ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trần Thị Hữu
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VỆ SINH MÔI TRƢỜNG
HỘ GIA ĐÌNH TẠI MỘT SỐ XÃ TỈNH KON TUM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội, 2011 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Trần Thị Hữu
1.3. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ PHÂN NGƢỜI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN NGƢỜI LÊN
MÔI TRƢỜNG VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM 18
1.4. CÁC CHÍNH SÁCH VỀ NƢỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƢỜNG NÔNG THÔN
Ở VIỆT NAM 21
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 24
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu 24
2.1.2. Thời gian nghiên cứu 24
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu 24
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 24
2.2.2. Cỡ mẫu và phƣơng pháp chọn mẫu 25
2.2.3. Phƣơng pháp thu thập số liệu 26
2.2.4. Phƣơng pháp phân tích số liệu 28
2.3. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ 29
2.3.1. Các khái niệm 29
2.3.2. Các tiêu chuẩn đánh giá 30 2.4. CÁC BIỆN PHÁP KHỐNG CHẾ SAI SỐ 30
2.5. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 30
2.6. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 31
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 32
3.1. THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 32
3.2. THỰC TRẠNG NGUỒN CUNG CẤP NƢỚC VÀ SỬ DỤNG NƢỚC SINH HOẠT
TẠI HỘ GIA ĐÌNH 35
3.2.1. Nguồn nƣớc chính sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt tại hộ gia đình 35
3.2.2. Đánh giá nguy cơ ô nhiễm nguồn nƣớc chính 40
3.2.3. Một số vấn đề liên quan đến thực hành sử dụng nƣớc và vệ sinh tại HGĐ . 46
3.3. THỰC TRẠNG VỀ XÂY DỰNG, SỬ DỤNG VÀ BẢO QUẢN NHÀ TIÊU HỘ GIA
Hợp vệ sinh
NT
:
Nhà tiêu
NTHVS
:
Nhà tiêu hợp vệ sinh
SDBQ
:
Sử dụng bảo quản
THCS
PTTH
THCN
:
:
:
Trung học cơ sở
Phổ thông trung học
Trung học chuyên nghiệp
VSMT
:
Vệ sinh môi trƣờng
XD
:
Xây dựng
WHO
:
Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
WWC
:
Bảng 3.13. Tần suất rửa tay của đối tƣợng nghiên cứu 48
Bảng 3.14. Tình trạng nhà tiêu tại các hộ gia đình điều tra 48
Bảng 3.15. Tình trạng nhà tiêu hiện có tại các hộ gia đình 49
Bảng 3.16. Tình trạng nhà tiêu đạt tiêu chuẩn HVS trên tổng số nhà tiêu hiện có 51
Bảng 3.17. Tỷ lệ từng loại NT đạt tiêu chuẩn HVS trên tổng số NT hiện có (n=279) 52
Bảng 3.18. Tỷ lệ HGĐ thực hành ủ phân sử dụng phân trong nông nghiệp 54
Bảng 3.19. Tỷ lệ đối tƣợng đƣợc nghe thông tin về nƣớc sạch và nhà tiêu HVS 57
Bảng 3.20. Tỷ lệ nội dung thông tin đối tƣợng nghiên cứu nghe đƣợc 57
Bảng 3.21. Các nguồn cung cấp thông tin mà đối tƣợng nghiên cứu nhận đƣợc 57
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa thực hành sử dụng nguồn nƣớc HVS với một số yếu tố 59
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa thực hành xây dựng, SDBQ nhà tiêu HVS theo quyết định
08/2005/QĐ-BYT với một số yếu tố 60 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1. Dân tộc của đối tƣợng nghiên cứu 33
Biểu đồ 3.2. Trình độ học vấn của đối tƣợng nghiên cứu 33
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ HGĐ sử dụng nguồn nƣớc HVS và nguồn nƣớc chƣa hợp vệ sinh 36
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ phân bố nguồn nƣớc ăn uống, sinh hoạt tại hộ gia đình 36
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ HGĐ có xử lý nƣớc trƣớc khi sử dụng 39
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ HGD sử dụng nguồn nƣớc HVS có nguy cơ ô nhiễm 41
Biểu đồ 3.7. Khoảng cách từ nơi chứa nƣớc gần nhất đến nhà và đến nhà tiêu 46
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ hộ gia đình có chỗ rửa tay và xà phòng rửa tay 47
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ các loại nhà tiêu trên tổng số nhà tiêu hiện có 50
Biểu đồ 3.10. Tình trạng NT đạt tiêu chuẩn HVS trên tổng số NTHVS hiện có (n=63) 52
Biểu đồ 3.11. Tình hình sử dụng phân ngƣời tại các hộ gia đình 53
1
2
hội. Vấn đề xây dựng công trình cấp nƣớc và vệ sinh đang trở thành một đòi hỏi rất
cấp bách và có quy mô rộng lớn trong những năm tới.
Kon Tum là một tỉnh phía bắc của Tây Nguyên với 53,2% dân tộc thiểu số
nên điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán
lạc hậu, vì vậy việc quản lý vệ sinh môi trƣờng và cung cấp nƣớc sạch còn rất nhiều
khó khăn. Tính đến cuối năm 2009, số hộ gia đình có nhà tiêu đạt 55,4%, số hộ sử
dụng nguồn nƣớc hợp vệ sinh đạt 70% trong đó chỉ có 30% đạt quy chuẩn Quốc
gia. Vấn đề chính quyền và ngành y tế các cấp đặt ra để xây dựng giải pháp can
thiệp có hiệu quả, bảo vệ sức khỏe ngƣời dân là: Thực trạng vệ sinh nguồn nƣớc và
nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã tỉnh Kon Tum nhƣ thế nào? Những yếu tố nào
liên quan tới việc ngƣời dân sử dụng nguồn nƣớc và nhà tiêu hợp vệ sinh?
Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng vệ
sinh môi trƣờng hộ gia đình tại một số xã tỉnh KonTum” với mục tiêu:
(1) Mô tả thực trạng vệ sinh nguồn nước, nhà tiêu hộ gia đình tại một số
xã tỉnh Kon Tum.
(2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng nguồn nước
và nhà tiêu hộ gia đình của người dân tại địa bàn nghiên cứu. 3
Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
nhiều khu vực trên thế giới có tới 40% nguồn nƣớc bị lãng phí, hoặc bị khai thác
bừa bãi, gây ô nhiễm [46]. Trƣớc tình trạng sử dụng nguồn nƣớc lãng phí nhƣ hiện
nay, “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ” do Liên Hiệp quốc đề ra giảm 50% số
ngƣời không đƣợc sử dụng nƣớc sạch và các điều kiện vệ sinh tối thiểu vào năm
2015 là không thể thực hiện đƣợc [73].
Chất lƣợng nƣớc ở khu vực Đông Nam Á ngày càng trở thành mối đe dọa
lớn. Tình trạng ô nhiễm Asen (thạch tín) và flor trong các mạch nƣớc ngầm đang đe
dọa nghiêm trọng tình trạng sức khỏe của 50 triệu ngƣời dân trong khu vực [58],
[62].
Một số chuyên gia về nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng (VSMT) cho biết, cứ
1m
3
nƣớc bị ô nhiễm sẽ làm cho 50-60 m
3
nƣớc ngọt khác không sử dụng đƣợc.
Trên thế giới hiện nay, mỗi năm có tới 5.000 km
3
nƣớc bị ô nhiễm phát thải vào các
nguồn nƣớc tự nhiên, chính điều đó làm cho 2 tỷ ngƣời thiếu nƣớc ngọt hợp vệ sinh
[23].
Hiện nay, nhiều nƣớc xung quanh ta đang quan tâm đến vấn đề nhiễm độc
thạch tín ở các nguồn nƣớc ngầm. Hàm lƣợng thạch tín cao hơn mức cho phép
nhiều lần đƣợc phát hiện trong các giếng khoan ở Bangladesh, Ấn Độ và Trung
Quốc. Ngƣời ta báo cáo các trƣờng hợp ung thƣ da, tổn hại da, tổn thƣơng thần kinh
và mạch máu ngoại vi ở những quần thể dân cƣ dùng nƣớc giếng khoan bị nhiễm
thạch tín [7], [61], [62]. Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc chỉ rõ có 522.566
ngƣời sử dụng nƣớc uống có asen cao hơn 0,05 mg/l [64].
Thực trạng ô nhiễm asen lan rộng đã ảnh hƣởng đến sức khoẻ hàng triệu
ngƣời tại Bangladesh. Các cƣ dân ở Matlab của Bangladesh đang có nguy cơ bị
nhiễm độc asen. Kết quả điều tra cho thấy, việc thiếu các điều kiện thuận lợi để thực
6
thải của các khu công nghiệp gần sông nhƣ Việt Trì, Nam Định. Nƣớc giếng có chất
lƣợng vệ sinh giảm dần từ vùng trung du xuống tới đồng bằng. Nƣớc bề mặt ô
nhiễm khá nặng bởi phân ngƣời, gia súc và nƣớc thải [37], [55]. Nƣớc bề mặt, ao
làng và giếng khơi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhiễm bẩn vừa và nhẹ. Nƣớc
sông nhiễm bẩn nhiều đặc biệt vào trƣớc và sau mùa lũ [13], [31].
Theo điều tra của Viện Pasteur Nha Trang, các nguồn nƣớc sông hồ, suối
miền Trung từ Qui Nhơn đến Phan Rang đều bị nhiễm chất thải của ngƣời và động
vật [31], [39].
Các điều tra, đánh giá chất lƣợng nƣớc ở một số vùng nông thôn miền Bắc
của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trƣờng cho thấy: Hà Nội, Nghệ An, Hà
Nam, Hƣng Yên, là những tỉnh có hàm lƣợng sắt khá cao trong nƣớc ngầm, 13,9%
số mẫu có hàm lƣợng sắt trên 20mg/l. Khoảng 11% giếng khoan nhiễm mặn trên
1000 mg/l, phần lớn nằm ở vùng Hải Hƣng cũ và ven biển Hải Phòng [39], [55].
Theo “Số liệu chất lƣợng nƣớc 1985-1997” do Trung tâm Chất lƣợng nƣớc
và Môi trƣờng thực hiện, vùng Đồng bằng sông Cửu Long chƣa bị ảnh hƣởng nhiều
của việc phát triển kỹ nghệ do đó mức ô nhiễm hữu cơ và vi sinh không đáng kể.
Tuy nhiên, do việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón quá tải cho nông
nghiệp, nƣớc ở nhiều vùng đã có dấu hiệu ô nhiễm thuốc DDT và Nitrat. Ngƣợc lại
với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ chịu áp lực nặng nề của
việc phát triển kỹ nghệ, do đó hầu nhƣ toàn thể sông Sài Gòn, sông Đồng Nai từ hồ
Trị An về hạ lƣu, sông Thị Vải (DO ở vùng này xuống thấp từ 1 đến 0,3 mg/l), sông
Vàm Cỏ Đông đều đã bị ô nhiễm, nhất là ô nhiễm vi sinh (gấp ngàn lần tiêu chuẩn
cho phép) và hữu cơ. Đặc biệt, các dòng kênh chung quanh thành phố Hồ Chí Minh
và Biên Hòa hoàn toàn bị ô nhiễm nặng và không còn thấy dấu vết của tôm cá trong
nguồn nƣớc [18].
Kết quả điều tra diện rộng về y tế Quốc gia đƣợc Bộ Y tế phối hợp với Tổng
cục Thống kê thực hiện trên 36.000 hộ gia đình trong phạm vi 1.200 phƣờng, xã
trên toàn quốc đã đƣợc công bố ngày 25 tháng 9 năm 2003 cho thấy tỷ lệ hộ sử
8
Theo Niên giám thống kê năm 2007 của Bộ Y tế, tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận
với nƣớc sạch tăng lên qua các năm: năm 1986 là 30,8%, năm 1988 là 32,7%, năm
1990 là 37,8% và năm 1990 là 47,4%. Vùng Đông Nam Bộ tỷ lệ hộ gia đình dùng
nƣớc uống hợp vệ sinh còn thấp (10,2%), vùng Tây Nguyên cả 2 chỉ số nƣớc sạch
và nhà tiêu đều thấp (17,6% và 5,2%) [14].
Tài liệu thống kê của chiến lƣợc quốc gia cung cấp nƣớc sạch và vệ sinh môi
trƣờng, tính đến cuối năm 2003, trung bình cả nƣớc có 54% dân số nông thôn đƣợc
cung cấp nƣớc sạch [4].
Theo định nghĩa của Bộ Y tế: nước máy, nước mưa, nước giếng khoan, nước
giếng khơi, nước máng lần không có nguồn ô nhiễm trong vòng 7 mét thì được coi
là nguồn nước sạch có thể dùng cho ăn uống [9]. Theo định nghĩa này thì hiện nay
có đến 80% dân số nƣớc ta đang đƣợc ăn uống bằng nguồn nƣớc sạch. Nhƣng cũng
theo định nghĩa này, nếu sử dụng nƣớc máy và nƣớc mƣa đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh
thì có thể để ăn uống ngay mà không cần xử lý gì, nhƣng đối với các loại nƣớc
giếng khơi, giếng khoan và nƣớc máng lần, nếu sử dụng cho ăn uống mà không qua
xử lý sẽ không đảm bảo vệ sinh và không coi là nguồn nƣớc sạch đƣợc [10], [11].
Nƣớc ta có 21% dân số sử dụng nƣớc giếng khoan để ăn uống nhƣng chỉ có 1/3 số
đó có xử lý trƣớc khi sử dụng. Hơn 1/3 dân số nƣớc ta dùng nƣớc giếng khơi để ăn
uống nhƣng chỉ có 2,9% dân số sử dụng nƣớc có xử lý, còn 23,4% dùng nƣớc
không xử lý và 8,5% dùng nƣớc gần các nguồn ô nhiễm [49].
Do đặc điểm địa lý của từng vùng mà các nguồn nƣớc tự nhiên cũng có độ
sạch, độ trong khác nhau. Hiện nay chƣa có số liệu quan trắc của các nguồn nƣớc
này của từng địa phƣơng, từng vùng, vì vậy chƣa thể khẳng định chắc chắn nguồn
nƣớc nào đạt tiêu chuẩn HVS có thể dùng ăn đƣợc. Nếu định nghĩa nƣớc sạch là
nƣớc máy, nƣớc mƣa, nƣớc giếng khoan và giếng khơi có xử lý và không gần
nguồn ô nhiễm thì hiện nay nƣớc ta mới chỉ có 39,3% dân số đƣợc sử dụng nƣớc
sạch [37], [55].
9
1.1.3. Ô nhiễm nƣớc và một số bệnh liên quan đến nƣớc
Cải thiện cung cấp nƣớc và vệ sinh môi trƣờng nông thôn là điều kiện tiên
quyết để đạt đến nhiều mục đích và mục tiêu sức khoẻ đã đặt ra trong chiến lƣợc
Quốc gia toàn diện về tăng trƣởng và xoá đói giảm nghèo. Cải thiện cung cấp nƣớc
và vệ sinh môi trƣờng nông thôn và giảm bớt gánh nặng về sức khoẻ cho ngƣời dân
nông thôn là hai vấn đề có mối liên quan chặt chẽ. Mối liên quan này tồn tại theo 2
dạng chính thức: Nƣớc là môi trƣờng truyền dẫn tác nhân gây bệnh và nƣớc cũng là
môi trƣờng nuôi sống vật chủ gây bệnh và vật trung gian của các tác nhân gây bệnh.
Có những bệnh do thiếu nƣớc để giữ gìn vệ sinh cơ bản, bao gồm bệnh đau mắt,
bệnh phụ khoa. Ngoài ra còn xét thêm về tầm quan trọng của việc có nƣớc ở vùng
nông thôn để quyết định an ninh thực phẩm và tình trạng dinh dƣỡng, yếu tố quyết
định đối với sức khoẻ. Cải thiện cung cấp nƣớc và vệ sinh môi trƣờng nông thôn
một cách bền vững là mấu chốt để cải thiện tình trạng sức khoẻ trong dân cƣ nông
thôn [29], [43].
Ở các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt Nam, có tới 80% các bệnh có
liên quan đến nƣớc và vệ sinh. Các bệnh chủ yếu là: Tiêu chảy, thƣơng hàn, giun
sán, viêm gan, nguyên nhân chủ yếu do bị nhiễm bẩn từ các chất hữu cơ và vi sinh
vật, Qua đó tác động trực tiếp đến sức khoẻ con ngƣời, nhất là ngƣời già và trẻ em
[70].
Những thống kê nghiên cứu gần đây cho thấy khoảng 750 triệu trẻ em dƣới 5
tuổi ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh đã bị bệnh tiêu chảy cấp trong một năm
và khoảng 3-6 triệu trẻ ở nhóm tuổi đó bị chết hàng năm, 80% chết trong hai năm
đầu sau khi ra đời. Nguyên nhân chủ yếu do suy dinh dƣỡng, thiếu sữa mẹ, hấp thụ
kém, do thiếu nƣớc sạch hoặc nƣớc không sạch hoặc do ô nhiễm phân [30].
Việc cấp nƣớc an toàn và đủ số lƣợng có một ý nghĩa quan trọng, có thể sẽ
giảm bớt 25% số trƣờng hợp bệnh tiêu chảy (WHO, 1992) và làm giảm từ 16-30%
số trƣờng hợp bị nhiễm giun đũa ở trẻ em, nếu đảm bảo cung cấp nƣớc sạch và vệ
sinh môi trƣờng sẽ làm giảm các bệnh đƣờng tiêu hoá (Chỉ số hiệu quả: 25,2%)
11
Trong thực tế không thể xác định tất cả các loại sinh vật gây bệnh liên quan
đến nƣớc vì phức tạp và đòi hỏi nhiều thời gian. Mặt khác, trong nƣớc khi xuất hiện
các loại sinh vật gây bệnh tồn tại và phát triển, có xuất hiện các loại vi khuẩn
Coliform. Ngƣời ta thƣờng dùng loại chỉ tiêu này để đánh giá mức độ nhiễm các vi
sinh vật gây bệnh liên quan đến nƣớc hoặc chỉ tiêu Escherichia coli để đánh giá
nƣớc có bị nhiễm phân và chất thải sinh hoạt hay không [2], [39].
Trong tất cả các bệnh dịch tễ học, nhiễm độc asen dịch tễ đƣợc phát hiện và
biết đến muộn nhất trên thế giới. Ngƣời nhiễm asen ở mức độ thấp sẽ có những biểu
hiện nhƣ mệt mỏi, buồn nôn và nôn, hồng cầu và bạch cầu giảm, rối loạn nhịp tim,
mạch máu bị tổn thƣơng, ảnh hƣởng đến thai nhi khi phụ nữ mang thai. Nhiễm độc
asen mãn tính thƣờng gặp các biểu hiện nhƣ hắc tố và mất sắc tố da, sừng hoá da,
ung thƣ da, bệnh đen và rụng móng chân. Hàng năm, trên thế giới vẫn phát hiện
thêm nhiều bệnh nhân mắc căn bệnh này. Điều nguy hiểm là cho đến nay căn bệnh
này vẫn chƣa có thuốc chữa, nên hàng triệu bệnh nhân trên thế giới phải chấp nhận
sống chung với căn bệnh ghê ngƣời này. ở Việt Nam, căn bệnh này có vẻ nhƣ rất xa
lạ. Vừa qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đƣa ra thông tin nghiên cứu
về tình trạng nhiễm asen ở nƣớc ta với những con số giật mình. Qua khảo sát một số
vùng thuộc 12 tỉnh thành phố ở cả 3 miền đã có những vùng có asen vƣợt quá tiêu
chuẩn cho phép 50 lần, có nơi tới 100 lần [27], [53], [69].
1.2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG, SỬ DỤNG VÀ BẢO QUẢN NHÀ TIÊU HỘ GIA
ĐÌNH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
1.2.1. Tình hình xây dựng, sử dụng và bảo quản nhà tiêu hộ gia đình
Để phòng chống các bệnh truyền nhiễm đƣờng tiêu hóa, ngăn chặn mầm
bệnh không cho chúng phát tán ra môi trƣờng ngoại cảnh, đất và nƣớc, song song
với tuyên truyền, giáo dục các hành vi có lợi cho sức khỏe, chúng ta cần cắt đứt chu
kỳ dịch tễ của các mầm bệnh bằng các công trình hợp vệ sinh, trong đó có nhà tiêu.
Để phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam, bất kể loại công trình vệ sinh nào
cũng nhằm giải quyết hai mục tiêu cơ bản là: (1) Diệt trừ mầm bệnh để không cho
13
14
Nghiên cứu của Trịnh Hữu Vách, Vƣơng Thị Hòa, Nguyễn Hữu Nhân tại
huyện Hàm Yên – Tuyên Quang và huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên (2002) cho biết:
tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu là 64,2%, trong đó chỉ có 22,4% nhà tiêu HVS và
48,6% hộ gia đình có nhà tiêu HVS biết cách sử dụng và bảo quản nhà tiêu. Hầu hết
các hộ gia đình (86,1%) có thói quen sử dụng phân ngƣời để bón cho cây trồng hoặc
nuôi cá. Và tỷ lệ hộ sử dụng phân ủ dƣới 3 tháng lên tới 31,8% [57].
Theo kết quả Điều tra y tế Quốc gia năm 2001- 2002 của Bộ Y tế và Tổng
cục thống kê thực hiện, có 72,6% hộ gia đình có nhà tiêu, 28,4% hộ gia đình còn lại
không có nhà tiêu riêng. Về các loại nhà tiêu HVS, tỷ lệ nhà tiêu tự hoại cao nhất ở
vùng Đông Nam Bộ (52,5%), Nam Trung bộ (24,3%) và đồng bằng sông Hồng
(23,8%). Nhà tiêu hai ngăn cao nhất ở vùng Bắc Trung Bộ (16,9%), đồng bằng sông
Hồng (13,5%) [17]. Kết quả cũng cho thấy, mức sống càng thấp tỷ lệ hộ gia đình sử
dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh càng cao: 73,29% số hộ gia đình thuộc nhóm
nghèo sử dụng nhà tiêu đơn giản một ngăn, chỉ khoảng 6,5% sử dụng nhà tiêu HVS.
Theo báo cáo của cuộc điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002, các vùng sử
dụng nhà tiêu tự hoại hoặc bán tự hoại cao nhất là vùng Đông Nam Bộ (54,91%),
Duyên hải Nam Trung Bộ (45,94%), Đồng bằng sông Hồng (26,41%). Loại nhà tiêu
2 ngăn đƣợc sử dụng phổ biến ở khu vực phía Bắc, chủ yếu là Bắc Trung Bộ
(42,58%), Đông Bắc (41,39%), đồng bằng sông Hồng (39,3%). Do tập quán sinh
hoạt, ngƣời dân Nam Bộ sử dụng loại nhà câu tiêu ao cá rất thƣờng xuyên. Tỷ lệ
ngƣời dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long dùng cầu tiêu ao cá trong các loại
cầu tiêu lên tới 61,18% [44].
Nghiên cứu của Lê Văn Chính (2005) về thực trạng quản lý phân ngƣời tại
vùng nông thôn một số tỉnh phía Bắc cho thấy: tuy số hộ gia đình có nhà tiêu
91,11% nhƣng phổ biến là nhà tiêu không hợp vệ sinh, còn tỷ lệ hộ gia đình sử dụng
nhà tiêu hợp vệ sinh (NTHVS) chỉ là 7,58%. Tỷ lệ nhà tiêu cầu thùng là 60,86%,
nhà tiêu một ngăn là 22,89%, nhà tiêu 2 ngăn là 8,45%, nhà tiêu tự hoại 3,77%, nhà
tiêu chìm và nhà tiêu thấm dội nƣớc là 3,51% và 0,52%. Nghiên cứu về thực hành
16
và không có hộ nào có nhà tiêu chìm có ống thông hơi. Tỷ lệ nhà tiêu HVS theo các
tiêu chuẩn XD, SDBQ theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT trên tổng số hộ gia đình
điều tra rất thấp, chỉ đạt 15,1% số HGĐ đƣợc điều tra, bao gồm 13% số hộ có nhà
tiêu tự hoại, 1,3% số hộ có nhà tiêu biogas, 0,5% số hộ có nhà tiêu 2 ngăn và 0,3%
có nhà tiêu thấm dội nƣớc [26].
Dân tộc thiểu số là nhóm đối tƣợng đặc biệt thiệt thòi về tình trạng các công
trình vệ sinh. Dân tộc Kinh vẫn có tỷ lệ sử dụng nhà tiêu đơn giản cao, nhƣng tỷ lệ
nhà tiêu tự hoại đang dần tăng lên. Tỷ lệ dân tộc Kinh không có nhà tiêu chỉ dƣới
10%. Trong khi đó, ở các dân tộc thiểu số nói chung, tỷ lệ không có nhà tiêu từ 30-
50%, tùy nhóm dân tộc, tỷ lệ sử dụng nhà tiêu HVS chỉ dƣới 10%. Ở miền Nam, tỷ
lệ ngƣời sử dụng nguồn nƣớc sông để ăn uống, sinh hoạt cũng nhƣ tỷ lệ sử dụng nhà
tiêu đổ trực tiếp ra ao, hồ, sông, kênh, rạch là cao nhất [36].
Nhìn chung, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực trạng kiến thức và thực hành
của ngƣời dân về nhà tiêu và xử lý phân còn thấp. Cùng với sự hiểu biết và thực
hành vệ sinh kém, thể hiện tỷ lệ nhà tiêu HVS và xử lý phân đúng cách ở vùng nông
thôn Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra trong chiến lƣợc cấp nƣớc
và VSMT nông thôn [42].
1.2.2. Một số loại nhà tiêu HVS đang đƣợc khuyến khích sử dụng tại Việt Nam
Theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT ngày 11/03/2005 của Bộ Y tế, các loại
nhà tiêu hiện đang đƣợc khuyến khích sử dụng tại Việt Nam là: nhà tiêu tự hoại,
nhà tiêu 2 ngăn ủ phân tại chỗ, nhà tiêu thấm dội nƣớc và nhà tiêu chìm có ống
thông hơi. Các loại nhà tiêu này là nhà tiêu HVS nếu đảm bảo các yêu cầu về kỹ
thuật XD và sử dụng, bảo quản. Nhà tiêu Biogas về cơ bản là một dạng của nhà tiêu
tự hoại, nhƣng có một số điểm khác biệt về cấu trúc so với nhà tiêu tự hoại thông
thƣờng. Tùy từng địa bàn và điều kiện kinh tế mà lựa chọn loại hình nhà tiêu phù
hợp [8].
Các loại nhà tiêu này đƣợc quy định hợp vệ sinh về mặt kỹ thuật và đảm bảo
các yêu cầu sau:
Ƣu điểm: Vệ sinh sạch sẽ, không có mùi hôi thối, không có ruồi nhặng. Xử
lý đơn giản và rẻ tiền, sử dụng ở những nơi không có cống nƣớc thải, dễ sử dụng và
bảo quản.
Nhà tiêu chìm có ống thông hơi
Là loại nhà tiêu áp dụng cho những vùng thiếu nƣớc dội, vùng đất rộng
ngƣời thƣa nhƣ miền trung du, miền núi, nhân dân không có thói quen dùng phân để
bón ruộng lúa và hoa màu. Loại nhà tiêu này dễ làm, đơn giản, rẻ tiền, dễ sử dụng.
Nhà tiêu Biogas (bể khí sinh học)
Áp dụng nhiều ở các nƣớc phát triển cũng nhƣ các nƣớc đang phát triển, đặc
biệt ở khu vực Châu Á. Kết quả thí điểm cho thấy bể khí sinh học áp dụng tốt cho
những hộ gia đình thực hiện mô hình VAC. Công nghệ này không chỉ giải quyết tốt
vấn đề ô nhiễm môi trƣờng mà còn cung cấp khi đốt cho sinh hoạt gia đình.
Bể khí sinh học hoạt động do quá trình phân hủy yếm khí các chất hữu cơ có
trong phân ngƣời, phân gia súc, rác thải hữu cơ để cho ta khí Cacbonic (CO2) và
Mêtan (CH4).
1.3. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ PHÂN NGƢỜI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN NGƢỜI LÊN
MÔI TRƢỜNG VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
Khi nói đến vấn đề quản lý phân ngƣời cũng chính là nói đến thực trạng quản
lý và sử dụng nhà tiêu, nhà tiêu HVS. Tại các vùng thành phố, thị xã, nơi có điều
kiện kinh tế phát triển thì đa phần ngƣời dân sử dụng nhà tiêu thuộc loại HVS (tự
hoại, thấm dội nƣớc, hai ngăn ủ phân tại chỗ, ) do đó vấn đề quản lý phân tƣơng
đối tốt và thuận lợi. Còn ở vùng nông thôn, những vùng khó khăn, ngƣời dân sử
dụng các loại nhà tiêu không HVS (đào, 1 ngăn, cầu tro, cầu tiêu ao cá), thậm trí là
không có nhà tiêu khiến cho vấn đề quản lý và xử lý phân gặp rất nhiều khó khăn.
Điều đó cũng làm tăng sự ô nhiễm môi trƣờng và các bệnh có liên quan đến phân
ngƣời có điều kiện phát triển [38].