Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực đã trở thành một
trong những xu thế chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại, tạo ra những
mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia, của các
dân tộc.
Từ sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã tích cực tham gia vào đời
sống quốc tế, từng bước vững chắc hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế của thế
giới và khu vực như : Gia nhập ASEAN (7/1995), tham gia APEC (11/1998)
và đã gia nhập và trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO
(17/11/2006).
Hải Quan Việt Nam với vai trò “là binh chủng đặc biệt” gác cửa đất
nước về mặt kinh tế , gắn liền với hoạt động đối ngoại, kinh tế đối ngoại và an
ninh quốc gia, thực hiện chức năng quản lí nhà nước về hải quan đối với hàng
hoá xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việt
Nam và đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại
hối, tiền Việt Nam qua biên giới.Hải quan góp phần vào sự ổn định, phát triển
kinh tế - xã hội, đặc biệt là kinh tế đối ngoại trong thời kì “mở cửa” và hội
nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
Chi cục Hải Quan hàng đầu tư- gia công là một trong những đơn vị trực
thuộc Hải Quan thành phố Hà Nội-Một trong những đơn vị điển hình trong
công tác thu thuế Xuất nhập khẩu.
Nhằm làm rõ vị trí, vai trò, cũng như các mối quan hệ, việc thực hiện
việc thu thuế tại các cửa điểm Hải Quan giữ nhiệm vụ hết sức quan trọng đối
với nền kinh tế của cả nước. Trước tình hình đó, tôi lựa chọn đề tài “Giải
pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách thu thuế xuất nhập khẩu tại Chi
cục Hải Quan hàng đầu tư - gia công Hà Nội”
Lê Thị Thu Hà – TMQT45
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm phân tích rõ việc thực hiện
chính sách thu thuế xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam nói chung và chi
quan hệ quốc tế hiện đại. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang
thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia,
làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ. Những tiến bộ của khoa
học - công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin, đã đưa các quốc gia
gắn kết lại gần nhau. Trước những biến đổi to lớn về khoa học - công nghệ
này, tất cả các nước trên thế giới đều thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều
chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế
quan và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển vốn, lao
động và kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn, mở đường cho
kinh tế quốc tế phát triển. Đại diện cho xu thế toàn cầu hoá này là sự ra đời
của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vào năm 1948
với 23 nước thành viên sáng lập với mục tiêu xác lập những nguyên tắc điều
chỉnh và thúc đẩy thương mại quốc tế phục vụ cho phát triển kinh tế của mỗi
nước thành viên. Kể từ 1/1/1995, GATT đã được đổi thành Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) điều tiết không chỉ thương mại hàng hoá mà mở rộng
sang cả thương mại dịch vụ, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ. Với 144 nước thành
viên chiếm trên 90% tổng kim ngạch thương mại thế giới, WTO trở thành một
Lê Thị Thu Hà – TMQT45
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tổ chức có quy mô toàn cầu và là nền tảng pháp lý cho quan hệ kinh tế quốc
tế, là diễn đàn thường trực đàm phán thương mại và là thể chế giải quyết các
tranh chấp thương mại quốc tế.
Ngày nay thế giới đang diễn ra nhiều biến động trên tất cả đời sống
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, khoa học kỹ thuật... đòi hỏi các nước phát
triển cũng như các nước đang phát triển phải hội nhập để bắt kịp tiến trình
phát triển của xã hội và Việt Nam không nằm ngoài ngoại lệ đó.
Trong những năm của thập niên 90 trở lại đây, thế giới xảy ra rất nhiều
những biến động có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế của Việt Nam đó là:
Kinh tế thế giới phát triển không đồng đều xảy ra các cuộc khủng
hoảng lớn, sâu rộng hơn cả là cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính của các
o 7/ 1995: Ký Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế với Liên minh Châu Âu
(EU).
o 7/1995: Gia nhập ASEAN.
o 1/1996: Thực hiện Chương trình CEPT nhằm tiến tới Khu vực Thương
mại tự do ASEAN (AFTA).
o 3/1996: Tham gia sáng lập Diễn đàn Á - Âu (ASEM) với 25 thành viên.
o 11/1998: Gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
( APEC) : 21 thành viên.
o 7/2000: Ký Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ ; có
hiệu lực thi hành từ 10/12/2001.
Lê Thị Thu Hà – TMQT45
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
o 17/11/2006: Gia nhập tổ chức Thương Mại thế giới WTO.
Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, chính sách thương mại nước ta có
những thay đổi quan trọng trong thời kì (86-95), tuy nhiên phải kể từ sau khi
gia nhập ASEAN, tham gia AFTA, ACFTA, các chính sách thương mại của
Việt Nam mới thực sự thay đổi, mà biện pháp cơ bản chính là thuế quan và
phi thuế quan.
Về chính sách thuế quan: Nước ta đã luật hoá được một loạt chính
sách về thuế và thuế xuất nhập khẩu (XNK). Các chính sách đã đưa ra lịch
trình tổng thể về cắt giảm thuế quan thực hiện CEPT/ AFTA , thay đổi thuế
suất theo hướng cắt giảm, thay đổi danh mục biểu thuế quan theo hệ thống
HS, từng bước áp dụng tính thuế Hiệp định trị giá GATT/ WTO.
Theo Luật thuế xuất khẩu- nhập khẩu ( 1991) quy định biểu thuế NK có
28 mức Thuế suất từ 0-200%. Kể từ ngày 01/01/1996, tại kỳ họp thứ 8- Quốc
hội khoá IX đã thông qua biểu thuế NK với 6 mức thuế suất, với thuế suất tối
đa chỉ còn 60%.
Thực hiện chính sách thuế NK theo nguyên tắc cóphân biệt đối xử ngày
02/05/1998 , Quốc hội thông qua luật thuế XK-NL ( sửa đổi có hiệu lực từ
ngày 01/01/1999) quy định thuế NK có 3 loại:
- Xây dựng hệ thống luồng xanh HQ va thống nhất thủ tục HQ để tạo điều
kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu hàng hoá, bao gồm các quyết định về luật
hải quan, các thủ tục, dịch vụ kê khai HQ, quy trình kiểm tra và thông quan
hàng hoá, chất lượng hàng hoá.
- Xây dựng hệ thống xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định trị giá
GATT/WTO. Như vậy việc cắt giảm thuế quan và phi thuế quan với nhiều
thay đổi về biểu thuế , thuế suất, danh mục hàng hoá, trị giá tính thuế, chế độ
ưu đãi và có nhiều biện pháp phi thuế quan để bảo hộ sản xuất phù hợp với
Lê Thị Thu Hà – TMQT45
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thông lệ quốc tế , đặt ra yêu cầu cho ngành hải quan phải nghiên cứu để điều
chỉnh Luật hải quan phù hợp, nắm bắt chuyên môn kinh tế nghiệp vị, cải cách
thủ tục hải quan để thích ứng với yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới. Những
vấn đề đó đã làm gia tăng thêm khối lượng công việc và tính phức tạp trong
hiệp định quản lý Hải quan.
1.1.2. Các chính sách thuế XNK hiện hành áp dụng tại Việt Nam
a. Căn cứ pháp lý dựa trên các văn bản pháp quy sau:
1. Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày
14/6/2005;
2. Luật Hải quan, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Hải quan
số 42/2005/QHH11 ngày 14/6/2005 (từ Điều 68 đến Điều 72);
3. Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 8/12/2005 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
4. Thông tư số 113/2005/TT-Bộ Tài chính ngày 15/12/2005 của Bộ Tài
chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
5. Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục kiểm tra, giám sát hải quan
b. Nội dung của các chính sách thuế XNK hiện hành được áp dụng tại
Việt Nam
1. Căn cứ tính thuế hàng hoá XNK: số lượng hàng hoá xuất khẩu,
- Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ
từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong
quan hệ thương mại với Việt Nam (Nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ nêu
ở đây do Bộ Thương mại thông báo). Thuế suất ưu đãi được quy định cụ thể
cho từng mặt hàng tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi do Bộ Tài chính ban hành.
Đối tượng nộp thuế tự khai và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về xuất xứ
hàng hóa.
- Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có
xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện ưu đãi đặc biệt về
thuế nhập khẩu với Việt Nam theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên
minh thuế quan hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới và
trường hợp ưu đãi đặc biệt khác.
Điều kiện dể được áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt:
o Hàng hoá nhập khẩu có giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O)
từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ đã có thoả thuận ưu đãi đặc biệt về
thuế nhập khẩu với Việt Nam. Trừ hàng hóa có xuất xứ từ nước, nhóm nước
Lê Thị Thu Hà – TMQT45
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hoặc vùng lãnh thổ đã có thoả thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với
Việt Nam nhưng tổng giá trị lô hàng (FOB) không vượt quá 200 USD thì
không phải có C/O;
o Hàng hoá nhập khẩu phải là những mặt hàng được quy định cụ thể
trong thoả thuận và phải đáp ứng đủ các điều kiện đã ghi trong thoả thuận;
o Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (C/O) phải phù hợp với qui định
của pháp luật hiện hành về xuất xứ hàng hoá;
o Các điều kiện khác (nếu có) để được áp dụng thuế suất ưu đãi đặc
biệt thực hiện theo quy định cụ thể tại các văn bản hướng dẫn riêng cho từng
nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ mà Việt Nam có thoả thuận về thuế suất
ưu đãi đặc biệt.
- Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có
Số lượng đơn vị từng
mặt hàng thực tế xuất
khẩu, nhập khẩu ghi
trong Tờ khai hải quan
x
Trị giá tính thuế
tính trên một
đơn vị hàng hóa
x
Thuế suất của
từng mặt hàng
Việc xác định số thuế phải nộp đối với hàng hóa áp dụng thuế
tuyệt đối thực hiện theo công thức sau:
Số thuế xuất
khẩu, thuế
nhập khẩu
phải nộp
=
Số lượng đơn vị từng
mặt hàng thực tế xuất
khẩu, nhập khẩu ghi
trong Tờ khai hải quan
x
Mức thuế tuyệt đối
quy định trên một
đơn vị hàng hoá
Trường hợp số lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực tế có chênh
lệch so với hoá đơn thương mại do tính chất của hàng hoá, phù hợp với điều
kiện giao hàng và điều kiện thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hoá thì số
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải nộp được xác định trên cơ sở trị giá thực
Lê Thị Thu Hà – TMQT45
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Đối tượng nộp thuế có bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp thì
thời hạn nộp thuế là thời hạn bảo lãnh, nhưng không quá 30 ngày kể từ
ngày đối tượng nộp thuế đăng ký Tờ khai hải quan. Hết thời hạn bảo
lãnh mà đối tượng nộp thuế chưa nộp thuế xong thì tổ chức bảo lãnh có
trách nhiệm nộp số tiền thuế và tiền phạt chậm nộp thuế (nếu có) thay
cho đối tượng nộp thuế. Thời hạn chậm nộp thuế được tính từ ngày hết
thời hạn bảo lãnh.
- Hàng hoá tiêu dùng nhập khẩu phục vụ trực tiếp cho an ninh,
quốc phòng, nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo thuộc đối tượng
được xét miễn thuế nhập khẩu thì thời hạn nộp thuế là 30 ngày kể từ
ngày đối tượng nộp thuế đăng ký Tờ khai hải quan.
• Thời hạn nộp thuế đối với đối tượng nộp thuế chấp hành tốt
pháp luật về thuế:
- Đối tượng chấp hành tốt pháp luật về thuế là các chủ hàng
chấp hành tốt pháp luật Hải quan và không còn nợ thuế quá hạn, không
còn nợ tiền phạt chậm nộp tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.;
Chủ hàng chấp hành tốt pháp luật về hải quan là người có hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu trong thời gian 365 ngày tính đến ngày làm
thủ tục hải quan cho lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu được cơ quan cho lô
hàng xuất khẩu, nhập khẩu được cơ quan Hải quan xác định là:
o Không bị pháp luật xử lý về hành vi buôn lậu, vận chuyển trái
phép hàng hoá qua biên giới;
o Không quá 02 lần bị xử lý vi phạm hành chính về hải quan với
mức phạt vượt thẩm quyền của Chi Cục trưởng Hải quan;
o Không trốn thuế: không bị truy tố hoặc bị phạt ở mức một lần
số thuế phải nộp trở lên;
Lê Thị Thu Hà – TMQT45
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Các chi phí liên quan đến việc giám định sẽ do cơ quan hải quan
chi trả trong trường hợp kết quả giám định khác với kết luận của cơ
quan hải quan hoặc sẽ do đối tượng nộp thuế chi trả trong trường hợp
kết quả giám định đúng với kết luận của cơ quan hải quan.
4. Miễn thuế và xét giảm thuế, hoàn thúê XNK, truy thu
thuế: Được quy định tại khoản 1 Điều 16, Điều 17 của Nghị định 154
Bộ Tài chính.
1.2 VAI TRÒ CỦA NGÀNH HẢI QUAN TRONG VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
1.2.1 Vai trò của ngành hải quan
Pháp lệnh Hải quan xác định vai trò và chức năng của Hải quan Việt
Nam là "Quản lý Nhà nước về Hải quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu,
xuất nhập cảnh, quá cảnh Việt Nam, đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận
chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối hoặc tiền Việt Nam qua biên giới". Yêu
cầu đối với Hải quan Việt Nam lúc này là thực hiện quản lý Nhà nước về Hải
quan trước tình hình: Hoạt động giao lưu hợp tác với nước ngoài phát triển
mạnh mẽ chưa từng thấy, kinh tế thị trường bộc lộ những khuyết tật, hạn chế,
khối lượng hàng hoá XNK khá lớn tạo nguồn thu thuế XNK hàng năm.
Hải quan Việt Nam với vai trò “là binh chủng đặc biệt” gác cửa đất
nước về mặt kinh tế, gắn liền với hoạt động đối ngoại, kinh tế đối ngoại và an
ninh quốc gia, thực hiện chức năng quản lí nhà nước về hải quan đối với hàng
hoá xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việt
Lê Thị Thu Hà – TMQT45
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nam và đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại
hối, tiền Việt nam qua biên giới. Hải quan góp phần vào sự ổn định, phát triển
kinh tế- xã hội, đặc biệt là kinh tế đối ngoại trong thời kì “mở cửa” và hội
nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
Thuế của nước ta hiện nay đối với hàng hoá được chia làm 2 loại là :
triển nền kinh tế nhiều thành phần, mở rộng quyền kinh doanh, nên làm gia
tăng số lượng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh XNK một cách nhanh
chóng và ngày càng gia tăng nữa. Chính điều này làm gia tăng hoạt động quản
lý của Hải quan.
Việc tự do hóa thương mại, đầu tư, dịch vụ, tài chính làm tăng khối
lượng công việc và tính phức tạp, đa dạng của hoạt động hải quan, thể hiện rõ:
Hàng hoá XNK tăng nhanh về số lượng và chủng loại, hoạt động kinh doanh
XNM có nhiều hình thức đa dạng, nhiều mô hình kinh tế mới được hình
thành; các hoạt động đầu tư, du lịch phát triển mạnh; phương tiện, hành khách
xuất nhập cảnh ngày một tăng nhanh chóng nên phạm vi quản lý của nhà
nước về Hải quan được mở rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
khác. Điều đó đã tác động rất lớn đến hoạt động của Hải quan, mà trước hết là
sự gia tăng khối lượng công việc, gia tăng tính phức tạp, đa dạng trong điều
kiện đòi hỏi phải thông quan nhanh hơn, minh bạch và rõ ràng hơn
Việc thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan và phi thuế quan sẽ khiên
thay đổi về biểu thuế, thuế suất, danh mục hàng hoá, trị giá tính thuế, chế độ
ưu đãi, các biện pháp phi thuế quan cũng sẽ có nhiều thay đổi để bảo hộ sản
xuất, phù hợp với thông lệ quốc tế. Sự thay đổi đó đã gia tăng tính phức tạp
trong hoạt động quản lý của ngành Hải Quan.
Lê Thị Thu Hà – TMQT45
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
“Mở cửa”, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới như một con dao hai
lưỡi đối với Việt Nam. Một mặt, đấy là thời cơ để phát triển kinh tế, nâng cao
đời sống. Mặt khác, đây là cơ hội tốt cho tình hình buôn lậu, buôn bán ma
tuý... và các tội phạm kinh tế khác phát sinh. Điều đó đặt ra cho ngành Hải
quan nhiệm vụ nặng nề hơn và phức tạp hơn.
Bên cạnh đó, Cách mạng khoa học công nghệ phát triển, cùng với đó là
sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nền kinh tế đặt ra yêu cầu quản lý nhà nước
về Hải quan là đảm bảo an ninh kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên
giới , đảm bảo các tiêu chuẩn kĩ thuật , vệ sinh, môi trường...Do đó phải xây
bảo hộ giữa các ngành. Điều này sẽ thúc đẩy các DN nâng cao khả năng cạnh
tranh, phát triển XK.
Khi mà hệ số bảo hộ đã giảm rõ rệt thì đó được coi là một thách thức
rất lớn với các DN sản xuất kinh doanh. Với mức thuế NK thay đổi, nhiều
loại hàng hoá trong nước sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn với hàng hoá
có xuất xứ ngoại nhập. Như vậy, việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam
kết gia nhập WTO sẽ làm ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách Nhà nước, mà
cụ thể là làm giảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
“Thuế nhập khẩu khi vào WTO là một sự đánh đổi được và mất, nếu xét
trong dài hạn thì sẽ có lợi hơn”.
Chính điều này đặt ra một nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với ngành
Hải quan, làm thế nào để vẫn có thể đảm bảo được nguồn thu cho Ngân sách
trong khi mức giảm thuế ngày càng cao. Đây là một bài toán khó, cũng chính
là một trong những tác động của việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới
WTO ảnh hưởng đến việc thu thuế của Ngành Hải quan.
Lê Thị Thu Hà – TMQT45
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ
XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN HÀNG
ĐẦU TƯ- GIA CÔNG
2.1. CƠ CẤU TỔ CHỨC, CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ, ĐỊA BÀN HOẠT
ĐỘNG CỦA HẢI QUAN ĐẦU TƯ- GIA CÔNG
2.1.1. Giới thiệu về hải quan hàng Đầu tư- gia công:
Chi cục HQ hàng đầu tư gia công là một trong những đơn vị trực thuộc
Hải quan Thành Phố Hà Nội _ Tổng cục hải quan _ Bộ Tài chính, cụ thể là :
Chi cục Hải quan Sân bay Quốc tế Nội Bài
Chi cục Hải quan Quản lý hàng Đầu Tư - Gia Công
Chi cục Hải quan Gia Lâm
Chi cục Hải quan Bắc Thăng Long
Cục Hải quan
Địa phương
Vụ giám sát
quản lý
Vụ giám sát
quản lý
Vụ kiểm tra thu
thuế XNK
Vụ kiểm tra thu
thuế XNK
Vụ Pháp chế
Vụ Pháp chế
Vụ hợp tác
quốc tế
Vụ hợp tác
quốc tế
Vụ Kế hoạch
tài chính
Vụ Kế hoạch
tài chính
Vụ Tổ chức
cán bộ
Vụ Tổ chức
cán bộ
Thanh tra
Thanh tra
Văn phòng
Văn phòng
Cục điều tra
chống buôn lậu
Báo Hải quan
Báo Hải quan
Chi cục HQ cửa
khẩu và ngoài
cửa khẩu
Chi cục HQ cửa
khẩu và ngoài
cửa khẩu
Đội kiểm soát hải
quan và đơn vị tư
ơng đương
Đội kiểm soát hải
quan và đơn vị tư
ơng đương
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy, kinh tế thị trường bộc lộ những khuyết
tật, hạn chế, khối lượng hàng hoá XNK khá lớn tạo nguồn thu thuế XNK hàng
năm chiếm tỷ lệ từ 20 - 25% GDP, tình trạng buôn lậu gia tăng, nhập lậu tài
liệu phản động, ấn phẩm đồi truỵ, chất nổ, ma tuý khá nhiều.
Ngày 24/2/1990, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố Pháp lệnh
Hải quan. Pháp lệnh gồm 51 điều, chia làm 8 chương, có hiệu lực thi hành từ
ngày 1/5/1990.
Pháp lệnh Hải quan xác định chức năng của Hải quan Việt nam nói
chung và cũng là chức năng chính của chi cục hải quan là "Quản lý Nhà nước
về Hải quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh Việt
Nam, đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá -cụ thể
đối với hàng hóa để đầu tư-gia công, quản lý ngoại hối hoặc tiền Việt nam
qua biên giới. Bộ máy tổ chức của Hải quan được xác định rõ tổ chức theo
nguyên tắc tập trung thống nhất, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội đồng Bộ
Trưởng, Bộ Tài chính "
2. Cơ chế quản lý: Thực hiện cơ chế quản lý như cấp trên đã đề ra, của
Bộ Tài chính và Tổng cục hải quan.
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận:
Đội đầu tư: Chịu trách nhiêm làm các công tác hải quan, tiếp nhận hồ sơ,
thu thuế đối với hàng đầu tư: Gồm có Hàng sản xuất xuất khẩu(SXXK), hàng
Sản xuất kinh doanh (SXKD), các loại hàng hóa quá cảnh chờ XK hoặc NK.
Đội Gia công: Làm các công tác tiếp nhận hồ sơ, kiểm hóa đối với hàng
hóa gia công. Đội Gia Công hoạt động độc lập với đội đầu tư.
Đội tổng hợp: Đội tổng hợp là bước sau cùng đối với đội đầu tư và gia
công. Sau khi hồ sơ được chuyển lên, các cán bộ thuộc tổ tổng hợp sẽ làm các
công thanh khoản đối với hợp đồng SXXK, các công tác phúc tập (Kiểm tra
sự đồng bộ của hồ sơ sau thông quan).
Như vậy có thể nói rằng , trong cả 3 đội của Hải Quan hàng đầu tư gia
công, đội Đầu Tư là đội chịu trách nhiệm chính, là đội trực tiếp tổ chức thu
thuế và các khoản thu khác đối với đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
làm thủ tục hải quan tại đây. Từ đó, theo Luật hải quan, điều 68, 69 quy định
rõ về trách nhiệm của người kê khai hải quan và cơ quan hải quan là: Kiểm trra
về việc kê khai, tính thuế, nộp đầy đủ thuế và các khoản kê khai khác đúng thời
hạn và chịu trách nhiệm về những công việc đấy của mình, cụ thể là:
Trong quá trình tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá
xuất khẩu, nhập khẩu, cơ quan hải quan có trách nhiệm và quyền hạn sau:
1. Giải thích, hướng dẫn, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi để người khai hải
quan kê khai, tính thuế, nộp thuế, nộp phạt và các khoản thu khác đối với
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Lê Thị Thu Hà – TMQT45