TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
ư
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI
CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU BÍ HÀ
Giảng viên hướng dẫn : Ths. Phan Thị Hạnh
Sinh viên thực hiện: Hoàng Đình Khoát
ĐT: 0917.898.686
Lớp: Tài chính – Ngân hàng; Khoá: 40
HỆ VỪA HỌC VỪA LÀM
HỌC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH
THÁI NGUYÊN
Cao Bằng, tháng 02/2011
2
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT
NHẬP KHẨU CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN 5
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 5
1.1.1. Khái niệm thuế xuất nhập khẩu 5
1.1.2. Phân loại thuế xuất nhập khẩu 5
1.1.3. Vai trò của thuế xuất nhập khẩu 7
1.2. QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CƠ QUAN HẢI
QUAN 12
1.2.1. Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan 12
1.2.2. Sự cần thiết phải quản lý thu thuế xuất nhập khẩu 12
1.2.3. Nội dung công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu 13
1.2.3.1. Quản lý đối tượng nộp thuế 14
1.2.3.2. Xây dựng và lựa chọn quy trình quản lý thu thuế: 14
KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU BÍ HÀ 41
3.2.1. Hoàn thiện công tác quản lý đối tượng nộp thuế
41
3.2.2. Hoàn thiện công tác quản lý căn cứ tính thuế
41
3.2.3.Hoàn thiện công tác quản lý thuế suất
44
3.2.4. Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra
45
4
3.2.5. Hoàn thiện công tác thu thuế, hạn chế nợ đọng thuế
46
3.2.6. Kiện toàn bộ máy tổ chức, quy trình nghiệp vụ và đào tạo cán bộ tại
Chi cục Hải quan Cửa khẩu Bí Hà
47
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
48
3.3.1. Chính sách thuế xuất nhập khẩu
48
3.3.2. Các văn bản, quy định liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu
50
3.3.3. Luật Hải quan
50
3.3.4. Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, các cấp có liên quan
51
KẾT LUẬN
52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
54
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP
KHẨU CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ XUẤT NHẬPKHẨU.
1.1.1. Khái niệm thuế xuất nhập khẩu:
Thuế xuất nhập khẩu ( custom duty ) là một biện pháp tài chính mà các
nước dùng để can thiệp vào hoạt động ngoại thương. Thực chất đây là một loại
thuế gián thu đánh vào hàng hoá được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu qua biên
giới.
1.1.2. Phân loại thuế xuất nhập khẩu:
Có nhiều tiêu thức phân loại thuế xuất nhập khẩu khác nhau, theo mỗi tiêu
thức phân loại lại có nhiều loại thuế xuất nhập khẩu khác nhau. Thông thường có
4 tiêu thức phân loại thuế xuất nhập khẩu, đó là: theo xu hướng vận động của
hàng hoá; theo mục đích đánh thuế; theo phạm vi tác dụng và theo cách thức
đánh thuế.
1.1.2.1. Theo xu hướng vận động của hàng hoá, có 3 loại:
- Thuế xuất khẩu: đánh vào giá trị hàng hoá xuất khẩu nhằm mục đích hạn
chế xuất những mặt hàng cần thiết và những loại vật tư, nguyên vật liệu quý
hiếm để phát triển nền kinh tế quốc dân trong nước, thoả mãn nhu cầu thị trường
hoặc bảo vệ môi trường sinh thái. Trong nhiều trường hợp, thuế này còn được sử
dụng để điều chỉnh hoạt động kinh tế đối ngoại. Ở những nước có nền kinh tế
hướng ngoại, do chủ trương gia tăng mặt hàng xuất khẩu nên thường không đánh
thuế xuất khẩu hoặc đánh thuế với mức rất thấp nhằm mục tiêu chủ yếu là quản
lý. Tuy nhiên, ở một số nước đang phát triển, thuế xuất khẩu còn được sử dụng
nhằm bổ sung thu nhập cho Ngân sách Nhà nước.
- Thuế nhập khẩu: đánh vào giá trị của hàng nhập khẩu vào trong nước,
thuế này có mục đích ngáng trở sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị
trường trong nước, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất nội địa. Hiện nay, với xu
hướng hội nhập, mục tiêu bảo hộ ít được chú ý nên thuế nhập khẩu có chiều
hướng giảm nhẹ. Song như vậy không có nghĩa là các quốc gia sẽ không sử dụng
+ Là biện pháp thực hiện tác động phân biệt đối xử với những nước nhất
định.
+ Là biện pháp ngăn chặn sự cạnh tranh không lành mạnh
- Thuế ưu đãi: là những ưu đãi thuế áp dụng trong quan hệ với một hoặc
một vài nước để khuyến khích nhập khẩu những hàng hoá nhất định.
1.1.2.3. Theo phạm vi tác dụng, gồm:
- Thuế tư quản: là một loại thuế dựa trên chủ quyền quốc gia quy định,
không phụ thuộc vào yếu tố chi phối của bên ngoài. Tuỳ theo quan hệ với đối tác
mà người ta có sự phân biệt đối xử bằng hệ thống thuế suất cao thấp khác nhau
(thuế suất tối đa, thuế suất tối thiểu).
- Thuế theo hiệp định: trong đàm phán thương mại quốc tế, thuế là một yếu
tố thường được đưa ra đàm phán; nội dung đàm phán về thuế ở nhiều khía cạnh
8
song không thể không đề cập đến vấn đề thuế suất. Khi các hiệp định về thuế đã
được thông qua, các nước tham gia hiệp định phải từ bỏ tính chất chủ quyền
trong đánh thuế xuất nhập khẩu và phải tuân thủ theo hiệp định thuế đã ký kết.
1.1.2.4. Theo cách thức đánh thuế, gồm:
- Thuế đơn vị: về mặt pháp lý quy định một khoản tiền nộp trên một đơn vị
vật lý của hàng hoá, nó không phụ thuộc vào sự biến động giá cả của hàng hoá.
- Thuế tỷ lệ: về mặt pháp lý được ấn định theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị
hàng hoá xuất nhập khẩu, có thể bao gồm cả chi phí lưu thông tuỳ theo quy định
của mỗi nước.
- Thuế kết hợp: là một loại thuế đánh trên đầu hàng hoá xuất nhập khẩu vừa
theo đơn vị vật lý, vừa theo tỷ lệ trên giá cả của hàng hoá.
1.1.3. Vai trò của thuế xuất nhập khẩu:
1.1.3.1.Thuế xuất nhập khẩu là một công cụ của chính sách thương
mại (chính sách bảo hộ mậu dịch):
Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá thì tự do hoá thương mại là xu
hướng tất yếu, các nước đang phát triển phải đứng trước cuộc cạnh tranh khốc
liệt, không ngang sức. Đứng trên phương diện lý thuyết, cạnh tranh là nhân tố
yếu để tham gia kinh tế khu vực và thế giới nhưng thuế xuất nhập khẩu vẫn là
một nguồn thu đáng kể cho Ngân sách Nhà nước.
1.1.3.5. Ảnh hưởng cân bằng cục bộ của thuế xuất nhập khẩu:
Theo đồ thị 1, ta có: Dx là đường cầu và Sx là đường cung hàng hoá
X của quốc gia 1 (QG 1) ( là một nước nhỏ).
Khi chưa có thương mại, cung cầu gặp nhau tại E. Tại đó, nhu cầu là 30
đơn vị hàng hoá X được bán với giá $3. Khi có thương mại tự do, giá cả thế giới
của hàng hoá X là $1, ở mức này, QG 1 sẽ tiêu dùng 70 X ( đoạn AB),trong đó
10X ( đoạn AC) là sản xuất trong nước, còn lại 60X (đoạn CB) là nhập khẩu từ
bên ngoài.
Giả sử QG 1 đánh thuế 100% trên hàng hoá nhập X, giá cả trong nước của
hàng hoá sẽ tăng lên $2. Tại mức giá cao hơn này, tiêu dùng sẽ chỉ còn là 50X
( đoạn GH), trong đó 20X ( đoạn GJ) được sản xuất trong nước và còn lại 30X
( đoạn JH) được nhập từ bên ngoài. Đường nằm ngang ( S
F
+ T) là đường cung
của thế giới về hàng hoá X đối với QG 1 khi có thuế quan. Lúc này, số tiền thuế
Chính phủ thu được bằng $30 ($1 cho mỗi đơn vị hàng hoá nhập). Trên đồ thị 1,
lợi ích mà nhà nước thu được do áp dụng thuế quan tương ứng diện tích hình chữ
nhật MNHJ.
Như vậy, ảnh hưởng tiêu dùng của thuế là (-)20X ( BN); ảnh hưởng sản
xuất là 10X (CM); ảnh hưởng nhập khẩu là (-)30X (CM + BN); ảnh hưởng nhập
10
là $30 (MNHJ).
Đồ thị 1: Ảnh hưởng cân bằng cục bộ của thuế quan.
Với cùng mức thuế nhất định (100%) tại QG 1, đường nhu cầu Dx càng co
giãn (càng thoải) thì ảnh hưởng đến tiêu dùng của thuế càng lớn. Tương tự, nếu
đường cung Sx càng co giãn (càng thoải) thì ảnh hưởng sản xuất của thuế càng
lớn. Như vạy, cả hai đường cung và cầu càng co giãn thì ảnh hưởng của thuế đối
với thương mại càng lớn.
S
f + T
D
x
Px($)
X
( a ) ( b )
Đồ thị 2: Ảnh hưởng của thuế xuất nhập khẩu đối với thặng dư người
tiêu dùng
Khi đánh thuế, giá tăng lên là $2/1 đơn vị hàng hoá X. Lúc này, vì giá cao
nên tiêu dùng giảm từ 70X xuống còn 50X. Thặng dư của người tiêu dùng giảm
từ ARB = $122,5 (với Px = $1 trước khi có thuế) xuống còn GRH = $62,5 (với
Px = $2 khi có thuế) hay bằng AGHB = $60. Như vậy, sau khi có thuế quan
thặng dư của người tiêu dùng đã giảm đi.
b) Đối với thặng dư của người sản xuất (đồ thị 2):
Trên bảng 2-b biểu diễn đường cung của QG 1
Khi không có thuế quan, với giá Px = $1, nhà sản xuất chỉ sản xuất 10X
và hưởng thặng dư là diện tích tam giác AOC.
Khi có thuế quan, giá tăng lên bằng $2, nhà sản xuất lúc này sản xuất 20X
và thặng dư mà họ nhận được là diện tích tam giác OGJ. Như vậy, thặng dư của
người sản xuất đã tăng từ $5 (diện tích AOC) lên $20 (diện tích GOJ), tức là
thặng dư của người sản xuất tăng $15, chính bằng diện tích phần tứ giác ACJO.
Rõ ràng, khi có thuế quan, lợi ích của người sản xuất thu được ít hơn thiệt
hại mà người tiêu dùng bị mất đi.
1.1.3.7. Chi phí và lợi ích của thuế quan:
Trên đồ thị 3 ta thấy: thặng dư của người tiêu dùng bị giảm bằng diện tích
tứ giác AGHB = a + b + c + d = $60. Trong đó, diện tích hình chữ nhật MJHN =
c = $30 là phần thu mà Chính phủ có được nhờ thuế quan; diện tích hình tứ giác
AGJC = a = $15 là thặng dư của người sản xuất được tăng lên; còn b + d = $15 là
12
Px($)
X
A
G
J
V
U
Sx
D
x
phần tổn thất hay hậu quả do sự đánh thuế nhập khẩu để bảo hộ sản xuất trong
nước.
Xét tam giác CJM, diện tích tam giác này chính bằng b = $5, thể hiện tổng
số chi phí sản xuất thêm trên hạn mức của người sản xuất trong nước. Sở dĩ phần
này xuất hiện là do có thuế quan, Chính phủ đã bảo hộ cho những ngành sản xuất
không hiệu quả. Trong trường hợp của QG 1, thay vì phải tập trung tiềm năng
sản xuất cho hàng hoá Y- là hàng hoá có lợi thế so sánh ở QG 1, lại phải sử dụng
một phần tiềm năng đó để duy trì sản xuất hàng hoá X- là hàng hoá mà OGI
không có lợi thế so sánh.
Tiếp theo, xét tam giác BHN, diện tích tam giác này chính bằng d = $10 tức
là sự thiệt hại tiêu dùng do giá quá cao. Phần bị mất đi này xuất hiện vì thuế quan
đã làm tăng lên một cách giả tạo Px trong mối quan hệ với Py và làm méo mô
hình tiêu dùng ở QG 1, gây ra một sự thiệt hại trong thoả mãn người tiêu dùng do
phải cắt giảm tiêu dùng vì giá quá cao.
X
Px($)
D
x
S
hàng hoá không có hiệu quả.
13
1.2. QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CƠ QUAN
HẢI QUAN
1.2.1. Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan
Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất nhập khẩu nói riêng có vai trò
hết sức to lớn đối với mỗi quốc gia. Với vai trò to lớn như đã trình bày ở phần
trên, việc không ngừng hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu là tất
yếu khách quan đối với mỗi quốc gia. Công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu
trong nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được các mục tiêu:
- Tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thuế xuất nhập khẩu cho Ngân
sách Nhà nước.
- Phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nền kinh tế, đặc biệt là trong hoạt
động ngoại thương.
- Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và cá nhân
kinh doanh xuất nhập khẩu.
1.2.2. Sự cần thiết phải quản lý thu thuế xuất nhập khẩu
Hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu đã thực sự đóng một vai trò lớn đối
với mỗi quốc gia. Số thuế xuất khẩu, nhập khẩu ngày một tăng với kim ngạch
xuất khẩu không ngừng tăng lên, số thu về thuế xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng nguồn thu của Ngân sách Nhà nước. Đó là nguồn thu quan trọng
cho Ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc
xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. Thực tế đó đòi hỏi phải tăng cường quản
lý chặt chẽ hơn nữa đối với công tác thu thuế xuất nhập khẩu nhằm đảm bảo
nguồn thu đáp ứng nhu cầu chi tiêu của đất nước. Trong xu hướng toàn cầu hoá
hiện nay thì hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu. Hội nhập kinh tế quốc tế là một
cuộc đấu tranh phức tạp để góp phần vào việc phát triển kinh tế đất nước, từ đó
tạo điều kiện củng cố an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập về kinh tế và bản sắc
dân tộc thông qua việc thiết lập các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Hội nhập
kinh tế quốc tế được thực hiện thông qua việc Chính phủ ký kết các Hiệp định
sự đa dạng của các quan hệ kinh tế luôn cần có các văn bản điều chỉnh để từng
bước hoàn thiện hơn thế, thực hiện thành công mục tiêu kinh tế giai đoạn 2005-
2010 mà Đảng đề ra thì việc hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu
là một tất yếu khách quan.
1.2.3. Nội dung công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu
Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất nhập khẩu nói riêng có vai
trò hết sức to lớn đối với mỗi quốc gia. Với vai trò to lớn như đã trình bày ở phần
trên, việc không ngừng hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu là tất
yếu khách quan đối với mỗi quốc gia. Công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu
trong nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được các mục tiêu:
15
- Tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu thuế xuất nhập khẩu cho
Ngân sách Nhà nước.
- Phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nền kinh tế, đặc biệt là trong hoạt
động ngoại thương.
- Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và cá
nhân kinh doanh xuất nhập khẩu.
Để thực hiện mục tiêu đó thì công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu cần
thực hiện các nội dung sau:
1.2.3.1. Quản lý đối tượng nộp thuế
Hàng năm, trên cơ sở đăng ký kinh doanh của các đối tượng sản xuất kinh
doanh, cơ quan thuế tính tiến hành đăng ký đối tượng nộp thuế. Có hai phương
thức đăng ký đối tượng nộp thuế, đó là:
- Phương thức thủ công: Mỗi đối tượng nộp thuế được cấp một sổ đăng ký
thuế riêng, các thông tin cần thiết về đối tượng nộp thuế được phản ánh và lưu
trữ trong sổ này.
- Phương thức quản lý theo mã số thuế: Mỗi đối tượng nộp thuế được gắn
một mã số duy nhất. Mọi thông tin cần thiết về đối tượng nộp thuế được quản lý
trên máy tính. Phương thức này hiện đại giúp tiết kiệm chi phí quản lý thuế đồng
thời dễ dàng phát hiện các trường hợp gian lận về thuế.
phạm hoặc gian lận mà đối tượng nộp thuế vi phạm nhằm mục đích trốn thuế.
Các nội dung thanh tra đối với đối tượng nộp thuế là:
+ Thanh tra việc chấp hành những quy định về đăng ký, kê khai nộp thuế
+ Thanh tra việc chấp hành chế độ thống kê, kế toán hoá đơn chứng từ
+ Thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
- Đối với bản thân đơn vị thu thuế, thanh tra thuế nhằm phát hiện những
sai sót của hải quan trong công tác thu thuế xuất nhập khẩu từ đó chỉnh sửa để
công tác thu thuế có hiệu quả hơn. Các nội dung thanh tra đối với cơ quan hải
17
quan là:
+ Thanh tra việc tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn chấp hành các luật thuế
+ Thanh tra việc giải quyết các khiếu kiện và xử lý các vi phạm về thuế
1.2.3.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý thu thuế xuất nhập
khẩu
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu
nhưng tựu chung lại có thể phân thành hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đó là: nhóm
nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố khách quan
1.2.3.5.1. Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan xuất phát từ chủ thể quản lý thu thuế xuất nhập khẩu, đó
là cơ quan hải quan bao gồm lãnh đạo và cán bộ quản lý thu thuế.
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ hải quan: Nếu cán bộ hải
quan được đào tạo tốt, nắm chắc Pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo
thì công tác quản lý thu thuế sẽ hiệu quả hơn. Ngược lại nếu thiếu kiến thức
chuyên môn, không nắm chắc Luật pháp và các quy định của hải quan thì không
thể thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế được.
-Thu nhập của cán bộ hải quan còn thấp, đời sống khó khăn, trong quá
trình kiểm tra hàng hoá, hoá đơn chứng từ, thu thuế, không thể tránh khỏi bị
đối tượng kinh doanh dùng lợi ích vật chất mua chuộc, bỏ qua các hành vi vi
phạm pháp luật của đối tượng kinh doanh xuất nhập khẩu dẫn đến thất thu thuế.
1.2.3.5.2. Nhân tố khách quan
+ Sự kết hợp giữa cơ quan Thuế, Kho bạc và Hải quan. Sự kết hợp này
nếu tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nộp thuế của đối tượng nộp thuế và công
tác quản lý thu thuế của cơ quan hải quan.
- Ngoài ra, quyền hạn của cơ quan hải quan cũng còn nhiều hạn chế như
cơ quan hải quan không có quyền được điều tra, khởi tố các hành vi vi phạm về
thuế, chưa có quyền tổ chức cưỡng chế các hành vi chây ỳ, dây dưa, nợ đọng
thuế,
19
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ
XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU BÍ HÀ
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU BÍ HÀ
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Chi cục Hải quan Cửa khẩu Bí Hà là một trong bảy Chi cục Hải quan trực
thuộc Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng, đó là: Chi cục hải quan cửa khẩu Tà Lùng
thuộc Huyện Phục Hoà, Chi cục hải quan cửa khẩu Sóc Giang thuộc Huyện Hà
Quảng, Chi cục hải quan cửa khẩu Pò peo thuộc Huyện Trùng Khánh, Chi cục
hải quan cửa khẩu Bí Hà thuộc Huyện Hạ Lang,Chi cục hải quan cửa khẩu Trà
Lĩnh thuộc Huyện Trà Lĩnh, Chi cục hải quan Thái Nguyên Thuộc Tỉnh Thái
Nguyên và Chi cục hải quan Bắc Kạn thuộc Tỉnh Bắc Kạn.
Đầu năm 1989, quan hệ Việt Nam và Trung Quốc được bình thường hoá,
nhân dân hai nước bắt đầu có sự thăm thân và trao đổi hàng hoá, thực hiện chỉ
đạo của cấp trên Cục Hải quan Cao Bằng đã củng cố, triển khai các đơn vị Hải
quan cửa khẩu tại các cửa khẩu Tà Lùng, Trà Lĩnh, Sóc Giang, Pò Peo để thực
hiện chức năng quản lý hoạt động XNK và đấu tranh chống buôn lậu.
Mặc dù trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, Cục hải quan nói
chung và Chi cục hải quan Cửa khẩu Bí Hà nói riêng đã sớm ổn định và không
ngừng củng cố bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ, công chức hải quan, phát huy
những truyền thống của quê hương và của ngành hải quan; vượt qua khó khăn,
thử thách; tích cực thực hiện, đáp ứng những yêu cầu quản lý của Tổng cục trong
những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Tổ chức chỉ đạo hướng dẫn và triển khai thực hiện các quy định của Nhà
nước về Hải quan trên địa bàn hoạt động của Chi cục.
- Xử lý vi phạm hành chính hoặc khởi tố đối với các vụ gian lận thương
mại, vận chuyển hàng hoá trái phép qua biên giới theo quy định của pháp luật;
giải quyết khiếu nại tố cáo thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Kiến nghị với Cục trưởng những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung các quy
định của Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu; các quy định của Cục Hải
quan về chuyên môn nghiệp vụ và xây dựng lực lượng; kịp thời báo cáo với Cục
trưởng những vướng mắc phát sinh, những vấn đề vượt quá thẩm quyền giải
quyết của Chi cục.
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước, tổ chức hữu quan, đơn vị
trên địa bàn để thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Tổ chức tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về
hải quan trên địa bàn.
- Tổng kết, thống kê, đánh giá tổng hợp tình hình và kết quả các mặt công
tác của Chi cục hải quan; thực hiện báo cáo theo quy định của Cục hải quan tỉnh
Cao Bằng.
- Quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở, vật chất, phương tiện, trang bị kỹ
thuật và kinh phí hoạt động của Chi cục theo đúng quy định của Nhà nước.
- Trình Cục trưởng chương trình, kế hoạch, phương án thu thập và xử lý
thông tin nghiệp vụ trên địa bàn quản lý.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao.
Ngoài những nhiệm vụ chung cũng giống như của nhiều Chi cục Hải quan
khác, Chi cục hải quan Cửa khẩu Bí Hà còn có một số nhiệm vụ cụ thể, đặc trưng sau:
- Làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, tổ chức thu thuế
xuất nhập khẩu, đấu tranh chống gian lận thương mại trên địa bàn phụ trách quản
22
lý của Chi cục.
- Là một Chi cục Hải quan cửa khẩu Bí Hà nằm trên địa bàn có nhiều hoạt
( % )
Số
tuyệt
đối
( tỷ đ )
Số
tương
đối
( % )
2 7 8,2 117 10 12 120 3,8 3
Thực tế, kết quả thu thuế xuất nhập khẩu của Chi cục trong những năm
qua luôn vượt mức kế hoạch và chỉ tiêu mà Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng giao
cho. Cụ thể, năm 2009 số thu thuế xuất nhập khẩu là 8,2 tỷ đồng tăng17% so với
chỉ tiêu đề ra (7 tỷ đồng); năm 2010 là 12 tỷ đồng tăng 20% so với chỉ tiêu đề ra
(10 tỷ đồng).
Có được kết quả như vậy một mặt là nhờ bản thân các doanh nghiệp đã tự
ý thức được nghĩa vụ nộp thuế của mình, mặt khác phải kể đến sự nỗ lực cố
gắng của Chi cục hải quan Cửa khẩu Bí Hà trong công tác quản lý về nhiều mặt.
Có thể nói, kết quả thu thuế của Chi cục trong thời gian qua là rất đáng
khích lệ. Có nhiệu nguyên nhân dẫn đến kết quả đó là:
- Lãnh đạo Chi cục đã xác định đúng những nhiệm vụ trọng tâm mà Cục
đã giao cho, đã tổ chức triển khai thực hiện một cách đồng bộ trên tất cả các
khâu, các lĩnh vực công tác đạt hiệu quả.
23
- Chi cục luôn kịp thời tranh thủ ý kiến chỉ đạo của Cục hải quan Cao
Bằng, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng của Cục và tỉnh, lắng nghe
ý kiến của doanh nghiệp để triển khai công tác sát thực tế, được cấp trên và các
doanh nghiệp đánh giá cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh,
đáp ứng yêu cầu quản lý về hải quan trong tình hình mới.
- Cán bộ, nhân viên trong Chi cục được bố trí, sắp xếp phù hợp với năng
- Cá nhân có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi xuất cảnh, nhập cảnh; gửi
hoặc nhận hàng hoá qua cửa khẩu biên giới Việt Nam.
Có nhiều phương pháp quản lý đối tượng nộp thuế khác nhau như: quản lý
theo loại hình doanh nghiệp, quản lý theo mã số thuế,…
Chi cục Hải quan Cửa khẩu Bí Hà đã áp dụng phương pháp quản lý theo
mã số thuế để quản lý các đối tượng nộp thuế.
Mỗi doanh nghiệp khi mới ra kinh doanh sẽ phải đăng ký kinh doanh để
được cấp mã số thuế. Cùng với đăng ký kinh doanh thì kê khai đăng ký cấp mã
số thuế là quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp. Nó là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh của cơ sở ngay từ khi mới bắt đầu hoạt động.
Số doanh nghiệp đăng ký Mã số thuế
Đơn vị tính: Doanh nghiệp
STT Năm Số doanh nghiệp đăng ký mã số thuế
1 2008 16
2 2009 14
3 2010 15
Do thấy được tầm quan trọng của việc đăng ký mã số thuế, trong những
năm qua, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn quản lý của Chi cục đã
100% kê khai đăng ký cấp mã số thuế và đã có mã số thuế đầy đủ. Cụ thể trong
năm 2008 có 16 doanh nghiệp, năm 2009 có 14 doanh nghiệp và năm 2010 là 15
doanh nghiệp.
Ngoài các biện pháp mang tính nghiệp vụ, Chi cục Hải quan Cửa khẩu Bí
Hà còn phối hợp với cơ quan Sở Kế hoạch và Đầu tư để kiểm tra đăng ký thuế
qua đăng ký kinh doanh. Nhờ làm tốt công tác này mà Chi cục Hải quan đã quản
lý khá chặt chẽ số đối tượng mới thành lập.
25