Luận án tiến sĩ Phân tích chuỗi giá trị thủy sản của tỉnh Nghệ An ( tóm tắt) - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THÚY VINH PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ THỦY SẢN
CỦA TỈNH NGHỆ AN CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
MÃ SỐ: 62 31 01 05 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI - 2014
Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn: 1. PGS. TS. TRẦN HỮU CƯỜNG
2. TS. DƯƠNG VĂN HIỂU Phản biện 1: PGS.TS. Phạm Văn Hùng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam

kinh tế mũi nhọn của tỉnh, cần phải phân tích chuỗi giá trị thủy sản bao
gồm từ khâu sản xuất cho đến khâu tiêu dùng cuối cùng. Phân tích
chuỗi để hướng tới nâng cao kết quả, hiệu quả không những của từng
khâu của chuỗi mà còn cả toàn bộ chuỗi, phân tích tính công bằng
trong việc chia sẻ chi phí, lợi ích dựa trên đóng góp của từng tác nhân
trên chuỗi; phân tích đánh giá tính linh hoạt, khả năng đáp ứng và chất
lượng sản phẩm được tạo ra từ chuỗi. Đây cũng là vấn đề mới, mang
tính thời sự cao đối với tỉnh Nghệ An nói chung và ngành thủy sản nói
riêng đòi hỏi phải nghiên cứu để làm rõ.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã lựa chọn “Phân tích chuỗi
giá trị thuỷ sản của tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận án nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Phân tích chuỗi giá trị thuỷ sản của tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất
định hướng và giải pháp để phát triển chuỗi giá trị thủy sản (GTTS)
trên địa bàn nghiên cứu.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phân tích

2
chuỗi GTTS.
- Phân tích chuỗi GTTS và các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi
GTTS của tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển chuỗi GTTS
của tỉnh Nghệ An.
3. Các câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này sẽ tập trung trả lời các câu hỏi sau đây:
- Thực trạng hoạt động của các chuỗi GTTS của tỉnh Nghệ An
diễn ra như thế nào?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động của các

giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi GTTS.

b) Những đóng góp về thực tiễn
- Thực tiễn phân tích chuỗi GTTS của tỉnh Nghệ An thông qua 2
sản phẩm lợi thế và đặc thù của tỉnh là tôm và cá cơm, cho thấy: i) Các
tác nhân liên kết với nhau còn rời rạc, đứt đoạn từng khâu của chuỗi,
theo hình thức liên kết thỏa thuận miệng nên chưa chặt chẽ và thiếu
tính bền vững. ii) Sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trên chuỗi
chưa thực sự công bằng: Người nuôi, đánh bắt là tác nhân hưởng phần
lợi nhuận chưa tương xứng với phần chi phí bỏ ra, người bán buôn,
người bán lẻ là hưởng phần lợi ích nhiều nhất. Sự liên kết càng gần với
người tiêu dùng thì lợi ích của người nuôi và người đánh bắt càng
được nâng cao. iii) Khả năng đáp ứng, tính linh hoạt của chuỗi còn hạn
chế, chất lượng sản phẩm chưa đạt được các tiêu chuẩn để truy xuất
được nguồn gốc. Luận án cũng đã xác định một số nhân tố ảnh hưởng
đến chuỗi như trình độ, công nghệ, kỹ thuật,…

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Chuỗi giá trị và một số khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm chuỗi giá trị (Value chain)
Có thể khái quát, chuỗi giá trị là tập hợp một chuỗi các hoạt
động để chuyển hóa nguồn lực đầu vào thành các sản phẩm đầu ra và
tại mỗi hoạt động sẽ tạo thêm giá trị cho sản phẩm.

4
1.1.2. Sự khác nhau giữa các khái niệm kênh marketing, chuỗi cung
ứng và chuỗi giá trị
- Kênh marketing và chuỗi giá trị

1.2.1. Khái niệm chuỗi giá trị thủy sản
Chuỗi GTTS tập hợp các hoạt động từ người sản xuất đến người
tiêu dùng cuối cùng gồm các tác nhân: người sản xuất thủy sản (người
nuôi trồng thủy sản; người đánh bắt thủy sản), người sơ chế, người chế
biến, người kinh doanh. Trong quá trình này không chỉ có các tác nhân
nêu trên mà còn có sự hỗ trợ của các tác nhân cung cấp dịch vụ.
1.2.2. Đặc trưng của chuỗi giá trị thủy sản
- Chuỗi giá trị bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong
các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc.
- Một chuỗi bao gồm nhiều tác nhân độc lập nhau, do vậy cần thiết
phải có mối quan hệ về mặt tổ chức.
- Một chuỗi giá trị bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có định
hướng, các hoạt động điều hành và quản lý.
- Các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá
trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực .
1.2.3. Các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị thủy sản
Trong chuỗi GTTS, các bên tham gia chính là các tác nhân hoạt
động trên mọi cấp độ của chuỗi thủy sản, bao gồm những người thu
hoạch, người sơ chế, người thu mua, các công ty chế biến, người phân
phối, tiêu thụ, và đại diện của các đơn vị hỗ trợ, các trường, viện…
những người đóng vai trò thúc đẩy chuỗi.
1.3. Phân tích chuỗi giá trị thủy sản
Theo chúng tôi, phân tích chuỗi GTTS là quá trình phân tích,
đánh giá sản phẩm thủy sản từ nhiều cấp độ, nhiều khía cạnh để thấy
được bức tranh về dòng chảy sản phẩm, dòng thông tin, dòng tiền, các
tác nhân chính trên chuỗi thường gắn với sản phẩm hoặc dịch vụ, các
tác nhân quan hệ ràng buộc với nhau và giá trị sản phẩm được tăng
thêm tại mỗi mắt xích.

6


7

Hình 2.1. Khung phân tích chuỗi giá trị thủy sản của Nghệ An
2.2. Chọn sản phẩm và điểm nghiêm cứu
2.2.1. Chọn sản phẩm của chuỗi giá trị thủy sản nghiên cứu
Dựa vào đặc điểm địa bàn, điệu kiện kinh tế xã hội, chúng
tôi đã chọn sản phẩm của chuỗi GTTS Nghệ An là tôm nuôi và cá
cơm đánh bắt.

trị thủy sản của Nghệ An
- Quan điểm
- Định hướng
- Giải pháp: Giải pháp chung và riêng cho từng tác nhân
Đánh giá chung chuỗi giá trị thủy sản của tỉnh Nghệ An
- Thuận lợi
- Hạn chế
Các nhân tố
ảnh hưởng đến
chuỗi giá trị
thủy sản Nghệ
An
- Nhân tố ảnh
hưởng đến mối
liên kết của các
tác nhân
+ Thời gian tham
gia sản xuất,
kinh doanh
+ Nhóm tổ chức
sản xuất, kinh
doanh
- Nhân tố ảnh
hưởng đến kinh
tế chuỗi
+ Nguồn vốn
+ Công nghệ, kỹ
thuật
- Nhân tố ảnh
hưởng đến quản

8
tỉnh, là những địa phương có truyền thống nuôi trồng và đánh bắt
thủy sản. Người dân ở những vùng này chủ yếu sống nhờ vào thuỷ
sản. Chính vì vậy, vùng ven biển tỉnh Nghệ An là điểm nghiên cứu
xuất phát của chuỗi.
Các đối tượng được chọn làm nghiên cứu ở vùng ven biển này
sẽ tập trung vào tác nhân nuôi trồng, đánh bắt, thương lái, chế biến.
Còn các tác nhân khác, trên cơ sở khảo sát các chuỗi điển hình chúng
tôi lựa chọn điều tra một số tác nhân thương mại và người tiêu dùng
trên địa bàn tỉnh Nghệ An và các khu vực lân cận như thành Phố Hà
Nội, tỉnh Ninh Bình,… theo dòng luân chuyển của chuỗi. Với những
tác nhân ở các địa điểm này chúng tôi có thể đi sâu phân tích để thấy
được bức tranh chung toàn cảnh về chuỗi giá trị thủy sản của tỉnh.
2.2.3. Xử lý thông tin và số liệu
Xây dựng cơ sở dữ liệu và xử lý bằng các phần mềm máy tính
trợ giúp như Excel và SPSS 15.0.
2.2.4. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
Để thu thập thông tin dữ liệu chúng tôi tiến hành 2 giai đoạn:
giai đoạn 1, sử dụng phương pháp đánh giá nhanh thị trường (RMA)
với phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập thông tin dữ liệu định tính
nhằm xác định tác nhân, chức năng, vai trò, hoạt động giao dịch của
các tác nhân; Giai đoạn 2, sử dụng phỏng vấn có cấu trúc, phỏng vấn
trực tiếp các tác nhân trong chuỗi để thu thập thông tin định lượng từ
đó có được dữ liệu để đi sâu phân tích được chuỗi GTTS.
2.2.5. Phương pháp phân tích
2.2.5.1. Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này được sử dụng để mô tả thực trạng hoạt động
từ khâu sản xuất đến tiêu dùng cuối cùng của chuỗi, từ đó có những
phân tích đánh giá chuỗi, đề xuất giải pháp phát triển chuỗi giá trị thủy
sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Hình 3.1. Sơ đồ chuỗi giá trị thủy sản của tỉnh Nghệ An
Đầu vào
Sản

xu

t

Thương

m

i

Tiêu

dùngCung
ứng
đầu
vào
Người
bán buôn


10
Sản phẩm tôm và cá cơm sau khi thu hoạch sẽ được bán phục vụ
cho nhu cầu tiêu dùng dưới nhiều dạng sản phẩm như tươi, khô, nước
mắm, thức ăn gia súc, theo nhiều dòng luân chuyển qua các tác nhân.
Hiện nay dòng luân chuyển tôm, cá dài, khối lượng nhiều nhất và dòng
luân chuyển ngắn nhất được qua 4 chuỗi (hình 3.2).
Chuỗi tôm 1, chuỗi cá cơm 1 luân chuyển sản phẩm tôm, cá dài
và chiếm tỷ trọng khối lượng tiêu thụ lớn nhất chiếm 61,71% khối
lượng tôm, 40,71% khối lượng cá. Chuỗi tôm 2 và chuỗi cá cơm 2
luân chuyển sản phẩm tôm, cá ngắn nhất, chiếm 24,84% khối lượng
tôm, 16,67% khối lượng cá. Hình 3.2. Dòng luân chuyển chính sản phẩm tôm và cá cơm
3.1.2. Đặc điểm chung của chuỗi
Chuỗi GTTS Nghệ An có đặc điểm: i) Cấu trúc của chuỗi khá
đơn giản; ii) Sản phẩm của chuỗi không liên tục và có sự thay đổi rất
Người
bán lẻ

Hộ
ch
ế

bi
ế
n

Người
bán buôn

Người
bán l


Thương
lái

Người

n l


Người tiêu dùng cuối cùng


đồng lợi nhuận. Cứ bỏ ra 1 đồng chi phí thì hộ thu về 1,21 đồng doanh
thu và 0,21 đồng lợi nhuận.
3.2.1.5. Người bán buôn
Kết quả kinh doanh của người bán buôn chuỗi tôm 1 cao hơn rất

12
nhiều lần người bán buôn chuỗi cá cơm 1, tính trên 1 tạ sản phẩm
doanh thu gấp 1,57 lần và lợi nhuận gấp 3,62 lần. Nhưng hiệu quả
kinh doanh của người bán buôn chuỗi tôm 1 không cao hơn nhiều so
với kết quả của người bán buôn chuỗi cá cơm 1.
3.2.1.6. Người bán lẻ
Người bán lẻ ở chuỗi tôm 1 và chuỗi cá cơm 1 mang lại kết quả
cao hơn chuỗi tôm 2 và chuỗi cá cơm 2. Hiệu quả thì ngược lại người
bán lẻ tham gia chuỗi tôm 2 và chuỗi cá cơm 2 hoạt động hiệu quả hơn
khi tham gia vào chuỗi tôm 1 và chuỗi cá cơm 1, tuy nhiên cũng cao
hơn không nhiều.
3.2.2. Tình hình liên kết
- Chuỗi tôm 1, chuỗi giá trị tôm tươi:
Hộ nuôi tôm → thương lái
→ người bán buôn → người bán lẻ → người tiêu dùng
Chuỗi tôm 1 là dòng luân chuyển tôm chính và chủ yếu. Đến vụ
thu hoạch hộ nuôi thông báo cho thương lái, thương lái liên hệ và thỏa
thuận với người bán buôn. Sau đó tôm được người bán buôn vận
chuyển bán cho người bán lẻ rồi đến người tiêu dùng cuối cùng.
- Chuỗi tôm 2, chuỗi giá trị tôm tươi: Hộ nuôi tôm → người bán
lẻ → người tiêu dùng
Chuỗi tôm 2 là chuỗi luân chuyển tôm ngắn nhất từ hộ nuôi đến
tận tay người tiêu dùng chỉ qua 1 tác nhân là người bán lẻ. Sau khi thu
hoạch, tôm sẽ được bán cho người bán lẻ ngay tại đầm.
- Chuỗi cá cơm 1, chuỗi giá trị cá cơm khô: Hộ đánh bắt → Hộ

thỏa thuận không được thực hiện xảy ra nhiều, thậm chí số lượng thực
hiện không đúng thỏa thuận cũng lớn. Chứng tỏ mức độ liên kết của
các tác nhân tham gia chuỗi đa số còn lỏng lẻo.
3.3. Phân tích kinh tế của chuỗi giá trị thủy sản Nghệ An
3.3.1. Chi phí gia tăng của các tác nhân trong các chuỗi
Chi phí gia tăng là phần chi phí mà tác nhân phải bỏ ra tăng
thêm khi sản phẩm của chuỗi đi qua. Để tạo ra 1 kg sản phẩm, các tác
nhân đóng góp tạo ra tổng chi phí chuỗi tôm 1 cao nhất (62,67 đồng)
và thấp nhất là chuỗi cá cơm 2 (11,10 đồng). Trong đó, tác nhân nuôi
tôm và đánh bắt cá cơm là tác nhân bỏ ra chi phí nhiều nhất trong tổng
chi phí của chuỗi.
3.3.2. Giá trị gia tăng do các tác nhân trong chuỗi tạo ra
Tổng VA được tạo ra ở chuỗi tôm 1 cao nhất (92,89 ngàn đồng),
thấp nhất là chuỗi cá cơm 2 (14,49 ngàn đồng). Người tạo ra VA cho
chuỗi nhiều nhất là người bán buôn ở chuỗi tôm 1, người nuôi chuỗi tôm

14
2, người chế biến ở chuỗi cá cơm 1 và người đánh bắt ở chuỗi cá cơm 2.
Còn thương lái tham gia chuỗi tôm 1 đóng góp VA cho chuỗi quá ít.
3.3.3. Lợi nhuận thu được của các tác nhân trong chuỗi
Tổng lợi nhuận thu được của chuỗi tôm 1 cao nhất (78,63 ngàn
đồng), thấp nhất là chuỗi cá cơm 2 (10,11 ngàn đồng). Người nuôi tôm
tham gia chuỗi 2, người đánh bắt tham gia chuỗi cá cơm 2 có tỷ trọng
lợi nhuận thu được trong chuỗi cao hơn tham gia chuỗi tôm 1, chuỗi cá
cơm 1. Chứng tỏ, sự liên kết càng gần với người tiêu dùng thì lợi ích
của người nuôi và người đánh bắt càng được nâng cao.
3.3.4. Tỷ trọng chi phí gia tăng, giá trị gia tăng, lợi nhuận của các
tác nhân trong chuỗi
Sự phân bổ chi phí gia tăng, giá trị gia tăng và lợi nhuận trong
chuỗi thể hiện sự phân phối lợi ích của các tác nhân tham gia.

tăng
% Lợi nhuận % Chi phí gia
tăng
% Giá trị gia
tăng
% Lợi nhuận
Chuỗi tôm 1 Chuỗi tôm 2
Hộ nuôi Thương lái Người bán buôn Người bán lẻ

Hình 3.3. Tỷ trọng chi phí gia tăng, giá trị gia tăng
và lợi nhuận của các tác nhân trong chuỗi tôm 1 và chuỗi tôm 2

15
Trong chuỗi cá cơm 1 và chuỗi cá cơm 2 thì hộ đánh bắt cũng là
người đóng góp chi phí lớn nhất nhưng hưởng phần lợi nhuận chưa
tương xứng. Người chế biến và thương lái là người hưởng phần lợi ích
nhiều nhất (hình 3.4)
82 .22
31.61
13.52
87.9 5
45.55
35.2
3.3 5
29 .68
3 8 .84
14
32 .39
3 5.11
2

3.4.1.1. Sự hài lòng của người tiêu dùng về sản phẩm của chuỗi
Theo đánh giá của người tiêu dùng khả năng đáp ứng của chuỗi
về sản phẩm còn ở mức trung bình, điểm đánh giá bình quân chỉ đạt từ
2,52 đến 3,15 điểm. Người tiêu dùng phàn nàn về chất lượng của chuỗi
tôm 1 là nhiều nhất (2,52 điểm); Chủng loại sản phẩm phân loại rõ
ràng chuỗi cá cơm 2 ở mức thấp nhất (2,70 điểm); Giá cả sản phẩm
không ổn định của chuỗi tôm 2 (2,63 điểm).
3.4.1.2. Sự hài lòng của người tiêu dùng về thương hiệu sản phẩm
Qua khảo sát 100% người tiêu dùng chưa ai biết đến nhãn hiệu
sản phẩm, tên gọi của sản phẩm thủy sản mà mình tiêu dùng. Việc
đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi sản phẩm cho sản phẩm thủy sản
Nghệ An chưa được các tác nhân quan tâm, chưa chú ý đến việc xây
dựng nhãn hiệu sản phẩm.

16
3.4.1.3. Sự hài lòng của người tiêu dùng về sự phục vụ của chuỗi
Thái độ phục vụ của người bán lẻ của các chuỗi chưa được
người tiêu dùng đánh giá cao. Thái độ phục vụ của người bán lẻ chuỗi
cá cơm 2 thấp nhất, chỉ đạt 2,83 điểm, thái độ giải quyết khi có vước
mắc chỉ đạt 2,71 điểm; chuỗi tôm 1 được đánh giá cao.
3.4.2. Tính linh hoạt của chuỗi
3.4.2.1. Thời gian đáp ứng
Thời gian đáp ứng của chuỗi là thời gian từ lúc sản xuất cho đến
khi phân phối, giao sản phẩm tới tay người tiêu dùng. Chuỗi cá cơm 2
có ưu thế nhất, vòng thời gian trung bình (6,05 ngày) và vòng thời
gian dao động ngắn nhất (5 – 8 ngày).
3.4.2.2. Chia sẻ thông tin của các tác nhân trong chuỗi
a) Mức độ trao đổi, chia sẻ thông tin
Mức độ trao đổi, chia sẻ thông tin của các tác nhân giữa các
chuỗi diễn ra ở mức thấp, điểm trung bình từ 3,04 - 3,64 điểm. Tỷ lệ

BMP, Chính vì vậy, sản phẩm của chuỗi khó có thể truy xuất được
nguồn gốc và việc tham gia vào thị trường xuất khẩu là rất khó khăn.
3.5. Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chuỗi giá trị thủy sản
của tỉnh Nghệ An
3.5.1. Nhân tố ảnh hưởng đến mối liên kết của các tác nhân
a) Thời gian tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tác
nhân
Các tác nhân có thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh trên 10
năm chiếm nhiều nhất 43,82%, trong đó có đến 52,60% tác nhân liên
kết ổn định. Các tác nhân thời gian hoạt động dưới 5 năm có mối liên
kết ổn định chỉ chiếm 15,82%. Như vậy, tác nhân tham gia hoạt động
sản xuất, kinh doanh lâu năm thì mối liên kết ổn định hơn.
b) Nhóm tổ chức sản xuất, kinh doanh
Hiện nay trong quá trình sản xuất và kinh doanh thủy sản, các
tác nhân đã hình thành các tổ chức như tổ hợp tác, hợp tác xã, câu lạc
bộ,… để liên kết với nhau. Tuy nhiên, các tác nhân tham gia còn rất ít,
chỉ có 145 tác nhân nuôi trồng và đánh bắt tham gia vào nhóm tổ chức,
chiếm 17,41% tổng số tác nhân.
3.5.2. Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của chuỗi
a) Công nghệ, kỹ thuật
Theo đánh giá, có đến 69,7% số tác nhân cho rằng, họ đang sử
dụng công nghệ, kỹ thuật ở mức trung bình. Có 23% số tác nhân cho
rằng, họ đang sử dụng ở mức kém và chỉ có 7,1% ở mức tiến tiến và
0,24% ở mức hiện đại.

18
b) Nguồn vốn
Qua điều tra khảo sát, 100% tác nhân tham gia chuỗi đều cho
rằng họ đang thiếu vốn và có nhu cầu vay vốn. Hiện tại, các tác nhân
chủ yếu là vay vốn từ các tổ chức phi chính thức, số tác nhân vay được


19
trường rất thuận lợi cho sự phát triển chuỗi giá trị thủy sản. ii) Ngư
dân rất có kinh nghiệm trong nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. ii)
Chính quyền địa phương Nghệ An đã xem nghề nuôi trồng thuỷ sản là
ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Bên cạnh những thuận lợi chung, hoạt động của các tác nhân
cũng có những điểm mạnh. Trong quá trình tạo lợi nhuận cho chuỗi thì
người bán buôn và người bán lẻ được hưởng phần lợi ích cao nhất,
người chế biến là người tạo ra VA cho chuỗi cao nhất. Chuỗi tôm 1,
các tác nhân trong chuỗi tham gia liên kết với nhau nhiều, điểm bán
hàng của người bán lẻ có vị trị đa số thuận tiện, thái độ phục vụ và giải
quyết cho khách hàng tốt. Chuỗi tôm 2, dòng luân chuyển ngắn, các
tác nhân thường xuyên gặp mặt trao đổi và chia sẻ thông tin với nhau,
chất lượng dinh dưỡng sản phẩm người tiêu dùng được đánh giá bảo
đảm. Chuỗi cá cơm 1, các tác nhân trong chuỗi có sự tin tưởng lẫn
nhau và mối liên kết giữa các tác nhân ổn định. Chuỗi cá cơm 2, chất
lượng dinh dưỡng, vệ sinh ATTP của chuỗi, người tiêu dùng đánh giá
được bảo đảm, thời gian đáp ứng nhanh.
3.5.2. Những hạn chế
Chuỗi GTTS Nghệ An vẫn còn phải đối mặt với một số hạn chế
như: i) Sự phân phối lợi ích trong các chuỗi nói chung chưa công
bằng. Hộ nuôi trồng và đánh bắt là tác nhân được hưởng phần lợi
nhuận chưa tương xứng với phần chi phí bỏ ra. Họ cũng là người chịu
rủi ro cao nhất. Đây là khâu yếu nhất của chuỗi; ii) Sản phẩm của
chuỗi nói chung chưa có thương hiệu; iii) Số tác nhân tin tưởng lẫn
nhau và liên kết với nhau ổn định trong chuỗi rất ít chỉ chiếm 26,65%
tổng số tác nhân.
Mặt khác, đối với tác nhân tham gia đang còn gặp một số khó
khăn lớn: i) Các tác nhân tham gia đa số chưa được đào tạo trình độ

- Phát triển chuỗi giá trị thủy sản hướng đến các chỉ tiêu phát
triển thủy sản của tỉnh Nghệ An
- Phát triển chuỗi giá trị thủy sản hướng đến việc nâng cao thu
nhập cho các tác nhân trong chuỗi, gắn bảo vệ môi trường sinh thái và
đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng biển đảo của Tổ quốc.
- Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản, hướng đến
thị trường xuất khẩu.
- Phát triển chuỗi GTTS phải dựa trên khai thác tối đa những cơ
hội mà quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại.
- Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước để phát triển chuỗi phải
tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng và phù hợp để chuỗi có thể nâng cao
khả năng cạnh tranh.

21
4.2. Giải pháp phát triển chuỗi giá trị thủy sản của tỉnh Nghệ An
1) Giải pháp chung: i) Tăng cường mối liên kết giữa các tác
nhân dọc theo chuỗi. Các tác nhân cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với
nhau bằng cách thành lập liên minh sản xuất. Tăng cường phát huy vai
trò các cấp quản lý trong việc sản xuất và tiêu thụ nông sản thông qua
hợp đồng bằng văn bản; ii) Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp chế
biến tham gia vào chuỗi, đặc biệt là vào chuỗi giá trị tôm. Hỗ trợ cơ sở
chế đã tham gia vào chuỗi nâng cấp, cải tiến công nghệ; iii) Xây dựng
thương hiệu sản phẩm thủy sản Nghệ An, phải bắt đầu từ chính các tác
nhân tham gia chuỗi và phải được thực hiện trong mọi khâu của chuỗi
từ sản xuất, chế biến, phân phối sản phẩm.
2) Giải pháp cho từng tác nhân: Đối với người nuôi cần thực
hiện giải pháp: i) Nâng cao trình độ cho người nuôi; ii) Nâng cao khả
năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng; iii) Nâng cao chất lượng sản phẩm;
iv) Liên kết các hộ nuôi nhỏ lẻ để tạo nên sức mạnh tập thể Đối với
người đánh bắt cần thực hiện giải pháp: i) Đổi mới công nghệ, kỹ thuật

làm cho chuỗi chưa thật sự bền vững.
- Về mặt kinh tế của chuỗi, sự phân phối lợi ích trong các chuỗi
GTTS của tỉnh Nghệ An chưa thực sự công bằng. Người nuôi và đánh
bắt là tác nhân đầu tiên tạo ra sản phẩm nhưng hưởng phần lợi nhuận
chưa tương xứng với phần chi phí bỏ ra. Người bán buôn và người bán
lẻ là người hưởng phần lợi ích nhiều nhất. Sự liên kết càng gần với
người tiêu dùng thì lợi ích của người nuôi và người đánh bắt càng
được nâng cao.
- Về hoạt động quản lý chuỗi: i) Khả năng đáp ứng về sản
phẩm, thương hiệu và dịch vụ của chuỗi, người tiêu dùng đánh giá chỉ
ở mức trung bình. Người tiêu dùng người tiêu dùng đánh giá thấp nhất
về chất lượng sản phẩm của chuỗi tôm 1 (2,52 điểm), chất lượng phục
vụ chuỗi cá cơm 2. 100% người tiêu dùng chưa biết đến nhãn hiệu sản
phẩm của chuỗi, các tác nhân chưa nhận thức đầy đủ về thương hiệu.
ii) Tính linh hoạt của chuỗi, thời gian đáp ứng của chuỗi cá cơm 2 có
ưu thế nhất. Tỷ lệ trao đổi chia sẻ thông của các tác nhân trong chuỗi
cá cơm 1 ít nhất nhưng mức độ tin tưởng nhau rất cao, ngược lại các
tác nhân chuỗi tôm 2 có mức độ trao đổi thường xuyên lớn nhất nhưng
độ tin tưởng nhau rất thấp (2,42 điểm). Địa điểm bán sản phẩm của
chuỗi tôm 1 được người tiêu dùng đánh giá rất thuận lợi; iii) Chất
lượng sản phẩm, từng khâu của chuỗi chưa có sản phẩm nào được cấp
các chứng chỉ GAP, HACCP, chuỗi chưa truy xuất được nguồn gốc.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chuỗi GTTS Nghệ An
bao gồm; i) Nhân tố ảnh hưởng đến mối liên kết của các tác nhân

23
(tác nhân có thời gian hoạt động sản xuất, kinh doanh lâu năm; tham
gia các tổ chức sản xuất, kinh doanh như tổ hợp tác, hợp tác xã thì
mối liên kết ổn định hơn); ii) Nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế chuỗi
(công nghệ, kỹ thuật áp dụng ở từng khâu của chuỗi áp dụng còn đơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status