PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển
những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Trong
các môn học ở tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có một vị trí vô cùng
PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN QUAN HOÁ
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÌM HIỂU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC PHÉP NHÂN VÀ PHÉP CHIA Ở LỚP 2
HỌ VÀ TÊN: LÊ THỊ HẢO
CHỨC VỤ: GIÁO VIÊN
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ SƠN - QUAN HOÁ
SKKN THUỘC MÔN: TOÁN- LỚP 2
Năm học: 2005 - 2006
quan trọng. Trong thời đại hiện nay việc Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá đất n-
ước đồng thời phải cải cách trong giáo dục là hoàn toàn phù hợp. Qua nghiên cứu
chương trình toán lớp 2, tôi thấy phù hợp theo quan điểm tích hợp, giảm nhẹ lý
luận tăng thực hành. Hình vẽ có tác dụng hỗ trợ cho bài học. Cung cấp kiến thức
cơ bản, chương trình đảm bảo tính khoa học, kế thừa lớp 1, logic về tư duy. Đảm
bảo tính vừa sức, học sinh tiếp nhận không khó khăn. So với chương trình 165
tuần thì ở lớp 2 chưa học đến phép nhân và phép chia mà đến lớp 3 các em mới đ-
ược học. Việc thay đổi một số nội dung chương trình toán lớp 2 có gì khó khăn
cho sự tiếp thu kiến thức học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên hay
không. Nhất là dạy về phép nhân và phép chia. Đó cũng là băn khoăn của của một
số giáo viên, phụ huynh học sinh. Chính vì vậy thôi thúc tôi thực hiện đề tài: “
Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học phép nhân và phép chia ở lớp 2”.
II. Mục đích nghiên cứu:
1. Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học phép nhân và phép chia ở lớp 2.
1. Cơ sở toán học.
Phép nhân 2 số tự nhiên được định nghĩa như là phép cộng các số hạng
bằng nhau với 2 số tự nhiên a,b đã cho phép cộng.
a + a + a +…….+ a
b số hạng
Được viết thành a x b và gọi là phép nhân a với b. Số a gọi là số bị nhân, số
b gọi là số nhân, số a và b gọi là thừa số, kết quả của phép nhân gọi là tích.
Cách trình bày định nghĩa của phép nhân như trên tuy không tuân theo sự
phát triển logic của khái niệm nhưng thuận lợi về mặt sư phạm. Vì nó phù hợp với
đặc điểm của quá trình nhận thức và vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh tiểu
học. Tuy nhiên định nghĩa của phép nhân như trên ta cần phải quy ước.
a
×
0 = 0 a
×
1 = a
Định nghĩa phép nhân như trên có nhược điểm là vai trò các thừa số không
bình đẳng và phép nhân chỉ như là phép tính thay thế phép cộng các số hạng bằng
nhau, chứ không phải là phép tính mới.
Để khắc phục các nhược điểm của định nghĩa phép nhân như trên ta có thể
định nghĩa phép nhân hai số tự nhiên a và b như sau:
Lấy tập hợp A có a phần tử, tập hợp B có b phần tử, lập tích Đề Car của 2
tập hợp đó, kí hiệu a
×
b =
{ }
byaxyx ∈∈ ,/,
Rồi đếm số phần tử của tập hợp a
×
b ta được kết quả của phép nhân
a:b, các số a và b cũng gọi là thừa số.
Phép chia có thể được định nghĩa thông qua phép nhân. Giả sử cho 2 số tự
nhiên a,b ; b
,0≠
a
≥
b.
Nếu có một số tự nhiên q sao cho a = q
×
b thì ta nói a chia hết cho b và kí
hiệu a:b = q. Theo định nghĩa thứ hai, phép chia được hiểu như là phép tính ngược
của phép nhân.
2. Cơ sở tâm lý học.
Ở học sinh tiểu học tâm lý lứa tuổi được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn
đầu cấp: Lớp 1,2,3 và giai đoạn cuối cấp: Lớp 4,5. Khả năng nhận thức của học
sinh tiểu học cũng được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn song song
với quá trình phát triển tâm lí. Tư duy của học sinh hình thành là từ tư duy cụ thể
đến tư duy trừu tượng. Từ những đặc điểm tâm lí đó, giáo viên cần phải dạy cho
học sinh biết tiếp nhận, biết phân tích, tổng hợp, so sánh và biết suy luận. Cần
hướng dẫn cho học sinh biết đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập của bản thân,
của bạn bè, tạo cho các em có niềm tin trong học tập. Dạy toán là một quá trình
quan trọng góp phần làm thay đổi nhân cách của học sinh, cung cấp cho các em
những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và dạy cho các em cách học. Từ đó các em ý thức
vươn lên và đào tạo các em thành thế hệ thông minh, năng động đáp ứng yêu cầu
của xã hội.
3. Cơ sở thực tiễn.
Trong dạy học toán giáo viên phải biết vận dụng các nguyên tắc cơ bản của
lí luận dạy học để xác định mục đích, yêu cầu và lựa chon phương pháp dạy học
phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh. Khi lựa chon các phương pháp dạy
học người giáo viên cần phải xác định được đặc điểm của mỗi phương pháp, phải
nhân. Nên như gặp bài toán như sau học sinh thường lúng túng.
Ví dụ: tính nhanh; 12 + 12 + 12 + 12
Vì giáo viên chưa khắc sâu nên nhiều học sinh làm tính nhẩm và viết ngay
kết quả bằng 48.
4.Cấu tạo trương trình.
1. Nội dung cơ bản của phép nhân và phép chia ở lớp 2 bao gồm.
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép nhân, lập phép nhân từ tổng các số
hạng bằng nhau. Giới thiệu thừa số và tích .
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép chia, lập phép chia từ phép nhân có
một thừa số chưa biết khi biết tích và thừa số kia. Giới thiệu số bị chia, số chia,
thương.
- Lập bảng nhân với 2,3,4,5 có tích không quá 50 .
- Lập bảng chia cho 2,3,4,5 có số bị chia không quá 50.
- Nhân 1 và chia cho 1.
- Nhân với 0, số bị chia là 0, không thể chia hết cho 0.
- Giới thiệu bước đầu về tính chất giao hoán của phép nhân, vai trò của số 1
trong phép nhân.
- Thực hành tính nhân, chia nhẩm trong phạm vi các bảng tính. Nhân số hai
chữ số với số có một chữ số (không nhớ). Chia số có hai chữ số cho số có một
chữ số, các bước trong phạm vi các bảng tính.
Tính giá trị của biểu thức số có đến hai dấu phép tính nhân, chia. Tìm số
còn thiếu trong phép nhân và phép chia.
Dạng 3
×
= 15 ; 15 : = 5
- Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị (có dạng
n
1
với n là các số tự
nhiên khác 0 và không vượt quá 5).
Giáo viên nhấn mạnh: Từ phép nhân 3
×
2 = 6 ta lập được phép chia
6 : 2 = 3
Tương tự như trên giáo viên nêu vấn đề: Có 6 ô chia thành mấy nhóm? Môĩ
nhóm có 3 ô? (2 nhóm).
Giáo viên hướng dẫn học sinh cắt mảnh bìa 6 ô thành 2 nhóm, mỗi nhóm có
3 ô. Giáo viên nêu: Ta có phép chia biểu thị số nhóm, mỗi nhóm có 3 ô.
Viết là: 6 : 2 = 3 Hoặc 6 3
2
Giáo viên nhấn mạnh:
Từ phép nhân 3
×
2 = 6 ta còn lập được phép chia: 6 : 3 = 2.
Giới thiệu mối quan hệ giữa phép nhân và phép chia.
Giáo viên nêu từ một phép nhân ta lập được hai phép chia.
6 : 2 = 3
3
×
2 = 6
6 : 3 = 2
- Lập bảng nhân với 2,3,4,5 có tích không quá 50 bằng phương pháp trực
quan. Các tấm bìa có vẽ: 2 chấm tròn, 3 chấm tròn, 4 chấm tròn và 5 chấm tròn.
Lấy 1 lần để được các phép nhân:
2
×
1 = 2 4
×
1 = 4
10 = 20 3
×
10 = 30
4
×
10 = 40 5
×
10 = 50
- Lập bảng chia cho 2,3,4,5 có số bị chia không quá 50. Được xây dựng
bằng phương pháp trực quan những nhóm 2 chấm tròn, 3 chấm tròn, 4 chấm tròn,
5 chấm tròn hoặc từng cặp 2 que tính, 3 que tính, 4 que tính, 5 que tính.
* Giới thiệu phép chia từ phép nhân.
Ví dụ:
a) Nêu tình huống lập phép nhân 2.
Có 4 nhóm, mỗi nhóm có 2 chấm tròn. Hỏi tất cã có mấy chấm tròn. (2
×
2 = 4)
b) Nêu tình huống lập phép chia 2.
Có 8 chấm tròn xếp thành mấy nhóm, mỗi nhóm có 2 chấm tròn? (Có 4 chấm
tròn)
Có phép chia: 8 : 2 = 4
c) Từ phép nhân 2
×
4 = 8 ta lập được phép chia 2 là: 8 : 2 = 4
* Nhân với 1 và chia cho 1.
a) Giới thiệu phép nhân có thừa số 1
Giáo viên nêu vấn đề: 1 + 1 =
1 + 1 + 1 =
Yêu cầu học sinh chuyển tổng các số thành 1 phép nhân. Học sinh rút ra kết
luận: Số 1 nhân với số nào cũng bằng chính số đó.
Đồng thời: 0
×
2 = 2
×
0 = 0
Học sinh nhận xét: 0 nhân với 2 bằng 0; 2 nhân 0 cũng bằng 0. Tiến hành
0 + 0 + 0 + 0 + 0 = 0
×
5 = 5
×
0 = 0
Tương tự như trên. học sinh nhận xét: 0 nhân 5 bằng 0, 5 nhân 0 cũng bằng 0
0
×
5 = 0
5
×
0 = 0
Kết luận chung: Số 0 nhân với số nào cũng bằng 0.
Số nào nhân với 0 cũng bằng 0.
b) Giới thiệu phép chia có số bị chia là 0.
Giáo viên nêu vấn đề: 0
×
2 = 0
Ta có: 0 : 2 = 0
Học sinh nhắc lại: Lấy tích chia cho thừa số này thì được thừa số kia.
Giáo viên hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề.
Từ 0
×
2 = 0 mà có 0 : 2 = 0
3 = ?
Yêu cầu học sinh tìm cách tính này.
Học sinh nêu cách tìm: 12 + 12 + 12 = 36.
Vậy 12
×
3 = 36.
Đặt tính rồi tính
12
×
3 +) 3 nhân 2 bằng 6, viết 6
36 +) 3 nhân 1 bằng 3, viết 3.
Giáo viên xoá dần kết quả, cho 1 vài học sinh lặp lại quá trình tính.
- Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị (có dạng
n
1
với n là các số tự
nhiên khác 0 và không vượt quá 5).
Xây dựng loại bài này dựa vào mô hình trực quan là các mảnh giấy bìa
hoặc bìa hình vuông.
Ví dụ khi dạy bài: “ Một phần hai”.
Giáo viên hướng dẫn học sinh gấp đôi tờ giấy hình vuông (Theo cạnh hoặc đường
chéo) để được 2 phần bằng nhau.
Cắt đôi tờ giấy theo nếp gấp đó rồi lấy 1 phần. Phần này được gọi là một
phần hai hình vuông.
Ghi lại một phần hai đã lấy
2
1
(1 gạch ngang 2)
Đọc là một phần hai hoặc một nửa.
Giáo viên nhấn mạnh chia hình vuông thành hai phần bằng nhau rồi lấy 1
giỏi chưa bộc lộ, phát huy chưa hết năng lực sở trường. Học sinh yếu dễ bị hổng
kiến thức, không chủ động học tập còn ỷ lại vào sự hướng dẫn của thầy, cô giáo.
Chẳng hạn khi gặp những dạng bài tập hơi khó, giáo viên không hướng dẫn cách
làm mà bảo học sinh làm cho đỡ mất thời gian.
- Khi dạy giáo viên ít quan tâm, chú ý đến cung cấp khó khăn khi làm
những bài cần có sự lí luận giải thích.
- Khi dạy giáo viên vận dụng phương pháp mới một cách dập khuôn, máy
móc, chưa có sáng tạo, linh hoạt trong dạy học.
- Giáo viên chú ý cần rèn luyện cho học sinh cách trình bày bài làm một
cách khoa học.
- Giáo viên chưa quan tâm đến các đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh
yếu, giáo viên thường bỏ qua vì sợ cháy giáo án.
- Việc sử dụng đồ dùng trực quan và phương tiện dạy học của giáo viên còn
sơ sài, máy móc, làm theo sách giáo hoặc dạy chay.
2. Về phía học sinh.
- Khi làm bài chưa có sự độc lập, sáng tạo, còn phụ thuộc vào bài làm mẫu
của giáo viên.
- Khi làm bài không đọc kỹ yêu cầu của đề. Thấy hơi khó là bỏ ngay.
- Chưa thực sự chăm lo, lười suy nghĩ, chưa tự giác học tập.
Chương III: Giải pháp
1. Mục đích dạy thử nghiệm.
Thông qua 2 tiết dạy thử nghiệm tôi muốn làm rõ các vấn đề sau:
- Giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học “ Lấy học sinh làm trung
tâm”. Giáo viên là người hướng dẫn và tổ chức học sinh tự tìm tòi ra kiến thức
mới.
- Giáo viên lựa chọn phương pháp dạy học hợp lý nhằm đạt hiệu quả cao
nhất khi dạy kiến thức về phép nhân và phép chia ở lớp 2.
2. Nội dung thử nghiệm.
Tôi đã chọn 2 lớp : 2B lớp thử nghiệm.
2C lớp đối chứng.
6 = 4
×
4 =
4
×
8 = 4
×
7 =
Câu 2: Tính (3 điểm)
4
×
2 + 12 =
4
×
8 + 10 =
4
×
10 + 60 =
Câu 3: (4 điểm) Mỗi học sinh được mượn 4 quyển sách. Hỏi 9 học sinh được
mượn bao nhiêu quyển sách?
Đề 2: Thời gian 20 phút.
Sau khi học xong bài: Luyện tập chung
Câu 1: Tính nhẩm (3 điểm)
2
×
3 = 25 : 5 =
18 : 2 = 6
×
1 =
5
×
8 + 10 = 32 + 10 = 42
4
×
10 + 60 = 40 + 60 = 100
Câu 3: Bài giải
9 học sinh được mượn số sách là:
4
×
9 = 36 (quyển)
Đáp số: 36 quyển
Đáp án: Đề 2.
Câu 1: Tính nhẩm (3 điểm)
2
×
3 = 6 25 : 5 = 5
18 : 2 = 9 6
×
1 = 6
5
×
4 = 20 0 : 9 = 0
Câu 2: Tìm x (3 điểm)
x
×
2 = 12 x : 3 = 9
x = 12 : 2 x = 9
×
3
x = 6 x = 27
1 = 1
0 : 9 = 9
Ở bài 2: Biết làm nhưng trình bày bài chưa đẹp. Dấu “ =” viết chưa thẳng hàng.
Ví dụ như: x
×
2 = 12
x = 12 : 2
x = 6
Ở bài 3: Các em còn lẫn lộn giữa đơn vị tính nhóm và học sinh.
Có học sinh làm: Mỗi nhóm có số học sinh là:
16 : 4 = 4 (Nhóm)
Đáp số: 4 nhóm.
Qua 2 tiết dạy thử nghiệm tôi đã được đồng nghiệp đánh giá, nhận xét:
- Giáo viên đã nghiên cứu kĩ bài dạy, chuẩn bị bài chu đáo.
- Có đổi mới phương pháp giảng dạy, sáng tạo linh hoạt. Vận dụng các
phương pháp phát huy tính độc lập, tự giác của học sinh. Đặc biệt là mọi học sinh
được hoạt động.
- Giáo viên đã khắc sâu kiến thức cơ bản, trọng tâm bài học được nổi bật.
Lớp học sôi nổi, sinh động.
PHẦN III: KẾT LUẬN
1. Kết Luận.
Chương trình toán lớp 1 là một bộ phận của chương trình môn toán tiểu học
và là sự tiếp tục của chương trình toán lớp 1. Chương trình này kế thừa và phát
triển những thành tựu về dạy học toán lớp 2 ở nước ta. Thực hiện những đổi mới
về cấu trúc nội dung để tăng cường thực hành và ứng dụng kiến thức mới quan
tâm đúng mức đến đổi mới phương pháp daỵ học nhằm giúp cho học sinh hoạt
động học tập tích cực, linh hoạt, sáng tạo theo năng lực của từng học sinh. Tìm
hiểu nội dung và phương pháp dạy phép nhân, phép chia ở lớp 2 cũng là bước đầu
giúp cho học sinh có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép nhân,
phép chia và bảng nhân, bảng chia (cho) 2, 3, 4, 5 tên gọi và mối quan hệ giữa
sinh nhận ra rằng học không chỉ để biết mà học còn để làm, để vận dụng. Khi dạy
thực hành luyện tập cần chú ý:
- Giúp mọi học sinh đều tham gia vào hoạt động thực hành luyện tập theo
khả năng của mình.
- Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ nhau giữa các đối tượng học sinh.
- Khuyến khích học sinh tự đánh giá kết quả thực hành luyện tập.
- Giúp cho học sinh nhận ra kiến thức của bài học trong sự đa dạng và
phong phú của các bài thực hành luyện tập.
- Tập cho học sinh thói quen không thoả mãn với bài làm của mình với
cách giải đã có sẵn.
- Soạn bài của giáo viên chính là lập kế hoạch để tổ chức, hướng dẫn học
sinh hoạt động học tập tích cực nhằm đạt các mục tiêu dạy học một bài học, bài
luyện tập cụ thể của bài toán 2.
- Bài soạn của giáo viên nên gọn, sáng sủa, nêu rõ các hoạt động dạy học cụ
thể, dễ sử dụng, dễ bổ sung, dễ điều chỉnh.
PHẦN IV: TÀI LIỆU, TƯ LIỆU THAM KHẢO.
1. Dạy học môn toán ở bậc tiểu học. Tác giả Nguyễn Phụ Huy - Nhà xuất bản đại
học quốc gia Hà Nội năm 2000.
2. Toán 2 - Tác giả Đỗ Đình Hoan (chủ biên), Nguyễn Áng, Đỗ Tiến Đạt, Đào
Thái Lai, Đỗ Trung Hiệu - Nhà xuất bản giáo dục năm 2003.
3. Sách giáo viên toán 2. Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên) Nguyễn Áng, Đào
Thái Lai, Đỗ Trung Hiệu - Nhà xuất bản giáo dục năm 2003.
4. Thiết kế bài giảng toán tập 1,2. Tác giả Nguyễn Tuấn (chủ biên). Nhà xuất bản
Ha Nội năm 2003.
5. Các tạp chí giáo dục, thế giới trong ta.