nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng đất đỏ bazan trồng cà phê xen mắc ca trên địa bàn huyện krông năng, tỉnh đắk lắk tt - Pdf 24


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THẾ TRỊNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
SỬ DỤNG ĐẤT ĐỎ BAZAN TRỒNG CÀ PHÊ XEN MẮC CA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành:
Quản lý đất đai
Mã số:
62 85 01 03

Phản biện 3:
PGS. TS. Trần Văn Tuấn
Trường Đại học Khoa học tự nhiên Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2014

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Krông Năng nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Đắk Lắk, cách trung tâm
thành phố Buôn Ma Thuột 50 km. Có diện tích tự nhiên 61.479 ha, chiếm 4,68%
DTTN toàn tỉnh Đắk Lắk. Trong đó nhóm đất đỏ với 2 đơn vị phân loại đất đỏ bazan
có diện tích 37.604,00 ha, chiếm 61,17% DTTN của huyện và chiếm 12,62% diện
tích đất đỏ bazan của tỉnh. Là huyện có diện tích cà phê lớn thứ 3 của tỉnh với 26.013
ha, chiếm 50,90% diện tích đất nông nghiệp của huyện và chiếm 13,45% diện tích cà
phê của toàn tỉnh. Tuy nhiên, việc sản xuất cà phê của người dân trên địa bàn huyện
chủ yếu trồng thuần, chưa bền vững do hiệu quả kinh tế không ổn định. Do đó, việc
lựa chọn loại cây trồng xen hay che bóng nào để vừa đạt được hiệu quả kinh tế sử
dụng đất trên một đơn vị diện tích cây trồng xen, trong đó có mắc ca (Macadamia
integrifolia) là cây trồng có triển vọng. Vì vậy, việc trồng cà phê xen mắc ca đã là lựa
chọn của nhiều nông dân trồng cà phê. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng đất đỏ bazan trồng cà phê xen
mắc ca trên địa bàn huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk”.

nghiệm ngay từ lúc mới trồng. Vì vậy, trong phần nghiên cứu các mô hình trồng cà phê
xen mắc ca, chúng tôi lựa chọn một số vườn cây đại diện đã có sẵn trong sản xuất để
khảo sát một giai đoạn nhất định trong toàn bộ chu kỳ kinh doanh, với hy vọng chỉ ra
được chiều hướng phát triển chung của các hệ thống xen canh này.
5. Những đóng góp mới của luận án
Khẳng định được hiệu quả sử dụng đất của loại hình cà phê xen mắc ca trên đất đỏ
bazan huyện Krông Năng và khả năng phát triển trên diện rộng ở tỉnh Đắk Lắk làm cơ
sở cho việc định hướng sử dụng bền vững quỹ đất đỏ bazan.
Xác định được khả năng thích hợp về điều kiện khí hậu và tính chất đất đỏ bazan
đối với việc trồng cà phê xen mắc ca để đề xuất phát triển diện tích trồng cà phê xen
mắc ca của huyện Krông Năng đến năm 2020.
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng đất nông nghiệp và trồng xen đối với cây
cà phê
1.1.1. Khái niệm sử dụng đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Khái niệm sử dụng đất nông nghiệp: Sử dụng đất nông nghiệp là một hệ thống
các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên
thiên nhiên khác và môi trường vốn để sản xuất nông nghiệp tạo ra lợi ích, tùy vào mức
độ phát triển kinh tế, xã hội, ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng
cao, phạm vi sử dụng đất nông nghiệp được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh hoạt, sinh
thái (Nguyễn Đình Bồng, 2012).
- Tình hình sử dụng đất đỏ bazan (Ferralsols): Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn
Đăng Nghĩa (2013) cho thấy ở nước ta đất đỏ bazan là loại đất rất thích hợp để trồng cà phê.
Loại đất này có nhiều nhất ở vùng Tây Nguyên khoảng 1,4 triệu ha, sau đó là miền Đông
Nam bộ 0,7 triệu ha, ngoài ra còn ở vùng Phủ Quỳ (Nghệ An), Hưng Hóa (Quảng Trị) và
một phần vùng núi phía Bắc. Ở những vùng này ngoài đất đai tốt thì điều kiện khí hậu cũng
thích hợp, là vùng trồng cà phê chủ yếu của nước ta, năng suất và chất lượng cao
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí
trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất

0
C,
lượng mưa cần thiết đối với cây cà phê vối cần từ 1.300 - 2.500 mm, Ẩm độ không khí trung
bình 85%. Các loại đất phong hóa từ Pooc - phia, đá vôi, sa phiến thạch, granit nếu có đủ
điều kiện đều có thể trồng được cà phê, song đất bazan là loại đất thích hợp nhất.
b. Yêu cầu sinh thái của cây mắc ca
Yêu cầu về yếu tố khí hậu: Nhiệt độ thích hợp cây mắc ca từ 12
0
C đến 32
0
C, một
trong những điều kiện quan trọng là nhiệt độ về đêm vào mùa lạnh của cây mắc ca cần
để ra hoa là từ 15
0
C đến 21
0
C,

tối ưu để cây ra nhiều hoa là từ 15
0
C đến 18
0
C, lượng
mưa tối ưu từ 1.500 - 2.500 mm, phân bố đều trong năm. Đất đỏ bazan, đất xám đều
thích hợp trồng mắc ca.
1.2. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới về cây che bóng cho cà phê
1.2.1. Nhu cầu che bóng của cây cà phê
Trồng các loại cây thân gỗ làm cây che bóng cho cà phê là kiểu canh tác đã có từ rất
lâu ở nhiều nước sản xuất cà phê truyền thống trên thế giới. Trồng cây che bóng cho cà phê
với mục đích đầu tiên là tạo ra một tiểu môi trường phù hợp với yêu cầu sinh thái của cà phê,

Phan Quốc Sủng (2011) cho thấy nhiều công trình nghiên cứu trong nước cho thấy nếu
trồng cây che bóng làm cho nhiệt độ trong vườn cà phê giảm được từ 2,7
0
C - 5,3
0
C do làm giảm
được lượng bức xạ mặt trời từ 12 - 41%. Độ ẩm tăng lên từ 2
0
- 3
0
C do cây che bóng hút nước từ
tầng đất ở dưới sâu và phun hơi nước ra từ hàng tỷ khí khổng của bộ lá, của cây bóng mát.
1.3.2. Kết quả nghiên cứu về trồng cây che bóng, cây lâu năm trong các vườn cà phê
vối ở Việt Nam
Phan Quốc Sủng (2011) một số khu vực trồng cà phê chưa thiết lập được hệ sinh thái
phù hợp với yêu cầu sinh lý của cây cà phê. Đó là các vườn cà phê còn thiếu hệ cây che
bóng. Trồng cà phê phải có cây che bóng mát.
1.4. Nhận xét chung về tổng quan tài liệu và hướng nghiên cứu của đề tài
1.4.1. Nhận xét chung
Qua phân tích tổng quan tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài Luận
án có thể rút ra một số nhận xét chung như sau:
- Một số nghiên cứu đã làm rõ được yêu cầu sinh lý, sinh thái của cây cà phê và cây
mắc ca làm cơ sở cho việc so sánh, đối chiếu với những điều kiện sinh thái của vùng nghiên
cứu để xác định mức độ thích hợp của điều kiện sinh thái với cây mắc ca. Đây là căn cứ để
đề tài đề xuất phát triển mắc ca theo phương thức trồng xen trong vườn cà phê.
- Các nghiên cứu đã làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc cần thiết phải
trồng cây che bóng trong vườn cà phê, khẳng định là một trong những giải pháp để phát
triển bền vững ngành cà phê.

5

1.4.2. Hướng nghiên cứu của đề tài
Từ những nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến sản xuất cà phê và mắc ca
đã trình bày ở trên, Đề tài luận án định hướng tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau đây:
- Phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Krông Năng liên quan
đến trồng cây cà phê và cây mắc ca. Trong đó đi sâu phân tích các điều kiện sinh thái
như khí hậu; điều kiện địa hình, địa mạo và đặc điểm tài nguyên đất làm căn cứ xác
định khả năng thích hợp của đất đai với cây mắc ca sau này.
- Đánh giá thực trạng sản xuất cà phê tại huyện Krông Năng, trong đó có cả vấn
đề sử dụng đất đỏ bazan trồng cà phê của huyện.
- Đánh giá tính hiệu quả của việc trồng cà phê xen mắc ca trên cơ sở so sánh hiệu
quả dụng đất giữa các mô hình trồng xen mắc ca ở các độ tuổi khác nhau với mô hình
trồng xen tiêu và cà phê trồng thuần trên đất đỏ bazan huyện Krông Năng.

6
- Đánh giá khả năng thích hợp của đất đai với cây mắc ca và đề xuất định hướng
sử dụng đất phát triển phương thức trồng cà phê xen mắc ca, góp phần tăng hiệu quả sử
dụng đất trồng cà phê của huyện Krông Năng.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển phương thức trồng cà phê xen mắc ca trên
đất đỏ bazan tại huyện Krông Năng.
Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Krông Năng có liên quan đến trồng
cây cà phê và mắc ca.
- Đánh giá thực trạng sản xuất cà phê của huyện Krông Năng.
- Đánh giá hiệu quả phương thức trồng cà phê xen mắc ca trên đất đỏ bazan tại
huyện Krông Năng.
- Đánh giá khả năng thích hợp của đất đai với cây mắc ca và định hướng sử dụng
đất trồng cà phê xen mắc ca trên đất đỏ bazan tại huyện Krông Năng.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển phương thức trồng cà phê xen mắc ca trên
đất đỏ bazan tại huyện Krông Năng.

Năm trồng
Mật độ (cây/ha)
*Năng suất (tấn /ha)
Cà phê
Cây xen
Cà phê
Cây xen
Cà phê
Cây xen
Cà phê xen mắc ca
1. Xã Phú Lộc
2003
2004
1.110
185
4,12
2,50
2. Xã Đlêi Ya
1999
2009
1.110
238
3,45
0,00
Cà phê xen tiêu
3. Xã Ea Tân
1998
2000
1.110
370

* Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
- Các chỉ tiêu về môi trường sinh thái vườn cây Cường độ chiếu sáng, Ẩm độ, nhiệt độ
trong tán cà phê cách mặt đất 1,2 m, Tốc độ gió trong mùa khô, Diễn biến năng suất.
- Thời gian theo dõi mô hình trong 3 năm: 2011, 2012, 2013.
- Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển của cây mắc ca trồng xen.
2.2.5. Phương pháp phân tích SWOT
Trong nghiên cứu này, khung phân tích SWOT được sử dụng để tìm hiểu những
điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội và thách thức trong sử dụng đất của mô hình trồng
cà phê xen mắc ca trên đất đỏ bazan tại huyện Krông Năng. Kết quả phân tích ma trận
SWOT sẽ là một trong những căn cứ quan trọng để quyết định lựa chọn giải pháp nâng
cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương.
2.2.6. Phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
Đánh giá hiệu quả kinh tế, Hiệu quả xã hội, Đánh giá hiệu quả môi trường.
2.2.7. Phương pháp đánh giá đất theo FAO
Dựa vào quy trình đánh giá đất thích hợp theo FAO để đánh giá phân hạng thích
hợp cho cây mắc ca ở huyện Krông Năng.
2.2.8. Phương pháp xây dựng bản đồ
Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xây dựng các loại bản đồ đơn tính,
bản đồ đơn vị đất đai, bản đồ phân hạng thích hợp đất đai và bản đồ đề xuất sử dụng đất
trồng cà phê xen mắc ca trên đất đỏ bazan huyện Krông Năng tỷ lệ 1/50.000.
2.2.9. Phương pháp xử lý số liệu và phân tích thông tin
Phương pháp xử lý số liệu điều tra bằng phần mềm Excel 7.0 và SPSS.
Dùng hình ảnh và các sơ đồ, biểu đồ để minh họa kết quả nghiên cứu.
2.2.10. Phương pháp chuyên gia
Tổ chức Hội thảo xin ý kiến các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong đánh giá đất,
sử dụng đất và các chuyên gia giàu kinh nghiệm về lĩnh vực sinh thái cây trồng lâm
nghiệp trong việc lựa chọn các chỉ tiêu, phân cấp ngưỡng chỉ tiêu phục vụ xây dựng
bản đồ chuyên đề, bản đồ đơn vị đất đai. Đồng thời cũng tham vấn các ý kiến của
chuyên gia trong việc xây dựng yêu cầu sử dụng đai của cây mắc ca phục vụ phân hạng
mức độ thích hợp của đất đai với cây mắc ca.

đó địa hình đồi núi cao nguyên thấp dưới 600 m chiếm diện tích chủ yếu với 77,92%, địa
hình cao nguyên núi cao chiếm 22,08%. Trong khi đó, xét theo tầng dày của huyện Krông
Năng phân thành 5 cấp, trong đó đất có tầng dày trên 100 cm, chiếm 58,74% DTTN.
- Đặc điểm thổ nhưỡng: Huyện Krông Năng có 4 nhóm đất, trong đó nhóm đất đỏ
(chủ yếu đất đỏ bazan) có diện tích nhiều nhất với 55.134,00 ha, chiếm 89,68% DTTN,
tiếp theo là nhóm đất xám và bạc màu có 3.677,00 ha, chiếm 5,98% DTTN.
- Đặc điểm, tích chất đất đỏ bazan: Diện tích đất đỏ bazan toàn huyện có 37.604
ha, chiếm 61,17% DTTN với 2 đơn vị phân loại đất ký hiệu Fk và Fu. Đất có tầng dày,
độ xốp cao thích hợp phát triển cà phê và mắc ca.
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, kinh tế của huyện phát triển ổn định, tăng trưởng bình
quân cả giai đoạn 2006 - 2012 là 8,88% trong đó sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
tăng 6,85%, công nghiệp và xây dựng tăng 5,93%, thương mại, dịch vụ tăng bình quân
19,94%. GDP bình quân đầu người năm 2012 đạt 35,05 triệu đồng/người/năm, tăng
1,66 lần so với năm 2005 và tăng 2,65 lần so với năm 2000.
3.2. Đánh giá thực trạng sản xuất cà phê của huyện Krông Năng
3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Krông Năng
Hiện trạng sử dụng đất của huyện Krông Nămg năm 2012 là 61.479 ha, trong đó
đất nông nghiệp 51.101,7 ha, chiếm 83,12% diện tích đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp
6.055,01 ha, chiếm 9,85% DTTN; đất chưa sử dụng 4.322,29 ha, chiếm 7,03%.
3.2.2. Hiện trạng sản xuất và sử dụng đất đỏ bazan trồng cà phê của huyện Krông Năng
- Hiện trạng sản xuất cà phê của huyện Krông Năng
Krông Năng là huyện có diện tích và sản lượng cà phê lớn thứ 3 trong tỉnh sau
huyện Ea H’leo, Cư M’gar, thuộc vùng chỉ dẫn địa lý cà phê mang thương hiệu cà phê
Buôn Ma Thuột của tỉnh. Kết quả cho thấy, từ năm 1990 đến năm 2012 diện tích cà phê
của huyện Krông Năng tăng 5,85 lần (từ 4.445 ha lên 26.013 ha), năng suất tăng 10,88
lần (từ 2,17 tạ/ha/năm lên 23,61 tạ/ha/năm) và sản lượng tăng 62,82 lần (từ 963 tấn/năm
lên 60.503 tấn/năm) và diện tích cà phê kinh doanh 25.662 ha. Hầu hết diện tích cà phê

9

2
O
5
và 208 kg K
2
O/ha/năm. Mức bón
N, P
2
O
5
, K
2
O nhìn chung theo chiều hướng không cân đối. Về tưới nước theo điều tra
năm 2012 số lần tưới trung bình là 3,5 lần trong mùa khô. Về sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật, có 96,50% số hộ điều tra sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ các loài sâu, bệnh hại
chính như rệp sáp, mọt đục cành, bệnh gỉ sắt…, chỉ có 3,5% số hộ không sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật.
3.2.6. Tình hình trồng cây che bóng trong vườn cà phê tại huyện Krông Năng trên
đất đỏ bazan
Tình hình trồng cây che bóng trong vườn cà phê tại 4 xã nghiên cứu cho thấy,
diện tích trồng thuần không có cây che bóng trung bình của các xã chiếm 87,85%, trong
diện tích trồng thuần chỉ có 4,0% có trồng cây che bóng bằng các cây truyền thống như
muồng đen hay keo dậu, diện tích còn lại có trồng xen cây ăn quả hoặc cây lâu năm
chiếm 12,15%.
3.2.7. Hiệu quả kinh tế của sản xuất cà phê trên đất đỏ bazan tại huyện Krông Năng
Từ kết quả điều tra hiệu quả sản xuất cà phê huyện Krông Năng cho thấy :

- Kết quả điều tra hiệu quả kinh tế của các nông hộ tại các điểm nghiên cứu cho thấy
nhóm hộ có hiệu quả kinh tế cao năng suất biến động từ 3,9 đến 4,7 tấn cà phê nhân, bình


Bảng 3.1. Năng suất cà phê, mắc ca và tiêu trong mô hình
TT
Năng suất cà phê (tấn nhân/ha)
Năng suất mắc ca (tấn hạt/ha)
2011
2012
2013
TB
2011
2012
2013
TB
Mô hình xen mắc ca
1
4,10
4,35
4,40
4,28
2,55
2,77
3,10
2,81
2
3,75
3,97
4,00
3,91
0,00
0,75
0,95

4,50
4,40
ĐC
3
4,77
4,96
4,85
4,86
ĐC
Ghi chú: TB - Trung bình; ĐC - Đối chứng

11
3.3.2. Hiệu quả kinh tế của trồng xen mắc ca so với trồng xen tiêu và cà phê thuần
Số liệu tính toán về hiệu về hiệu quả kinh tế của trồng xen mắc ca so với trồng tiêu
và cà phê thuần trong 3 năm (2011, 2012, 2013) cho thấy, trong các mô hình nghiên cứu mô
hình cà phê xen mắc ca năm thứ 4 và năm thứ 9 cho hiệu quả kinh tế sử dụng đất khá cao, lợi
nhuận từ 128,56 - 294,47 triệu đồng/ha/năm. Mô hình 1 trồng xen mắc ca khi đi vào kinh
doanh cho lợi nhuận cao nhất: 294,47 triệu đồng/ha/năm. Mô hình 2 lợi nhuận thấp nhất
128,56 triệu đồng/ha/năm, nguyên nhân thu được lợi nhuận thấp trong mô hình 2 là do cây
mắc ca mới cho thu thu hoạch năm thứ 2 nên năng suất thấp so với mô hình 1 trồng xen cây
mắc ca ở tuổi kinh doanh, còn cà phê trong mô hình vẫn đạt năng suất cao (Bảng 3.2). So với
mô hình trồng tiêu, mô hình trồng xen mắc ca (MH1) cho lợi nhuận cao gấp 1,42 lần.
Bảng 3.2. Hiệu quả kinh tế của các mô hình trồng xen mắc ca, tiêu
trong vườn cà phê
MH
xen
mắc
ca
Tổng thu (triệu đồng/ha)
Tổng chi (triệu đồng/ha)

16,92
95,70
128,56
2,34
TB
163,81
146,40
310,21
79,01
19,69
98,70
211,52
3,14
MH
xen
tiêu
Tổng thu (triệu đồng/ha)
Tổng chi (triệu đồng/ha)
Lợi nhuận
(Triệu
đồng/ha)
Hiệu quả
sử dụng vốn
(lần)
Cà phê
Hồ tiêu
Tổng
thu

phê

(%)
1
100,31
294,47
194,16
193,56
2
92,87
128,56
35,69
38,43
TB
96,59
211,51
114,92
116,00
Mô hình
xen tiêu
Cà phê thuần
(ĐC)
Cà phê xen tiêu
Triệu
đồng/ha/năm
Tỷ lệ
(%)
3
102,92
200,88
97,96
95,18

Thêm vào đó thời vụ thu hoạch giữa mắc ca và cà phê khác nhau, nên không có sự
tranh chấp lao động về mùa vụ, cây mắc ca cho thu hoạch tập trung vào tháng 8 - 9, cây
cà phê cho thu hoạch vào tháng 11 đến tháng 12 của năm. Đầu ra của sản phẩm mắc ca
rộng hơn cà phê. Chính vì vậy, người nông dân đã sớm chấp nhận đưa cây mắc ca vào
hệ thống cây trồng của huyện.
3.3.4. Hiệu quả môi trường của mô hình trồng xen mắc ca và tiêu trong vườn cà phê
3.3.4.1. Ảnh hưởng của việc trồng xen mắc ca, tiêu đến tiểu khí hậu vườn cà phê
a. Ảnh hưởng đến độ ẩm không khí
Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ ẩm không khí ban ngày trong mùa khô trong mô
hình 1 (trồng cà phê xen mắc ca năm thứ 9) luôn cao hơn vườn cà phê trồng thuần
13,67%, trong khi đó mô hình 2 là 1,52%. So với cà phê trồng thuần, mô hình xen tiêu
có độ ẩm cao hơn 5,48%.
b. Ảnh hưởng đến nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí trung bình ở 3 mô hình chọn theo dõi nhiệt độ trong mùa khô
đều thấp hơn so với các vườn trồng thuần làm đối chứng có mức chênh lệch 2,43
0
C -

13
2,71
0
C. Sự chênh lệch về nhiệt độ đã phát huy tác dụng của hệ thống cây trồng xen. Tuy
nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ ở vườn cà phê trồng thuần luôn cao hơn các
mô hình trồng xen từ 2 - 3
0
C.
c. Ảnh hưởng đến cường độ bức xạ
Cường độ bức xạ trong ngày giữa tháng 3/2013 từ 6 giờ 30 đến 17 giờ 30 trong
các vườn cà phê trồng xen cây mắc ca năm thứ 9 giảm 33,10% so với trồng thuần. So
với mô hình 2 mắc ca trồng năm 4 cây phát triển chưa tạo tán nhiều cường độ ánh sáng

trồng xen mắc ca vào độ tuổi kinh doanh có sự chênh lệch độ xốp giữa tầng 1 và 2 cao
nhất với gần 4%, trong khi đó mô hình trồng xen tiêu và cà phê thuần chỉ dao động trên
dưới 2%, điều đó chứng tỏ khi xen cây mắc ca vào vườn cà phê năm thứ 9 đã gia tăng
được độ xốp của đất.

14
b.2. Ảnh hưởng của trồng xen mắc ca hoặc tiêu đến độ ẩm đất trong vườn cà phê
Trị số độ ẩm tương đối dao động trong khoảng 26,58 - 31,41% với độ biến
thiên 5,84% (trong đó ở tầng mặt 26,58 - 32,24%, tăng dần ở tầng 2 dao động trong
khoảng 28,13 - 34,24%). Trên cùng loại đất đỏ bazan trồng cà phê, giữa các mô
hình trồng xen mắc ca ở mẫu đất PL2 và ĐY1 so với mô hình trồng tiêu ET5 và các
mô hình trồng cà phê thuần cũng thể hiện trị số độ ẩm tương đối khác nhau nhưng
dao động không nhiều.
Sức chứa ẩm đồng ruộng của đất đỏ bazan ở các mô hình trồng xen mắc ca so với
mô hình trồng tiêu và trồng cà phê thuần dao động trong khoảng 38,46 đến 55,18%,
trung bình đạt 45,44%. Độ ẩm cây héo giữa các mô hình trồng xen mắc ca so với mô
hình trồng xen tiêu và trồng thuần có sự khác biệt khá rõ.
b3. Ảnh hưởng của trồng xen mắc ca, tiêu đến hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số trong
vườn cà phê
Hàm lượng chất hữu cơ (OM%) trong các mô hình trồng mắc ca xen trong vườn
cà phê so với mô hình xen tiêu và cà phê trồng thuần ở các phẫu diện nghiên cứu đều có
sự dao động khá lớn và giảm nhanh theo chiều sâu của phẫu diện. Ở tầng đất mặt,
(OM%) dao động từ 1,34 đến 3,13%. (OM%) đất có hàm lượng chất hữu cơ ở mức
nghèo đến trung bình, các tầng phía dưới đều ở mức nghèo dao động từ 1,25 đến 2,08%.
Tuy nhiên, ở mô hình trồng xen mắc ca mẫu PL2 có hàm lượng hữu cơ cao hơn so với
các mô hình xen tiêu ET5 và các mô hình trồng thuần.
Hàm lượng đạm tổng số của đất đỏ phát triển trên đá bazan ở mô hình trồng
mắc ca, tiêu xen trong vườn cà phê cũng có sự khác nhau, dao động từ trung bình
đến giàu (0,12% đến 0,24%) và trung bình 0,12% ở tầng mặt và cũng giảm theo
chiều sâu của phẫu diện. Trong các mô hình trồng xen, mô hình xen mắc ca với cà

+ Thực hiện việc bao tiêu sản phẩm của mô hình.
3.3.6. Nhận xét chung về hiệu quả của phương thức trồng cà phê xen mắc ca so với
trồng thuần
So với yêu cầu phát triển bền vững, mô hình trồng cà phê xen mắc ca đáp ứng
được cả ba tiêu chí bền vững: (i) bền vững về kinh tế (ii) bền vững cả về xã hội (iii) bền
vững môi trường nên được xác định là mô hình có chiến lược và tiềm năng phát triển rất
lớn đối với vùng trồng cà phê ở huyện Krông Năng nói riêng và toàn vùng Tây Nguyên
nói chung, nhằm thay thế hiệu quả các loại cây che bóng truyền thống.
3.4. Đánh giá khả năng thích hợp đất đai đối với cây mắc ca và định hướng sử
dụng đất trồng cà phê xen mắc ca trên đất đỏ bazan huyện Krông Năng
3.4.1. Đánh giá khả năng thích hợp đất đai đối với cây mắc ca
3.4.1.1. Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Đề tài đã lựa chọn được 7 chỉ tiêu và phân cấp ngưỡng thích hợp với cây mắc ca để
xây dựng bản đồ đơn vị đất đai gồm: loại đất, độ dốc, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, độ
cao tuyệt đối, tổng lượng mưa và nhiệt độ. Mỗi chỉ tiêu nói trên được xây dựng thành
một bản đồ chuyên đề hay còn gọi là bản đồ đơn tính, kết quả đã xây dựng được 7
bản đồ chuyên đề. Bản đồ đơn vị đất đai (LMU) được xây dựng bằng phương pháp
chồng xếp các bản đồ đơn tính.
Kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trên nhóm đất đỏ (chủ yếu đất đỏ bazan)
trồng cà phê của huyện Krông Năng xác định có 31 LMU từ 8.454 khoanh đất. Đặc điểm
về qui mô và cơ cấu của các đơn vị đất đai theo loại đất được tổng hợp ở (Bảng 3.4). 16

Bảng 3.4. Tổng hợp các đơn vị đất đai theo loại đất thuộc nhóm đất đỏ
STT
Tên đất

hiệu

546,00
1,86
4
Đất đỏ vàng trên đá sét và biến
chất
Fs
5
148
683,22
2,33
5
Đất nâu tím trên đá sét màu tím
Ft
2
24
52,97
0,18
6
Đất nâu vàng trên đá macma bazơ
và trung tính
Fu
3
204
659,51
2,25
Tổng cộng
31
8454
29.306,29
100,00

P4
P2
P1
5. Độ cao tuyệt đối
H2
H1, H3
-
H4
6. Tổng lượng mưa
R1, R2
R3
R4
-
7. Nhiệt độ ban đêm phân hóa
mầm hoa (tháng 10 - 11)
T1
T2
-
T3

b. Phân hạng mức độ thích hợp của đất đai với cây mắc ca
Kết quả phân hạng mức độ thích hợp của đất đai đối với cây mắc ca trên vùng
quy hoạch trồng cây cà phê thuộc nhóm đất đỏ (chủ yếu đất đỏ bazan) của huyện
Krông Năng cho thấy có 7 LMU ở mức rất thích hợp (S1); 7 LMU ở mức thích hợp (S2);
12 LMU ở mức ít thích hợp (S3) và 5 LMU ở mức không thích hợp (N) đối với cây mắc ca.
Mức độ thích hợp của đất đai đối với cây mắc ca được trình bày ở (Bảng 3.6).

17
Bảng 3.6. Mức độ thích hợp của đất đai đối với cây mắc ca huyện Krông Năng
TT

Xã Ea Hồ
2.549,75
211,03
2.021,73
267,70
49,29
5
Xã Ea Puk
1.228,32
32,54
1.033,14
133,66
28,98
6
Xã Ea Tam
2.380,26
155,46
1.916,09
235,17
73,54
7
Xã Ea Tân
3.732,43
361,12
2.826,48
411,04
133,78
8
Xã Ea Tóh
2.089,34

95,15
16,10

Toàn huyện
29.306,29
2.239,88
23.125,71
3.163,07
777,62

Về mức độ thích hợp đất đai đối với cây mắc ca trên diện tích đất quy hoạch
phát triển cà phê thuộc nhóm đất đỏ bazan của huyện Krông Năng cho thấy: trong số
29.306,29 ha được đánh giá, diện tích ở mức rất thích hợp (S1) chỉ có 2.239,88 ha
(chiếm 7,64% diện tích đánh giá); mức thích hợp (S2) có diện tích lớn nhất với
23.125,71 ha (chiếm 78,91% diện tích đánh giá); mức thích hợp ít (S3) có diện tích
3.163,07 ha (chiếm 10,79% diện tích đánh giá) và không thích hợp (N) có diện tích
777,62 ha (chiếm 2,65% diện tích đánh giá). Diện tích đất đai ở mức rất thích hợp
(S1) và thích hợp (S2) đối với cây mắc ca của vùng nghiên cứu là 25.365,59 ha
(chiếm 86,55% diện tích đánh giá). Điều này cho thấy quỹ đất có khả năng thích hợp
với cây mắc ca ở huyện Krông Năng là rất lớn.
3.4.2. Định hướng sử dụng đất trồng cà phê xen mắc ca trên đất đỏ bazan huyện
Krông Năng
3.4.2.1. Quan điểm đề xuất định hướng sử dụng đất trồng cà phê xen cây mắc ca trên
đất đỏ bazan huyện Krông Năng
- Khai thác lợi thế về tự nhiên của đất, khí hậu và độ cao địa hình: Phát triển cây
mắc ca xen trong vườn cà phê trồng thuần theo hướng đa tầng là nhằm khai thác lợi
thế của vùng đất đỏ bazan trồng cà phê của huyện.
- Hình thành một ngành sản xuất nông sản hàng hoá xuất khẩu mới, bền vững từ
cây mắc ca.
- Sử dụng đất bền vững: So với cà phê, mắc ca có nhu cầu nước ít hơn và có

phương thức trồng xen trong các vườn cà phê đang kinh doanh, cà phê tái canh
với những diện tích đất không có khả năng tái canh cà phê trở lại trình bày ở (Bảng 3.7).
Diện tích quy hoạch sử dụng đất trồng cây cà phê của huyện đến năm 2020 ở
Bảng 3.7 sẽ ổn định diện tích 23.000 ha, chuyển đổi 3013 ha diện tích cà phê già cỗi tại
những vùng không phù hợp sang trồng các cây trồng khác.
Định hướng sử dụng đất phát triển cây mắc ca theo phương thức trồng cà phê xen mắc
ca trên địa bàn huyện Krông Năng đến năm 2020 sẽ đạt diện tích 10.000 ha, chiếm 43,48%
diện tích quy hoạch cây cà phê ở mức thích hợp S1 là 2.226,78 ha, mức thích hợp S2 là
7.773,22 ha. Trong đó tập trung nhiều ở xã Đlei Ya 2.362,68 ha, Ea Tân 1.446,44 ha, Phú
Xuân 1.417,95 ha và xã Ea Puk có diện tích ít nhất là 173,97 ha (Bảng 3.7). Kết quả trên
cũng cho thấy diện tích trồng xen làm cây che bóng hiện trạng 3.395,85 ha, chiếm tỷ lệ rất
thấp trong vườn cà phê, kết quả đánh giá đất đai cho thấy tiềm năng mở rộng cây mắc ca của
huyện còn rất lớn với 25.365,59 ha diện tích đất ở mức thích hợp S1 và S2, chiếm
86,55% diện tích đánh giá.

19
Bảng 3.7. Định hướng sử dụng đất trồng xen mắc ca
trên đất quy hoạch cây cà phê huyện Krông Năng đến năm 2020
ĐVT: ha
TT

Chia theo
đơn vị hành
chính
Quy
hoạch
cà phê
2020
Hiện
trạng

5
Xã Ea Puk
550
83,72
173,97
8,12
6
Xã Ea Tam
1.620
25,36
724,54
8,9,10,12,13,15,16,29,30
7
Xã Ea Tân
4.050
951,81
1.446,44
9,10,13,15,16,30
8
Xã Ea Tóh
3.150
747,12
1.284,48
8,9,10,12,13,16, 27,28
9
Xã Phú Lộc
1.250
3,00
436,96
8,12,13,15,19, 29

Để có thể thực hiện được định hướng sử dụng đất phát triển cây mắc ca theo
hướng hàng hoá đòi hỏi phải có sự điều chỉnh và bổ sung quy hoạch sử dụng đất, quy
hoạch phát triển nông nghiệp một cách hợp lý trên địa bàn từng xã của huyện. Theo
UBND huyện Krông Năng (2012) diện tích đất trồng cây lâu năm đã được quy hoạch đến
năm 2020 có 35.092,56 ha, chiếm 57,08% DTTN, trong khi đó quy hoạch của Sở Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Đắk Lắk (2012) đã được phê duyệt thì đến năm 2020 cây
lâu năm chỉ có 30.720 ha, thấp hơn so với chỉ tiêu UBND tỉnh Đắk Lắk phân bổ 563,56
ha. Trong đó diện tích cà phê điều chỉnh đến năm 2020 sẽ ổn định 23.000 ha. Trong công
tác điều chỉnh quy hoạch cần chỉ ra được các vùng phù hợp và định hướng được quy mô
và tiến độ phát triển cây mắc ca đến từng xã theo đề xuất trong mục 3.4.2.3.
Trong định hướng sử dụng đất trồng cà phê xen mắc ca thời gian tới điều chỉnh
quy hoạch sử dụng đất trên diện tích đất đang trồng cà phê thuộc 12 xã, thị trấn của toàn
huyện. Kết quả đã lựa chọn các đơn vị đất đai ở mức rất thích hợp (S1) là 2.226,78 ha
thuộc các đơn vị đất số (16,19,27,28,29,30) và mức thích hợp (S2) là 7.773,22 ha, lấy
vào đơn vị đất số (8, 9,10,12,13,14,15) từ kết quả đánh giá đất thích hợp cho cây mắc
ca. Diện tích đất đai ở mức thích hợp S1 và S2 đối với cây mắc ca ở vùng nghiên cứu là
25.365,59 ha (chiếm 86,55% diện tích đánh giá) cho thấy tiềm năng đất đai để mở rộng
diện tích phát triển cây mắc ca theo phương thức trồng cà phê xen mắc ca ở huyện

20
Krông Năng rất lớn. Tuy nhiên, việc quy hoạch các vùng sản xuất tập trung cần phải
cân nhắc đến định hướng sử dụng đất và nhu cầu của thị trường.
3.5.1.2. Các chính sách khuyến khích khai thác hợp lý tài nguyên đất trong huyện
Kết quả điều tra cho thấy từ tỉnh đến huyện đã có nhiều cơ chế, chính sách về sử
dụng và quản lý đất đai phục vụ phát triển cây công nghiệp lâu năm như cà phê, mắc
ca… chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ sản xuất có diện tích quy mô
nhỏ dồn điền, đổi thửa, chuyển nhượng đất đai, để mở rộng quy mô sản xuất; khuyến
khích chuyển đổi diện tích cà phê già cỗi, sâu bệnh, xa nguồn nước, hiệu quả thấp sang
trồng cây mắc ca; chính sách chuyển đổi một số diện tích rừng sản xuất kém hiệu quả
do các doanh nghiệp, các Nông lâm trường quản lý sang trồng cây công nghiệp lâu năm.

chỉ chiếm 25% số hộ điều tra; theo dõi qua đài truyền hình 16%; đài phát thanh và qua
sách báo 15% số hộ phỏng vấn . Do vậy, cần tạo điều kiện để người nông dân tiếp cận
các kỹ thuật mới về các loại cây trồng mới:
- Cần tăng cường đội ngũ khuyến nông viên cấp xã, đặc biệt đối với các xã vùng
sâu, vùng xa. Các cán bộ khuyến nông viên phải là người am hiểu phong tục, tập quán

21
canh tác của cư dân, có khả năng tiếp thu và chuyển tải những tiến bộ kỹ thuật mới đến
người dân thông qua tập huấn, mô hình mẫu.
- Thông qua các mô hình để phổ biến kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm giữa cán bộ
kỹ thuật khuyến nông với nông dân và giữa nông dân với nông dân.
- Lựa chọn người tham gia vào mô hình trình diễn phải là người có kinh nghiệm,
trình độ nhất định, đặc biệt đối với các hộ đồng bào dân tộc người tham gia phải có uy
tín trước cộng đồng.
- Phát huy tối đa kiến thức bản địa, tiềm năng sẵn có của địa phương khi chuyển
giao tiến bộ khoa học kỹ thuật mới.
- Chú ý đào tạo bồi dưỡng các cán bộ cơ sở như cán bộ khuyến nông để họ có
thể giúp đỡ người dân thực hiện, giám sát, nhân rộng mô hình.
- Cần huy động tối đa sự tham gia của người dân vào nhiều hoạt động để
họ hiểu rõ và áp dụng được vào sản xuất. Xây dựng năng lực cho người dân để họ tự
phát triển chính họ.
3.5.4. Giải pháp về các chính sách
3.5.4.1. Chính sách hỗ trợ nhân rộng mô hình trồng cà phê xen mắc ca
Theo kết quả điều tra và tham vấn các chuyên gia cho thấy muốn nhân rộng bất kỳ một
loại cây trồng mới đều cần phải có chính sách hỗ trợ, mức độ hỗ trợ nhân rộng tuỳ thuộc vào
từng địa phương.
3.5.4.2. Chính sách hỗ trợ về giống
Khi phân tích điểm mạnh, yếu của việc đưa cây mắc ca vào trồng xen trong vườn
cà phê đã cho thấy, một trong những điểm yếu khi thực hiện việc trồng cà phê xen mắc
ca là khâu giống, trong khâu giống vấn đề tồn tại lớn nhất là chất lượng giống. Do vậy

- Xây dựng vùng nguyên liệu là những sản phẩm nông sản hàng hóa mới như mắc
ca phải gắn với tổ chức mạng lưới thu mua sản phẩm, nhằm thúc đẩy sản xuất, giúp các
xã xây dựng mới hoặc mở rộng trao đổi mua bán hàng hoá nông lâm sản.
- Xây dựng thương hiệu mắc ca Krông Năng hoặc rộng hơn là Đắk Lắk. Xây dựng
ngay trang Website để quảng cáo sản phẩm.
- Xây dựng kênh phân phối: Đây là giải pháp rất quan trọng nếu không nói là quyết
định vì sản xuất ra phải gắn với tiêu thụ. Kinh nghiệm thực tế cho thấy nếu cứ mạnh ai người
đó bán thì hiệu quả sẽ thấp. Nhà nước nên có chính sách mạnh mẽ hỗ trợ một số Doanh
nghiệp tư nhân làm đầu tầu phát triển, đi đầu về áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, tạo ra
những trang trại trồng mắc ca có quy mô lớn và hỗ trợ xây dựng kênh tiêu thụ sản
phẩm. Trong đó thiết lập mô hình như của Công ty TNHH Vinamacca làm đơn vị đầu
mối tiêu thụ, thu mua hàng hoá, phân phối và bán sản phẩm ở trong nước và quốc tế.
- Liên doanh và ký kết hợp đồng tiêu thụ nhân mắc ca ở những cơ sở chế biến
bánh kẹo, dầu ở trong nước, giúp người tiêu dùng trong nước làm quen với sản phẩm và
từng bước định hướng và mở rộng thị trường nội địa.
3.5.4.4.Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật cao trong sản xuất nông nghiệp
Kết quả khảo sát cho thấy, tỉ lệ hộ sử dụng phân bón cân đối rất thấp, chỉ với
40%, không có kiến thức về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và tưới nước cho cà phê,
tưới dư thừa nhiều, gây khan hiếm nước. Đối với cây mắc ca là một loại cây trồng mới
cần phải chú trọng đến việc đào tạo, nâng cao hiểu biết của người nông dân về sản xuất
cây mắc ca bao gồm cả kỹ thuật chọn giống, kỹ thuật trồng xen, mật độ trồng xen, kỹ
thuật bón phân, chăm sóc, thu hoạch
3.5.4.5. Phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất
Tăng cường đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển
nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện việc lồng ghép các chương trình mục tiêu về xây
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nhằm tạo bước đột phá cho các hoạt động kinh tế, xã hội
trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trong chuyển đổi các mô hình cây trồng có hiệu
quả như mô hình trồng cà phê xen mắc ca.

23

mắc ca trồng thuần và năng suất/cây trung bình ở mô hình trồng xen là 3,99 kg/cây còn
trồng thuần trung bình đạt 4,14 kg/cây.
- Trồng cà phê xen mắc ca có làm giảm năng suất cà phê nhưng không có ý nghĩa
thống kê. Hiệu quả kinh tế sử dụng đất cao hơn trồng thuần. Với mô hình năm thứ 9 cho
tổng thu 396,17 triệu đồng, tổng chi phí 101,70 triệu đồng, lợi nhuận 294,47 triệu
đồng/ha/năm. Trong khi đó mô hình trồng cà phê thuần chỉ cho lợi nhuận từ 92,87 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status