B
ÊN
HOÀNG ANH TU
TH ÀNH VI V
C Ã
T ÊN VÀ TH MÔ HÌNH CAN THI Chuyên ngành: V Ã H À T
Mã s 62.72.01.64 TÓM T LU
THÁI NGUYÊN -
DANH M CÁC CÔNG TRÌNH CÓ
1. Hoàng Anh Tu àm Kh àn, Nguy
(2014), "Th ành v
xã
Nguyên", T Khoa h à Công ngh ên san Nông-Sinh-
Y ên, t -10.
2. Hoàng Anh Tu àm Kh àn, Nguy
(2014), "M ành vi v ng
c ã ên", T
chí Y h ành, (7; 925), tr. 149-152.
3. Hoàng Anh Tu àm Kh àn, Nguy
(2014), "Hi
t ã a huy õ Nhai, t
Nguyên", T ành, (7; 924), tr. 58-61.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Miền núi phía Bắc nước ta là khu vực sinh sống chủ yếu của
đồng bào dân tộc ít người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
như: dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Mông Đây là những
vùng giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí thấp còn tồn tại
nhiều phong tục tập quán lạc hậu, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm
môi trường do chính con người gây ra. Tỷ lệ hộ gia đình có nước
sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh rất thấp, nguyên nhân chủ yếu là hành vi
vệ sinh môi trường (VSMT) còn chưa tốt. Người Dao sống chủ yếu ở
3. Mô hình "Truyền thông thay đổi hành vi vệ sinh môi trường cho
người Dao xã Vũ Chấn" đã huy động được nguồn lực của cộng
đồng, những nguời Dao có uy tín tham gia TT-GDSK cải thiện
được hành vi VSMT cho người Dao. Mô hình nghiên cứu được
lồng ghép vào Ban chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) của
xã, chức năng, nhiệm vụ được phân công cụ thể, rõ ràng với vai
trò nòng cốt là Mặt trận Tổ quốc. Đây là cơ sở để mô hình phát
triển bền vững, có tính khả thi.
CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Phần chính của luận án dài 120 trang, bao gồm các phần sau:
Đặt vấn đề: 2 trang
Chương 1 - Tổng quan: 28 trang
Chương 2- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 17 trang
Chương 3 - Kết quả nghiên cứu: 39 trang
Chương 4 - Bàn luận: 32 trang
Kết luận và kiến nghị: 2 trang
Luận án có 126 tài liệu tham khảo, trong đó có 82 tài liệu tiếng
Việt và 44 tài liệu tiếng Anh. Luận án có 24 bảng kết quả định lượng,
5 biểu đồ, 4 sơ đồ, 1 hình và 5 hộp kết quả định tính. Phần phụ lục
gồm 7 phụ lục dài 25 trang.
3 Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Thực trạng hành vi VSMT của người Dao ở Việt Nam
Theo định nghĩa của WHO “Hành vi của con người là một tập
hợp phức tạp của nhiều hành động, mà những hành động này lại chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan cũng
như khách quan”.
50,4% số hộ được điều tra, nhưng tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh rất
thấp, chỉ 5,8%. Trong đó chỉ có 5,1% là nhà tiêu hai ngăn, 0,3% là
nhà tiêu tự hoại, 0,3% là nhà tiêu thấm dội nước. Những hộ gia đình
người Dao không có nhà tiêu đều đi ngoài ra vườn và rừng (85,5%),
đi nhờ nhà người khác (4,5%) hoặc đi vào chuồng gia súc (10%). Lý
do giải thích cho việc không xây dựng nhà tiêu của người Dao cũng
giống như các dân tộc thiểu số khác chủ yếu là "không có tiền"
(76,9%); một số "không cần" (21,3%) và "không thích" (1,2%).
1.2. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của người Dao
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Dao ở
Việt Nam có dân số 751.067 người, chiếm 0,87% dân số cả nước,
đứng hàng thứ 9 nhóm dân tộc, đông thứ 2 trong các nước có người
Dao, cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Dao (các
tên gọi khác: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn
Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu v.v). Người
Dao thường sống nơi thung lũng, đồi thấp hoặc quanh chân núi, dọc
khe suối, nơi đầu nguồn nước. Họ sống thành từng cụm, từng bản
nhỏ riêng và tụ tập xung quanh người có thần quyền, với những nét
riêng về phong tục tập quán mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang
phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo
Dài, Dao Quần Trắng, Mặc dù, họ có nhiều nhóm người khác nhau
như vậy nhưng ngôn ngữ của họ là thống nhất để đảm bảo mối quan
hệ gắn kết giữa các cộng đồng người Dao với nhau. Các nhóm Dao
có tương đồng về phong tục, tập quán, hình thái kinh tế, tín ngưỡng.
1.3. Một số mô hình TT-GDSK thay đổi hành vi VSMT
* Mô hình nhân viên y tế cộng đồng ở Zimbabue: Nhân viên y tế
5
6 Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hộ gia đình người Dao (cả vợ và chồng đều là người Dao),
sống tại bản người Dao, không xen kẽ các dân tộc khác.
- Cán bộ trạm y tế xã, nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB), cộng
tác viên (CTV) dân số, dinh dưỡng xóm bản.
- Cán bộ chính quyền và các ban ngành, đoàn thể ở xã, xóm bản.
- Giáo viên và học sinh tiểu học tại các xóm bản.
- Sinh viên Trường Cao đẳng Y tế và Trường Đại học Y Dược
Thái Nguyên.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Tại 4 xã người Dao đặc biệt khó khăn của tỉnh Thái Nguyên là:
xã Liên Minh, Vũ Chấn, Phương Giao huyện Võ Nhai và Cây Thị
huyện Đồng Hỷ.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 7/2011 đến tháng 7/2014, thời gian can thiệp 18 tháng
từ tháng 8/2011 đến tháng 4/2013.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp
trước sau có đối chứng, kết hợp định lượng và định tính.
2.4.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.2.1. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu cắt ngang
* Cỡ mẫu: cỡ mẫu ước tính dựa trên tỷ lệ người Dao có hành vi
sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh (HVS) theo kết quả nghiên cứu trước là
0,25, mức tin cậy 95% và d = 0,03.
2
2211
2
)(
)(
pp
qpqp
Zn
Thay vào công thức tính được n = 203, lấy tròn là 210 người/xã.
* Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn chủ đích xã Vũ Chấn (huyện Võ
Nhai) để can thiệp và chọn 1 xã tương đồng về điều kiện địa lý, kinh
tế xã hội và y tế trong số các xã đặc biệt khó khăn đã mô tả qua
nghiên cứu cắt ngang trước đó để làm đối chứng. Kết quả chọn được
xã Liên Minh (huyện Võ Nhai). Can thiệp được tiến hành trên toàn
bộ hộ gia đình người Dao sống tập trung tại 5 bản của xã Vũ Chấn:
Khe Nọi, Khe Cái, Cao Sơn, Khe Rịa và Khe Rạc. Các đối tượng
được lựa chọn để đánh giá sau can thiệp bằng phương pháp ngẫu
nhiên tương tự như chọn mẫu trong nghiên cứu mô tả cắt ngang
trước can thiệp.
2.4.2.3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu xét nghiệm trứng giun đũa
trong đất
* Cỡ mẫu: cỡ mẫu ước tính dựa trên mật độ trứng giun đũa
trung bình trong 1kg đất theo nghiên cứu trước (
1
) là 145 trứng
giun/kg đất và mong muốn giảm xuống còn 115 trứng giun/kg đất
tiêu. Mẫu xét nghiệm trứng giun đũa trong đất được thực hiện tại 2
xã Vũ Chấn (can thiệp) và Liên Minh (đối chứng) tại 2 thời điểm
trước và sau can thiệp.
2.4.2.4. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính:
- Thảo luận nhóm: Mỗi xã tiến hành 02 cuộc thảo luận vào 2
thời điểm trước và sau can thiệp với nhóm lãnh đạo cộng đồng và
nhóm người dân đại diện cho cộng đồng người Dao.
- Phỏng vấn sâu: 5 người Dao có uy tín trong các bản.
2.4.3. Nội dung can thiệp
2.4.3.1. Phương pháp xây dựng mô hình can thiệp
Bước 1: Xác định nội dung cần huy động để giải quyết vấn đề
hành vi VSMT.
Bước 2: Tìm hiểu vấn đề và thu thập số liệu.
Bước 3: Xây dựng mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể để huy động
cộng đồng cải thiện hành vi VSMT ưu tiên.
Bước 4: Xác định các giải pháp và hoạt động cụ thể thực hiện
mô hình.
Bước 5: Xây dựng các công cụ theo dõi/giám sát và đánh giá để
đo lường kết quả các hoạt động của mô hình nghiên cứu.
2.4.3.2. Mô hình can thiệp
Tên mô hình nghiên cứu là: Mô hình truyền thông thay đổi hành
vi vệ sinh môi trường cho người Dao tại xã Vũ Chấn
- Giải pháp can thiệp chính là huy động cộng đồng tham gia vào
cải thiện hành vi VSMT, gồm các hoạt động sau:
9 - Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện mô hình.
- Tập huấn cho các thành viên tham gia mô hình về truyền thông
- Thái độ VSMT: Đạt (≥ 50%), chưa đạt (< 50%) số điểm.
2.4.4.3. Nhóm chỉ số đánh giá kết quả mô hình TT-GDSK về VSMT
- Kết quả hoạt động của mô hình: số lượng tổ chức đoàn thể được
huy động tham gia TT-GDSK, số buổi truyền thông, số lượt người được
truyền thông về VSMT, số buổi giám sát, số buổi tập huấn
- Sự thay đổi kiến thức, thái độ và hành vi VSMT của người
Dao trước và sau can thiệp.
- Sự thay đổi về ô nhiễm trứng giun đũa trong đất ở các hộ gia đình
người Dao. Số trứng giun đũa/kg đất: < 100 là đất sạch, >100 đất bẩn.
- Đánh giá kết quả bằng chỉ số hiệu quả (CSHQ) và hiệu quả
can thiệp (HQCT).
2.5. Phương pháp thu thập thông tin
- Phỏng vấn trực tiếp chủ hộ gia đình theo mẫu phiếu điều tra
in sẵn.
- Điều tra viên quan sát điều kiện VSMT tại các hộ gia đình và
đánh giá bằng bảng kiểm VSMT.
- Xét nghiệm trứng giun đũa trong đất: theo phương pháp Đặng
Văn Ngữ cải tiến. Mỗi mẫu lấy 10g đất làm xét nghiệm để tìm, đếm số
lượng trứng giun đũa trong một mẫu đất (3 trứng giun = 1+).
- Phỏng vấn sâu: người có uy tín trong các bản thuần người Dao
như già làng, trưởng bản.
- Thảo luận nhóm trọng tâm: với lãnh đạo cộng đồng, nhóm
người dân đại diện cho cộng đồng người Dao.
- Số liệu được xử lý trên chương trình SPSS 18.0 bằng phương
pháp thống kê mô tả và phân tích. Mối liên quan được đo lường bằng
chỉ số Prevalence Ratio (PR), mức ý nghĩa thống kê p < 0,05 của kiểm
định
2
.
đình người Dao có nước sạch còn thấp, mới đạt 46,3%. Nước thải
sinh hoạt phần lớn chảy trực tiếp ra ruộng vườn hoặc ao hồ, mới chỉ
có 17,4% số hộ có hố chứa nước thải.
Bảng 3.3. Thực trạng hành vi sử dụng nhà tiêu của các hộ gia đình
người Dao 4 xã nghiên cứu
Hành vi quản lý phân người
Số lượng
(n = 840)
T
ỷ lệ
(%)
Số hộ có nhà tiêu 247 29,4
12 Số hộ không có nhà tiêu 593 70,6
Số hộ có nhà tiêu tự hoại 17 2,0
Số hộ có nhà tiêu thấm dội nước 5 0,6
Số hộ có nhà tiêu 1 ngăn 98 11,7
Số hộ có nhà tiêu 2 ngăn 96 11,4
Số hộ có nhà tiêu đào/chìm 22 2,6
Số hộ có nhà tiêu khác (thùng, cầu…) 9 1,1
Số hộ phóng uế ra rừng, ruộng, vườn 572 68,1
Số hộ đi đại tiện nhờ hàng xóm 21 2,5
Số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh 140 16,7
Số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh sử dụng đúng 42 5,0
Nhận xét: Tỷ lệ hộ gia đình người Dao có nhà tiêu thấp
(29,4%). Đa số người Dao phóng uế bừa bãi ra môi trường xung
quanh như rừng, ruộng, vườn (68,1%), đi nhờ hàng xóm (2,5%).
295 35,1
Số hộ có hố ủ chất thải gia súc, gia cầm hợp
vệ sinh
13 1,6
Nhận xét: Hầu hết (93,0%) hộ gia đình người Dao đều chăn
nuôi gia súc, gia cầm. Tuy nhiên có tới 27,3% số hộ nuôi gia súc, gia
cầm thả rông, chỉ có 11,4% hộ gia đình có chuồng chăn nuôi gia súc,
gia cầm cách xa nguồn nước, nhà ở đảm bảo vệ sinh. Chất thải của
gia súc, gia cầm không được xử lý, để bữa bãi chiếm tỷ lệ cao
(56,3%), tỷ lệ hộ gia đình có hố ủ chất thải gia súc, gia cầm hợp vệ
sinh thấp (1,6%).
Bảng 3.5. Thực trạng hành vi sử dụng phân bón ruộng và hoa mầu
của các hộ gia đình người Dao 4 xã nghiên cứu
Hành vi sử dụng phân bón
Số lượng
(n=840)
Tỷ lệ
(%)
Số hộ có sử dụng phân bón ruộng 758 90,2
Số hộ có sử dụng phân hóa học 517 61,5
Số hộ có sử dụng phân người 76 9,1
Số hộ có sử dụng phân gia súc 527 62,7
Số hộ sử dụng phân tươi 382 45,5
Số hộ sử dụng phân ủ 144 17,1
Số hộ ủ phân < 3 tháng 74 8,8
Số hộ ủ phân 3- 6 tháng 62 7,4
Số hộ ủ phân > 6 tháng 8 1,0
Nhận xét: 90,2% hộ gia đình người Dao thường xuyên sử dụng
phân bón ruộng và hoa màu, loại phân sử dụng nhiều nhất là phân
gia súc (62,7%), ít nhất là phân người (9,1%). Vẫn còn tình trạng sử
15
Biểu đồ 3.1. Đánh giá hành vi vệ sinh môi trường của người Dao
tại 4 xã nghiên cứu
Nhận xét: Tỷ lệ người Dao có hành vi đúng về VSMT còn rất
thấp, chỉ đạt 3,3%. Thấp nhất là hành vi quản lý và sử dụng phân gia
súc (0,1%) và phân người (4,0%).
3.2. Một số yếu tố liên quan đến hành vi vệ sinh môi trường của
người Dao
Kết quả bảng 3.7 đến bảng 3.11 cho thấy có một số yếu tố liên
quan như trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, kiến thức, thái độ về
VSMT (PR>1 p<0,05). Tỷ lệ hộ nghèo không sử dụng nhà tiêu cao
gấp 1,3 lần và nước sạch cao gấp 1,44 lần hộ không nghèo (PR>1).
Những người có thái độ chưa đạt về VSMT có tỷ lệ không xử lý
phân gia súc, gia cầm cao gấp 1,45 lần những người có thái độ đạt về
VSMT (p<0,001). Đặc biệt những người Dao có kiến thức chưa đạt
có hành vi sử dụng phân tươi gấp 1,5 lần người có kiến thức đạt.
Bảng 3.12. Một số yếu tố liên quan đến hành vi chung về VSMT
của người Dao
Yếu tố liên quan
Hành vi chung về VSMTPR
(CI 95%)
p
Chưa đạt Đạt
(1,05-1,14)
<0,001
Đạt 218 90,5 23 9,5
Thái độ về VSMT
Chưa đạt 458 99,3 3 0,7 1,09
(1,05-1,13)
<0,001
Đạt 354 93,4 25 6,6
Nhận xét: Các yếu tố trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, đặc biệt là
kiến thức, thái độ của người Dao về VSMT có liên quan chặt chẽ đến
hành vi chung về VSMT của người Dao (PR > 1; p <0,001).
3.3. Kết quả xây dựng và thử nghiệm mô hình Truyền thông thay
đổi hành vi vệ sinh môi trường cho người Dao xã Vũ Chấn
3.3.1. Tiến hành xây dựng mô hình can thiệp
* Tên mô hình: Truyền thông thay đổi hành vi vệ sinh môi
trường cho người Dao xã Vũ Chấn.
* Tổ chức thực hiện
- Thành lập Ban chỉ đạo VSMT, trong đó Mặt trận Tổ quốc là
nòng cốt.
- Tổ chức phát thanh trên loa truyền thanh xã mỗi tháng 1 - 2 lần
- Tổ chức nói chuyện VSMT tại các bản người Dao mỗi tháng 1
lần lồng ghép với các cuộc họp bản.
17
Khá, giỏi 12 30,0 36 90,0
<0,05
Trung bình 15 37,5 2 5,0
Yếu 13 32,5 2 5,0
Tổng cộng 40 100,0 40 100,0
Nhận xét: Sau đợt tập huấn, kiến thức của học viên về VSMT
tăng lên rõ rệt, đặc biệt nhất là mức độ khá, giỏi (từ 30% tăng lên
90%, p < 0,05).
18 Bảng 3.15. Kết quả hoạt động truyền thông VSMT của các
thành viên tham gia mô hình nghiên cứu
Chỉ số TT-GDSK
Các tổ chức thực hiện
Số buổi
truyền thông
qua cuộc họp
Số buổi tư
vấn tại hộ
gia đình
Số lượt
người
nghe
Các ban ngành, đoàn thể xã 76 130 1.210
SL TL%
SL TL%
Kiến thức
đạt
Xã CT
61 29,0 115 54,8 25,8
<0,05
Xã ĐC
59 28,1 65 31,0 2,9
>0,05
p
>0,05 <0,05 19 Thái độ đạt
Xã CT 94 44,8 167 79,5 34,7 <0,05
Xã ĐC 95 45,2 98 46,7 1,5 >0,05
p >0,05 <0,05
Thực hành
đạt
Xã CT 8 3,8 18 8,6 4,8 <0,05
Xã ĐC 7 3,3 9 4,3 1,0 >0,05
p >0,05 <0,05
Nhận xét: Ở xã can thiệp, kiến thức về VSMT của người Dao
tăng 25,8%, thái độ tăng 34,7%, thực hành tăng 4,8% so với trước
trong nhà
Xã CT 35 35,0 22 22,0 <0,05
Xã ĐC 37 37,0 36 36,0 >0,05
20 p >0,05 <0,05
Mẫu đất ở
ngoài sân
Xã CT 45 45,0 30 30,0 <0,05
Xã ĐC 47 47,0 45 45,0 >0,05
p >0,05 <0,05
Mẫu đất trên
đường ra nhà
tiêu
Xã CT 60 60,0 51 51,0 >0,05
Xã ĐC 58 58,0 56 56,0 >0,05
p >0,05 <0,05
Mẫu đất xung
quanh nhà tiêu
Xã CT 9/14 64,3 38/99 38,4 >0,05
Xã ĐC 31/51 60,8 42/81 51,9 >0,05
p >0,05 <0,05
Tổng cộng
Xã CT 149/314 47,5 141/399 35,3 <0,05
Xã ĐC 173/351 49,3 179/381 47,0 >0,05
p >0,05 <0,05
Nhận xét: Sau can thiệp, các mẫu đất có trứng giun đều giảm ở
tất cả các vị trí, chỉ còn 22% mẫu đất trong nhà có trứng giun, tỷ lệ
kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh (2004) tại huyện Ba Bể,
tỉnh Bắc Kạn với tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước sạch là 24,7%, cũng
cao hơn kết quả nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn (2004) và cộng sự tại
hai xã Tân Long và Văn Lăng (Đồng Hỷ) là 20,4%, nhưng so với tỷ lệ
chung toàn quốc (63% số hộ sử dụng nước sạch) thì tỷ lệ sử dụng
nước sạch trong nghiên cứu này còn thấp hơn nhiều.
4.1.2. Hành vi xây dựng và sử dụng nhà tiêu
Tại Việt Nam, từ những năm 60, Bộ Y tế đã phát động nhiều
chương trình vệ sinh trong đó có việc xây dựng nhà tiêu để quản lý
phân người như phong trào 3 dứt điểm, phong trào 5 dứt điểm…đã
làm cho tỷ lệ có nhà tiêu hộ gia đình tăng đáng kể. Tuy nhiên trải qua
thời gian các tiêu chí nhà tiêu có nhiều thay đổi, yêu cầu về vệ sinh
ngày càng cao vì vậy tỷ lệ nhà tiêu hộ gia đình đạt các tiêu chí hợp
vệ sinh còn thấp, đặc biệt là vùng sâu, vùng cao, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chỉ có 29,4% số hộ
có nhà tiêu. Tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh là 16,7%. So sánh với
nghiên cứu của Trịnh Hữu Vách (2006) tại 82 xã, thị trấn của hai tỉnh
Quảng Bình và Thừa Thiên - Huế là hai tỉnh cũng còn có nhiều khó
khăn vào năm 2004 cho thấy: Tỷ lệ số hộ có nhà tiêu là 73,7%, số hộ
có nhà tiêu HVS là 33,7% thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi về 2
22 chỉ số này thấp hơn rất nhiều. Nếu so với kết quả tổng điều tra về
nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006 với tỷ lệ số hộ có nhà
tiêu là 88,8% và nhà tiêu HVS là 47%, trong đó, đối với khu vực
vùng cao thì tỷ lệ không có nhà tiêu cũng chỉ là 28,63% thì tỷ lệ hộ
gia đình người Dao có nhà tiêu và có nhà tiêu HVS tại xã Vũ Chấn
trong nghiên cứu này thấp hơn rất nhiều.