nhập
khẩu những máy móc và thiết bị hiện đại của các nước phát triển thông qua
các hợp đồng nhập khẩu với nước ngoài. Để hỗ trợ cho công tác nhập khẩu thì
việc làm tốt khâu tổ chức thực hiện, ký kết hợp đồng nhập khẩu là rất quan
trọng. Thực hiện hợp đồng nhập khẩu bao gồm nhiều công việc kế tiếp, đan
Page 1 of 93
1. Khái niệm nhập khẩu
Nhập khẩu là sự trao đổi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm
mục đích lợi nhuận giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh tại các quốc
gia khác nhau.
Theo Điều 28.2 Luật Thương mại 2005: “Nhập khẩu hàng hoá là việc
hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc
biệt trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định
của pháp luật”.
2.Các hình thức nhập khẩu
Hiện nay hoạt động nhập khẩu được thực hiện bởi các hình thức thông
dụng sau:
2.1. Nhập khẩu trực tiếp
Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh
nghiệp trực tiếp nghiên cứu thị trường, tính toán chi phí, ký kết hợp đồng,
thực hiện hợp đồng, chịu trách nhiệm lỗ lãi, đảm bảo phương hướng phù hợp
với pháp luật quốc gia và quốc tế.
Đây là hình thức thường áp dụng cho các doanh nghiệp trong nước có
đủ điều kiện tài chính, điều kiện nhân lực, điều kiện địa lý, có khả năng mua
hàng nhập khẩu và được Nhà nước, Bộ Thương mại cấp giấy phép, cho phép
trực tiếp giao dịch, ký kết các hợp đồng về nhập khẩu hàng hoá với nước
ngoài và thanh toán bằng ngoại tệ (chủ yếu là ngoại tệ mạnh).
2.2. Nhập khẩu uỷ thác
Page 3 of 93
3
Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
dân
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động của doanh nghiệp trong nước có vốn
ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu nhưng không có đủ điều kiện tham gia
nhập khẩu trực tiếp, uỷ thác cho doanh nghiệp khác nhập khẩu hàng theo yêu
cầu của mình. Bên nhận uỷ thác đàm phán, ký kết hợp đồng để nhập hàng
vụ nhận hàng và trả tiền.
4. Đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu
Hợp đồng nhập khẩu vừa chứa đựng những đặc điểm của hợp đồng
thương mại vừa có yếu tố quốc tế.
Hợp đồng mua bán hàng hoá được thiết lập dựa trên cơ sở tự nguyện
thoả thuận của các bên tham gia, nghĩa là hợp đồng phải xây dựng trên sự tự
nguyện, không có sự ép buộc, cưỡng bức hay lừa dối.
Chủ thể là các thương nhân có quốc tịch khác nhau và có trụ sở kinh
doanh tại các quốc gia khác nhau.( Điều 6 LTM 2005)
Hàng hóa – đối tượng của hợp đồng được chuyển qua biên giới quốc
gia hoặc giai đoạn chào hàng, chấp nhận chào hàng đựơc diễn ra tại các quốc
gia khác nhau.( Khoản 2 Điều 3 LTM 2005)
Nội dung của hợp đồng bao gồm quyền, nghĩa vụ phát sinh từ việc
chuyển giao sở hữu hàng hóa từ người bán sang người mua ở các quốc gia
khác nhau. Do đó hợp đồng là cơ sở để các bên thực hiện nghĩa vụ của mình
và yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ của họ.
Đồng tiền thanh toán theo điều khoản của hợp đồng là ngoại tệ đối với
ít nhất 1 bên.
Luật điều chỉnh hợp đồng là luật quốc gia, luật quốc tế và tập quán
quốc tế về thương mại và hàng hải.
5. Nguồn luật điều chỉnh
Luật pháp là cơ sở và yếu tố đầu tiên đảm bảo cho các bên trong hợp đồng
có được môi trường bình đẳng và thuận lợi. Không có một thương nhân nào khi
tham gia ký kết hợp đồng ngoại thương lại không chú ý đến yếu tố này.
Page 5 of 93
5
Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
dân
Trên thực tế, một hợp đồng nhập khẩu dù có được các bên thoả thuận
kỹ lưỡng thì cũng không thể lường trước được đầy đủ các vấn đề, các tình
hàng hoá quốc tế của Liên hiệp quốc, nhằm loại bỏ những trở ngại do những
quy định khác nhau trong hệ thống pháp luật quốc gia về thủ tục ký kết và
thực hiện hợp đồng giữa các bên. Việt Nam chưa là thành viên của công ước
Viên nhưng các doanh nghiệp Việt Nam có thể lựa chọn công ước này làm
công cụ điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hoá của mình với các chủ thể ký
kết ở nước ngoài.
5.2. Tập quán thương mại quốc tế
Các tập quán được hình thành lâu đời trong các quan hệ thương mại
quốc tế, khi được các chủ thể ký kết hợp đồng mua bán quốc tế chấp nhận
sẽ trở thành nguồn luật điều chỉnh mối quan hệ hợp đông giữa các chủ thể
ấy với nhau.
Tập quán thương mại, khi được dẫn chiếu vào hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tế sẽ có hiệu lực bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể ký kết. Hiện
nay, Incoterm là tập quán thông dụng trong buôn bán hàng hoá quốc tế được
Phòng Thương mại quốc tế (ICC) tổng kết, soạn thảo và ban hành. Các
thương gia thoả thuận thừa nhận Incoterm trong thương mại quốc tế là do nó
giúp các bên tiết kiệm nhiều công sức và thời gian khi tham gia quan hệ hợp
đồng, khi nó có các quy định cụ thể về nội dung từng điều kiện và các bên chỉ
cần lựa chọn một điều kiện là đã chấp nhận tất cả các nội dung của điều kiện
đó. Chẳng hạn nó giúp người bán chào giá một cách rõ rang về chi phí và rủi
ro trong chuyên chở quốc tế giữa người bán và người mua. Tương tự như vậy
là trách nhiệm bảo hiểm và nghĩa vụ làm và chịu chi phí về thủ tục hải quan.
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam
càng ngày càng áp dụng tập quán quốc tế một cách thường xuyên hơn.
5.3. Luật quốc gia
Trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế, bên cạnh các điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế,… luật quốc
Page 7 of 93
7
Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
dân
cũng như thừa nhận vai trò tich cực của các án lệ có xu hướng gia tăng tại các
nước có hệ thống pháp luật khác nhau.
5.5. Quy tắc chọn luật
Các nguồn luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế rất đa dạng,
vì vậy, trong một hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, các bên tham gia hợp
đồng phải có sự lựa chọn luật áp dụng rất cụ thể. Việc lựa chon áp dụng
nguồn luật nào hoàn toàn theo sự lựa chọn của các bên theo nguyên tắc tôn
trọng quyền tự quyết của đương sự và không trái pháp luật các bên. Nếu các
bên thoả thuận áp dụng luật Việt Nam thì theo quy định tại Điều 759 Bộ luật
dân sự 2005:
Các quy định của pháp luật dân sự của nước CHXHCN Việt Nam được
áp dụng đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp bộ
luật này quy định khác.
Trong trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành
viên có quy định khác với quy định của bộ luật này thì áp dụng quy định của
điều ước quốc tế.
Nếu pháp luật Việt Nam, hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên dẫn chiếu đến việc áp dung pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó
được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Nếu pháp luật của nước ngoài đó
dẫn chiếu ngược lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam.
Nếu các bên thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật đó
phải không trái với các quy định của pháp luật Việt Nam.
Việc áp dụng tập quán quốc tế được sử dụng trong trường hợp các quan
hệ quốc tế này không được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam, các điều ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên, hay quan hệ hợp đồng giữa các bên. Với
điều kiện là việc áp dụng tập quán quốc tế hay hậu quả của việc áp dụng
không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
ngầm định về giá cả”. Chào hàng chỉ phát sinh hiệu lực khi nó tới nơi người
1
Trần Văn Nam - Trần Thị Hoà Bình (đồng chủ biên) “Giáo trình Luật thương mại quốc tế”. Đại học Kinh tế
quốc dân 2005. Trang 104 – 105.
Page 10 of 93
10
Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
dân
được chào hàng (Điều 15.1). Chào hàng có thể bị huỷ nếu thông báo của
người chào hàng về việc huỷ chào hàng gửi tới nơi người được chào trước
hoặc cùng lúc với chào hàng (Điều 15.2). Chào hàng sẽ mất hiệu lực nếu
người chào hàng nhận được thông báo về việc từ chối chào hàng (Điều 17).
2.2. Chấp nhận chào hàng
Chấp nhận chào hàng là một tuyên bố hay một hành vi khác của người
được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng (Điều 14.1). Nếu người nhận
được chào hàng nhưng im lặng hoặc không hành động thì không được coi là
chấp nhận chào hàng (Điều 18.1). Người nhận được chào hàng sau khi đã
chấp nhận cũng có thể xem xét lại và nếu thấy chào hàng đó không có lợi cho
mình thì có thể huỷ chấp nhận mà mình đã gửi. Tuy nhiên việc huỷ chấp nhận
chào hàng chỉ có thể được chấp nhận nếu thông báo về việc huỷ chấp nhận
chào hàng tới nơi người chào hàng trước hoặc cùng thời điểm chấp nhận có
hiệu lực (Điều 22).
Hợp đồng được coi là đã ký kết kể từ thời điểm chấp nhận chào hàng
có hiệu lực (Điều 23). Bắt đầu từ thời điểm này các bên có những quyền và
nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng.
3. Quyền và nghĩa vụ các bên tham gia hợp đồng
3.1. Quyền và nghĩa vụ của bên bán
3.1.1. Nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ liên quan đến hàng hoá.
Công ước Viên quy định về giao hàng và chuyển giao chứng từ liên
quan đến hàng hoá từ Điều 31 đến Điều 35. Theo đó, bên bán có nghĩa vụ
Thứ nhất về thanh toán tiền hàng, bên mua có nghĩa vụ trả tiền vào
ngày thanh toán đã quy định hoặc có thể được xác định theo hợp đồng hoặc
theo Công ước mà không cần có yêu cầu hoặc việc thực hiện một thủ tục nào
về phía bên bán (Điều 59). Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của bên bán bao
gồm việc áp dụng các biện pháp và tuân thủ các biện pháp mà hợp đồng hoặc
luật lệ đòi hỏi để thực hiện việc thanh toán tiền hàng tại địa điểm nhất định.
Thứ hai về nhận hàng, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng bao gồm việc
thực hiện mọi hành vi tạo điều kiện cho bên bán giao hàng và tiếp nhận hàng
hoá (Điều 60). Theo đúng quy định trong hợp đồng và Công ước.
3.2.2. Quyền của bên mua
Page 12 of 93
12
Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
dân
Khi bên bán vi phạm các nghĩa vụ của mình thì bên mua có quyền thực
hiện một số biện pháp để bảo về lợi ích của mình như:
Yêu cầu bên bán thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng như: cung cấp hàng
hoá đúng với thoả thuận trong hợp đồng (nếu hàng hoá chưa phù hợp), tiếp
tục bổ sung hàng hoá (nếu còn thiếu về số lượng), sửa chữa hoặc thay đổi
hàng mới (nếu hàng hoá được cung cấp có khuyết tật)…
Nếu hàng hoá không phù hợp với hợp đồng thì bên mua có thể yêu cầu
bên bán giao hàng thay thế hoặc sửa chữa sự không phù hợp ấy. Bên mua có
thể cho phép bên bán có thêm thời gian nhất định để thực hiện sự sửa chữa ấy
(Điều 46).
Nếu bên bán không đảm bảo được thời hạn giao hàng thì bên mua có
thể cho phép một thời hạn nhất định để thực hiện hợp đồng (Điều 47).
Bên mua có quyền huỷ hợp đồng trong trường hợp bên bán không thực
hiện nghĩa vụ theo hợp đồng tạo thành một vi phạm cơ bản hợp đồng hay khi
bên bán không giao hàng trong thời hạn bên mua gia hạn thêm hoặc bên bán
tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời hạn bổ sung này (Điều 49).
thiệt hại là: tổn thất mà bên vi phạm phải gánh chịu; các thu nhập bị bỏ lỡ
do hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia.
Công ước quy đinh: “Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi
phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ
mà bên kia đã phải chịu di hậu quả của sự vi phạm hợp đồng”. Tiền bồi
thường thiệt hại không thể cao hơn thiệt hại thực tế và những khoản đáng
lẽ thu được nhưng bị bỏ lỡ là những khoản mà bên vi phạm đã dự liệu
được hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào thời điểm ký hợp đồng.
4.3. Huỷ hợp đồng
Bên bị vi phạm có thể huỷ hợp đồng nếu hành vi vi phạm hợp đồng
của bên kia tạo thành một vi phạm nghiêm trọng (Điều 49.1.a, Điều
46.1.a). Tức là sự vi phạm đó làm cho bên bị thiệt hại, trong một chừng
mực đáng kể bị mất đi cái mà họ chờ đợi trên cơ sở hợp đồng (Điều 25).
Việc không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của hợp đồng tạo thành
một vi phạm chủ yếu đối với hợp đồng như:
Page 14 of 93
14
Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
dân
- Giao hàng không đúng chủng loại đã quy định trong hợp đồng;
hàng kém phẩm chất, hàng giao thiếu bộ phận nào đó mà việc giao thiếu
này dẫn đến việc không thể khai thác, sử dụng được hàng đã giao…
- Bên bán không giao hàng trong thời hạn gia hạn thêm của bên
mua, hoặc bên bán tuyên bố không giao hàng trong thời gian gia hạn
thêm đó.
- Bên mua không trả tiền, hay không nhận hàng; hoặc tuyên bố
không trả tiền, hay không nhận hàng trong thời gian gia hạn thêm mà bên
bán quy định.
Công ước Viên không có các điều khoản quy định về giải quyết
tranh chấp tròn trường hợp có sự vi phạm hợp đồng.
nhất quy định trong các hiệp định thương mại và đặc biệt trong điều kiện
chung giao hàng tay đôi giữa Việt Nam với từng nhà nước xã hội chủ
nghĩa, sau này có thêm điều kiện chung giao hàng SEV – các nước thuộc
hội đồng tương trợ kinh tế. Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất
nhập khẩu chưa hình thành.
Các bản điều kiện chung giao hàng là công cụ quan trọng trong việc
điều tiết xuất nhập khẩu Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là
điều tiết những vấn đề liên quan đến thủ tục giao kết và thực hiện hợp đồng
xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu; trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng; cơ
quan xét xử tranh chấp; hay vấn đề áp dụng luật…. Các tổ chức ngoại thương
của các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có các Tổng công ty xuất nhập khẩu
trên cơ sở các điều kiện chung giao hàng đã tiết kiệm được thời gian đàm
phán, loại bỏ những điểm bất đồng do có sự quy định khác nhau trong hệ
thống luật của mỗi quốc gia
(2)
.
Từ cuối 1986, thực hiện đường lối đổi mới kinh tế do Đại hôi VI của
Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra, kinh tế đối ngoại được coi là một “mũi nhọn”
của sự đổi mới
3
. Ngoại thương, đặc biệt là xuất khẩu đã được Chính phủ đề cao,
2
Trần Văn Nam, Trần Thị Hoà Bình (đồng Chủ biên): tlđd Trang 30.
3
Trần Anh Phương: Tạp chí Những vấn đề kinh tê thế giới, Số 3 (29) tr.18
Page 16 of 93
16
Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
dân
coi đó là 1 trong 3 chương trình kinh tế trọng điểm của Việt Nam. Ngoài việc
dân
trong hai chế tài là phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại (khác với Pháp
lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 28/9/1989 áp dụng đồng thời hai hình thức trách
nhiệm pháp lý đối với một hành vi vi phạm).
Cũng trong thời gian này, pháp luật Việt Nam đã có những sửa đổi khá
cơ bản về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của thương nhân (đến nay vẫn có
hiệu lực) góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu phát triển
như: theo quy định tại Nghị định số 33/CP ngày 19/4/1994, những doanh
nghiệp chưa có Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu không phải là chủ thể
của hợp đồng mua bán ngoại thương. Mọi hợp đồng mua bán ngoại thương do
các doanh nghiệp này ký đều không có hiệu lực vì chủ thể ký kết phía Việt
Nam không hợp pháp. Nghị định 57/1998/NĐ-CP có hiệu lực pháp lý từ ngày
1/9/1998 đã tạo bước đột phá trong quy định về quyền kinh doanh xuất nhập
khẩu đối với thương nhân. Theo đó, thương nhân là doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế, thành lập theo quy định của pháp luật, được phép xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh sau khi đã đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố, không phải xin Giấy phép kinh
doanh xuất nhập khẩu tại Bộ thương mại. Và kể từ ngày Nghị định 57 có hiệu
lực pháp lý, các Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do Bộ thương mại đã cấp
hết hiệu lực thi hành. Như vậy, theo Nghị định 57, quyền kinh doanh xuất nhập
khẩu đối với thương nhân đã được mở rộng cho tất cả các doanh các doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu
tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố là được kinh doanh xuất nhập khẩu, không còn
phải xin phép Bộ thương mại. Và cũng không còn sự phân biệt giữa doanh
nghiệp được quyền và doanh nghiệp không được quyền kinh doanh xuất nhập
khẩu nữa. Nghị định 44/2001/NĐ-CP đã tiếp tục mở rộng quyền kinh doanh
xuất khẩu cho doanh nghiệp khi quy định thương nhân có thể xuất khẩu tất cả
các loại hàng hoá không phụ thuộc vào ngành nghề được ghi trong Giấy chứng
Page 18 of 93
Page 19 of 93
19
Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
dân
Sau khi Luật Thương mại 2005 ra đời, quyền kinh doanh xuất nhập
khẩu của doanh nghiệp cũng được mở rộng hơn nữa bởi sự ra đời của Nghị
định 12/2006/NĐ-CP. Nghị định 12/2006/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày
1/5/2006 và thay thế cho Nghị định 57/1998/NĐ-CP và Nghị định
44/2001/NĐ-CP. Theo Nghị định 12, thương nhân được xuất khẩu nhập khẩu
hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh trừ hàng hóa
thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh
mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu.
Pháp luật Việt Nam cũng đã có sửa đổi khá cơ bản về yêu cầu đối với
nội dung của hợp đồng theo hướng phù hợp hơn với pháp luật quốc tế.
- Theo quy định của Luật thương mại năm 1997 đã hết hiệu lực thi
hành kể từ ngày 1/1/2006, hợp đồng mua bán hàng hoá phải có các nội dung
chủ yếu là: tên hàng; số lượng; quy cách, chất lượng; giá cả; phương thức
thanh toán; địa điểm và thời hạn giao nhận hàng. Việc quy định hợp đồng
phải có 6 nội dung không thể thiếu như trên mâu thuẫn với nguyên lý cơ bản
của pháp luật thương mại, theo đó quy định các chủ thể tham gia kinh doanh
được tự do thoả thuận mọi giao dịch của mình. Mâu thuẫn rõ ràng là giữa việc
các chủ thể cùng lúc phải tuân thủ quy định bắt buộc gồm sáu nội dung của
hợp đồng với việc pháp luật đã trao cho các chủ thể quyền tự do thoả thuận
hợp đồng. Hơn nữa, Công ước của Liên Hiệp Quốc về hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế (gọi tắt là Công ước Viên 1980) hiện có hơn 60 nước phê
chuẩn quy định tối thiểu về các nội dung bắt buộc này, chỉ xoay quanh ba
điều khoản: tên hàng; số lượng và giá cả (Điều 14 Công ước Viên 1980).
- Vì những lý do trên, để phù hợp hơn với pháp luật quốc tế cũng như
tôn trọng nguyên tắc tự do thoả thuận hợp đồng của các chủ thể, Bộ luật Dân
sự năm 2005 đã quy định khi ký kết hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về
nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, các nhân hoạt động
thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Điều
6 Khoản 1). Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước
ngoài công nhận (Điều 16 Khoản 1).
Page 21 of 93
21
Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
dân
Các doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu
tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố là được kinh doanh xuất nhập khẩu, không
phải xin phép Bộ Thương mại (nay đổi là Bộ Công thương). Hiện nay pháp
luật Việt Nam không còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp được quyền hay
doanh nghiệp không được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu như trước nữa.
2.1.3. Điều kiện về người có thẩm quyền giao kết hợp đồng
Người giao kết hợp đồng là người đại diện cho thương nhân đó theo
pháp luật hoặc theo uỷ quyền. Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật
quy định, là người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân
hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đại diện theo uỷ quyền
là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được
đại diện. Phạm vi đại diện theo uỷ quyền được xác lập theo sự uỷ quyền và
người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch trong phạm đại diện. Uỷ quyền
phải được làm bằng văn bản và người uỷ quyền phải hoàn toàn chịu trách
nhiệm về hành vi của người được uỷ quyền trong phạm vi quy định của sự uỷ
quyền (Điều 140-142 Bộ Luật Dân sự 2005).
2.1.4. Điều kiện về đối tượng của hợp đồng nhập khẩu
Hàng hoá - đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải là
hàng hoá được phép mua bán theo quy định pháp luật của nước bên mua và
nước bên bán.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, thương nhân được
2.1.6. Điều kiện về hình thức của hợp đồng
Hình thức của hợp đồng phải tuân thủ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng.
Luật Thương mại 2005 quy đinh rõ: “Mua bán hàng hóa quốc tế phải được
thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá
trị pháp lý tương đương” (Điều 27 Khoản 2). Các hình thức có giá trị pháp lý
tương đương văn bản như: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (Khoản 15
Điều 3). Như vậy hình thức của hợp đồng nhập khẩu cũng tuân theo những
quy định trên.
2.2. Giao kết hợp đồng nhập khẩu
2.2.1. Cách thức giao kết hợp đồng
Hợp đồng nhập khẩu có thể được giao kết bằng các phương thức trực
tiếp hoặc gián tiếp.
Giao kết hợp đồng trực tiếp: Các bên tham gia giao kết hợp đồng cử
người đại diện để trực tiếp gặp nhau, cùng bàn bạc, thương lượng và thoả
thuận thống nhất về các nội dung của hợp đồng và cùng ký tên vào văn bản
hợp đồng. Kể từ thời điểm các bên có mặt ký vào hợp đồng, hợp đồng được
xác lập và phát sinh hiệu lực pháp lý. Trường hợp có quy định điều kiện khác
trong hợp đồng như có quota hoặc một giấy phép đặc biệt hoặc mở L/C… thì
hợp đồng chỉ có giá trị pháp lý nếu những điều kiện này được thực hiện.
Giao kết hợp đồng gián tiếp: Các bên không trực tiếp gặp nhau để bàn bạc,
thảo luận mà thực hiện trao đổi qua các tài liệu giao dịch như công văn, điện báo,
đơn đặt hàng, đơn chào hàng…có ghi rõ nội dung công việc cần giao dịch. Trình
tự giao kết hợp đồng theo phương thức này bao gồm hai giai đoạn: Đề nghị giao
kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Những vấn đề này không
được Luật Thương mại 2005 quy định cụ thể, vì vậy các quy định của Bộ Luật
Dân sự 2005 sẽ được áp dụng, và áp dụng chung cho cả hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tế nói chung và hợp đồng nhập khẩu nói riêng.
Page 24 of 93
24
Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc
Giáo trình Luật Thương mại II. Đại học Luật Hà Nội. NXB Công an nhân dân. 2006. Trang 23-24.
Page 25 of 93
25