Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người dao tại một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh thái nguyên và thử nghiệm mô hình can thiệp - Pdf 35

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

THỰC TRẠNG HÀNH VI VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
CỦA NGƯỜI DAO TẠI MỘT SỐ XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH CAN
THIỆP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

THỰC TRẠNG HÀNH VI VỆ SINH MÔI TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DAO TẠI
MỘT SỐ XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH CAN THIỆP

CHUYÊN NGÀNH: VỆ SINH XÃ HỘI HỌC VÀ TCYT
MÃ SỐ: 62.72.01.64

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

người Dao ở nước ta đã hơn 300 năm. Người Dao sống chủ yếu ở vùng sâu vùng
xa khắp biên giới Việt Trung từ tỉnh Lai Châu, Điện Biên cho tới tỉnh Cao Bằng,
Hà Giang và Thái Nguyên. Điều kiện kinh tế văn hóa xã hội và vệ sinh môi
trường của người Dao còn nhiều khó khăn. Trong khi người dân ở các khu đô
thị, miền đồng bằng được sử dụng nước máy và nhà tiêu hợp vệ sinh thì người
Dao và các dân tộc thiểu số khác ở khu vực miền núi không có đủ nước sạch và
nhà tiêu để sử dụng.

đ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ường nă
/>

4
đ
ười Dao chủ yếu dùng nước suối đầu nguồn (57,6%) và giếng khơi
(18,3%), ngoài ra còn có 21,4% dùng các nguồn nước khác không thuộc các
nguồn nước sạch [26]. Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ hộ gia đình người Dao có
nhà tiêu rất thấp (50,4%) và hầu hết không đảm bảo vệ sinh, tỷ lệ hộ có nhà tiêu
hợp vệ sinh chỉ 5,8%, những hộ gia đình người Dao không có nhà tiêu đều đi
ngoài ra vườn và rừng (85,5%) [26],[40]. Để giải quyết vấn đề vệ sinh môi
trường, đã có một số chương trình can thiệp được triển khai ở các địa phương,
song chưa bao phủ hết các xã đặc biệt khó khăn vì vậy điều kiện vệ sinh môi
trường có thể chưa được cải thiện. Vậy câu hỏi đặt ra là hành vi vệ sinh môi
trường của người Dao tại một số xã đặc biệt khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên hiện
nay ra sao? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi vệ sinh môi trường của
người Dao nơi đây? Từ đó có những giải pháp nào phù hợp để cải thiện hành vi
vệ sinh môi trường cho người Dao? Để trả lời các câu hỏi trên, nghiên cứu đề

quán… Mỗi hành vi là biểu hiện cụ thể ra bên ngoài và chịu tác động nhiều các
yếu tố cấu thành đó là kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) và niềm tin của con
người trong một sự việc hay hoàn cảnh nhất định nào đó [23], [83], [111], [115].
Hành vi sức khỏe là hành vi của con người có liên quan đến sức khỏe.
Hành vi, lối sống không lành mạnh là cách thực hành hoạt động có hại đến sức
khỏe. Vì vậy, để tăng cường sức khỏe, phòng chống bệnh tật cần phải thay đổi
một số hành vi, lối sống có hại cho sức khỏe hay phong tục tập quán lạc hậu...
[26], [27], [28], [89], [97].
Hành vi lối sống không lành mạnh là cách thực hành hoạt động có hại đến
sức khỏe, bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như sử dụng nước suối, nước ao hồ,
phóng uế bừa bãi, uống nước lã... Thực hành này qua nhiều thế hệ gọi là phong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

6
tục tập quán. Phong tục tập quán và truyền thống là các hành vi được nhiều
người cùng chia sẻ trong cộng đồng, được thực hiện trong thời gian dài, truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhiều phong tục tập quán có thể trở thành niềm
tin trong các cộng đồng và thể hiện lối sống đặc trưng của từng dân tộc, ảnh
hưởng đến sức khoẻ [24], [110], [114], [116].
1.1.1.2. Các yếu tố liên quan đến hành vi sức khỏe
* Yếu tố bản thân: Với mỗi người chúng ta có thể có các suy nghĩ và tình
cảm khác nhau. Những suy nghĩ và tình cảm của chúng ta lại bắt nguồn từ các
hiểu biết, niềm tin, thái độ và quan niệm về giá trị. Đây chính là các yếu tố bên
trong của mỗi cá nhân. Chính các yếu tố như kiến thức, niềm tin, thái độ và
quan niệm về giá trị của mỗi cá nhân đã dẫn đến những quyết định của mỗi người
thực hành, hành vi này hay hành vi khác. Yếu tố thuộc về bản thân gồm có:
- Kiến thức: Kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua
quá trình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống. Mỗi người có thể thu

thái độ chưa hợp lý nào đó đối với vấn đề bệnh tật, sức khỏe, cần phải tìm hiểu
rõ nguyên nhân của thái độ này, từ đó tìm phương pháp TT-GDSK hợp lý để
thuyết phục đối tượng thay đổi thái độ.
- Giá trị: Giá trị là các tiêu chuẩn có vai trò quan trọng tác động đến suy
nghĩ và tình cảm của con người. Một tiêu chuẩn nào đó được một người coi là
có giá trị với họ sẽ là động cơ thúc đẩy các hành động. Mỗi người, mỗi gia
đình, mỗi cộng đồng có thể có những quan niệm giá trị khác nhau. Các quan
niệm về giá trị thường trở thành động cơ thúc đẩy các hành vi liên quan đến
phấn đấu để đạt được những tiêu chuẩn giá trị mong muốn. Mỗi cá nhân có thể
có các tiêu chuẩn giá trị riêng của mình, nhưng thường thì giá trị là một phần
của đời sống văn hóa và được chia sẻ trong cộng đồng hay trong một đất nước.
Sức khỏe là một trong số các giá trị quan trọng của mỗi người. Trong TTGDSK chúng ta cần cố gắng làm cho mọi người hiểu được giá trị của cuộc
sống khỏe mạnh, giá trị của sức khỏe, từ đó động viên mọi người suy nghĩ về
giá trị của sức khỏe đối với cuộc sống và thực hiện những hành động thiết thực
để duy trì và phát triển sức khỏe [11], [19], [92], [94], [104].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

8
* Tác động của những người xung quanh: Sống trong xã hội, mỗi người
đều có quan hệ và chịu ảnh hưởng của những người xung quanh. Tất cả chúng
ta đều chịu ảnh hưởng của những người khác trong mạng lưới quan hệ xã hội
phức tạp. Khi một ai đó được chúng ta coi là những người quan trọng thì chúng
ta thường dễ dàng nghe và làm theo những điều họ khuyên hoặc những việc họ
làm. Một số người muốn hành động nhưng những người khác lại có quan điểm
ngược lại. Những người nào có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi người hay của
cộng đồng sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh của cá nhân và cộng đồng cũng như nền
văn hóa cộng đồng. Người thực hiện TT-GDSK cần phát hiện những người có
vai trò tích cực, tạo ra các áp lực xã hội tốt cho tăng cường các hành vi có lợi

1.1.2.1. Nước sạch
- Là nước dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử
dụng làm nước ăn uống trực tiếp [4].
- Là nước có đủ 22 chỉ tiêu đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch do Bộ Y
tế ban hành [4].
- Là nước không màu, không mùi, không vị, không chứa các thành phần
có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, có thể dùng để ăn uống sau
khi đun sôi [4].
1.1.2.2. Nhà tiêu hợp vệ sinh
Các loại nhà tiêu hợp vệ sinh theo

-

(QCVN 01:2011/BYT) của Bộ Y tế [17], bao gồm: Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại
chỗ, nhà tiêu chìm có ống thông hơi, nhà tiêu thấm dội nước, nhà tiêu tự hoại
dùng cho gia đình. Các loại nhà tiêu này được Bộ Y tế quy định là nhà tiêu hợp
vệ sinh về mặt kỹ thuật và đảm bảo các yêu cầu sau:
- Quản lý được phân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp
xúc với người, động vật và côn trùng.
- Có khả năng tiêu diệt được tác nhân gây bệnh có trong phân (vi rút, vi
khuẩn, đơn bào, trứng giun, sán) và không làm ô nhiễm môi trường xung quanh
[17], [31].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

10
1.1.2.3. Chuồng gia súc, gia cầm
Chuồng chăn nuôi hợp vệ sinh: Là chuồng trại được xử lý chất thải chăn
nuôi hợp vệ sinh bao gồm các loại:

và 18,3% số hộ dùng nước giếng khơi; số hộ dùng các nguồn nước khác rất ít
(0,7% số hộ dùng nước giếng khoan); không hộ nào dùng nước máy và nước
mưa. Tuy vậy 2,1% số hộ vẫn dùng nước sông, ao, hồ và 21,4% còn dùng các
nguồn nước khác không thuộc các nguồn nước sạch. Gần nửa số hộ người Dao
trong điều tra (49,7%) đã thừa nhận còn uống nước lã, tức nước chưa đun sôi.
Trong khi đó, 75,4% số hộ cho biết rằng họ không xử lý nước trước khi ăn
uống. Đây là một tỷ lệ khá cao, bên cạnh đó còn 4,8% số hộ không biết rằng
nước dùng cho ăn uống cần được xử lý nước trước khi dùng. Người Dao cũng
như hầu hết các dân tộc thiểu số khác đều không xử lý trước khi ăn uống bằng
các phương pháp có hóa chất, hoặc đánh phèn, họ chủ yếu chỉ dùng cách để
lắng (10,6%) hoặc lọc (9,1%) [27], [45], [48], [99].
1.1.3.2. Hành vi sử dụng nhà tiêu của người Dao
Người Dao kể tên các loại nhà tiêu hợp vệ sinh còn rất hạn chế. Giống
như ở các dân tộc thiểu số khác, đa số những người Dao được hỏi (73,2%)
không biết tên bất kỳ loại nhà tiêu hợp vệ sinh nào. Số người nêu được tên chủ
yếu là nhà tiêu tự hoại (20%) và nhà tiêu hai ngăn (10,8%); rất ít người nói
được tên nhà tiêu thấm dội nước (0,9%). Người Dao ít biết về tên các bệnh có
thể gây ra do sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh. Tỷ lệ người không biết bất
kỳ một bệnh nào chiếm tới 63,9% số người được hỏi, cao hơn so với một số
dân tộc như Tày, Thái, Mường, Nùng. Tỷ lệ người biết về tên bệnh nhiều nhất
là đối với bệnh tiêu chảy (28,7%), còn các bệnh khác đều ít, như bệnh giun
(5,5%), bệnh mắt (2,1%)... Đa số người Dao (59,5%) trong số được phỏng vấn
đã không biết bất kỳ một cách nào để phòng bệnh tiêu chảy và bệnh giun.
Những cách phòng bệnh được nhiều người đưa ra là: vệ sinh nhà cửa (19,1%)
và không uống nước lã (19%), sau đến không ăn rau sống (10,9%)... nhưng chỉ
có 6,2% số người được hỏi biết phải sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh. Có thể nói
rằng dân tộc Dao là một trong nhiều dân tộc thiểu số còn thiếu hiểu biết về sử
dụng nhà tiêu hợp vệ sinh để phòng bệnh tiêu chảy và bệnh giun ở trẻ em. Đa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


là các tỷ lệ 1%, 0,2% và 0,2%. Trong những hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, chỉ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

13
5,1% là nhà tiêu hai ngăn, 0,3% là nhà tiêu tự hoại, 0,3% là nhà tiêu thấm dội
nước. Trong đó tỷ lệ đạt tiêu chuẩn về xây dựng nhà tiêu hai ngăn ở người Dao
còn rất thấp, chỉ chiếm 0,7% trong tổng số hộ được điều tra. Nhìn chung chỉ có
loại nhà tiêu thấm dội nước là đảm bảo đạt tiêu chuẩn xây dựng, đạt tiêu chuẩn
về bảo quản và sử dụng hợp lý. Gần một nửa số hộ người Dao được điều tra
(44,6%) đang sử dụng các loại nhà tiêu không hợp vệ sinh và gần một nửa số
còn lại không có nhà tiêu. Những hộ gia đình người Dao không có nhà tiêu đều
đi vệ sinh ra vườn và rừng (85,5%), rất ít người đi nhờ nhà người khác (4,5%)
hoặc đi vào chuồng gia súc (10%), [26], [31].
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Thắng [65] về VSMT ở người Dao - Hợp
Tiến (Thái Nguyên) cho thấy kiến thức thái độ thực hành của người Dao ở khu
vực này về vấn đề VSMT còn chưa tốt thể hiện tỷ lệ người dân có kiến thức,
thái độ, thực hành đạt về VSMT còn thấp như: Kiến thức đạt 19,13%; Thái độ
đạt 15,85.8%; Thực hành đạt 10,93%. Một số yếu tố liên quan tới kiến thức thái
độ thực hành về vấn đề VSMT của người Dao - Hợp Tiến là yếu tố kinh tế,
tuổi, giới và trình độ học vấn. Một số nghiên cứu khác về người Dao cũng thu
được kết quả tương tự [27], [42], [60].
Nhìn chung hành vi VSMT sống của người dân tộc thiểu số các tỉnh miền
núi phía bắc còn chưa tốt, nhất là người Dao. Qua đó chúng ta thấy đây là một
trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đó là hành vi
về VSMT, nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh còn kém. Đặc biệt thái độ về vai trò
và tác hại của nguồn nước, nhà tiêu không hợp vệ sinh liên quan đến sức khoẻ
và bệnh tật của con người. Đây cũng là vấn đề quan trọng mà ngành y tế cần
phải quan tâm đặc biệt, cần có những giải pháp can thiệp thích hợp cho miền

(109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại
Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và
12,1% tổng số người Dao tại Việt Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4%
dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng số người Dao tại Việt Nam), Yên Bái (83.888
người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng số người Dao tại Việt
Nam), Thái Nguyên (25.360 người, chiếm 2,3% dân số toàn tỉnh và 3,4% tổng
số người Dao tại Việt Nam), Quảng Ninh (59.156 người, chiếm 5,2% dân số
toàn tỉnh), Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh), Cao Bằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

15

(51.124 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh), Lai Châu (48.745 người, chiếm
13,2% dân số toàn tỉnh), Lạng Sơn (25.666 người)… [27], [72]. Người Dao
thường sống xen kẽ và biết tiếng nói của các dân tộc cùng địa phương và giữ
gìn bản sắc dân tộc mình. Họ thường sống nơi thung lũng, đồi thấp hoặc quanh
chân núi, dọc khe suối, nơi đầu nguồn nước. Họ sống thành từng cụm, từng bản
nhỏ riêng và tụ tập xung quanh người có uy tín trong cộng đồng người Dao. Có
2 loại hình xóm bản người Dao:
- Xóm bản cư trú phân tán: Với những nhóm người Dao du canh, du cư,
thường chỉ 5 - 7 hộ. Kiểu xóm bản này cản trở trong phong trào tổ chức sản
xuất, xây dựng đời sống kinh tế, văn hóa và chăm sóc sức khỏe.
- Xóm bản cư trú tập trung: Thường ở những nơi đã định canh - định cư
hoặc du canh - định cư. Mỗi xóm bản có khoảng 20 - 30 hộ liền kề với nhau.
Kiểu xóm bản này thuận lợi cho lối làm ăn tập thể, nhưng khó bảo đảm vệ sinh
chung, dễ mắc dịch bệnh, hạn chế việc chăn nuôi gia súc và trồng rau màu [27].
Do người Dao di cư vào Việt Nam trong một thời gian kéo dài, sống phân tán,
du canh, du cư, nên quá trình hình thành tộc người rất chậm, các nhóm người

- Tập quán xây dựng nhà ở: Theo Đàm Khải Hoàn, người Dao ở miền núi
phía Bắc đa số ở nhà đất. Họ cho rằng ở nhà nền đất mới có chỗ để cúng Bàn
Vương. Trong nhà thường được chia làm nhiều ngăn như các phòng ngủ, phòng
kho, gian bếp... trên gác thường rải gỗ hoặc ván để chứa thóc rẫy, ngô và các
loại dụng cụ gia đình khác. Nhà người Dao thường làm mái thấp, với cách bày
trí như trên làm cho nhà luôn bị thiếu ánh sáng. Hơn nữa tập quán đun nấu trong
nhà gây ô nhiễm khói nặng, hầu hết đàn ông và nam thanh niên người Dao hút
thuốc lào hoặc thuốc lá, càng làm tăng thêm tình trạng ô nhiễm khói, do đó
người Dao dễ mắc các bệnh về hô hấp, nhất là trẻ em. Ngày nay cùng với sự phát
triển chung của toàn xã hội, nhiều căn nhà người Dao ở vùng định canh, định cư
đã thay đổi. Tuy nhiên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa thì thay đổi không đáng kể
[42]. Một nghiên cứu về người Dao Đỏ cho thấy họ thường ở nhà đất nằm dưới
chân đồi, cạnh khe suối để dẫn được nước về đến tận bếp. Nhà ở của người Dao
làm rất thấp là do ngày xưa họ thường làm treo leo trên lưng chừng đồi nên làm
nhà thấp để tránh gió bão, đến bây giờ vẫn thành thói quen. Người Dao ở nhà đất
cho phù hợp với phong tục cúng bói (việc cúng bói phải nhảy múa nhiều). Một
ngôi nhà của người Dao thường làm ba phòng (gian); một phòng khách, một
phòng bếp và một phòng ngủ. Phòng ngủ gọi là “buộng lộn”, chạy dọc theo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

17
phòng khách. Các phòng thường không có cửa sổ, cửa ra vào phòng khách và
xuống bếp thường chật hẹp nên không khí ngột ngạt dễ mắc các bệnh về đường
hô hấp. Phòng bếp được chia làm ba khu vực: bếp ngoài là nơi đun nước cho đàn
ông tiếp khách; bếp trong là nơi dành cho phụ nữ nấu ăn; phía trong cùng có
máng nước được quây lại là nơi để tắm rửa. Trong nhà, ở góc trái của phòng
khách giáp với phòng bếp có đặt tủ thờ ma và tổ tiên. Trong tủ phải có bộ tranh
Tam Thanh do người được cấp phép vẽ cho (là thầy cúng, thầy vẽ và đã được cấp


TỶ LỆ SỬ DỤNG
NHÀ TIÊU HỢP
VỆ SINH THẤP

Sử dụng nhà tiêu
không đúng cách

Tỷ lệ nhà tiêu
Không hợp vệ sinh cao

- Cộng đồng không chấp nhận.

- Kỹ thuật xây nhà tiêu chưa đúng.

- Dân thiếu hiểu biết về nhà tiêu
(dân trí thấp kém, TT-GDSK
kém..).

- Không chọn được loại nhà tiêu
thích hợp.

- Tập quán sử dụng phân tươi…

- Thu nhập của dân thấp (tăng dân
số, thất nghiệp)

- Cán bộ y tế còn yếu kém.

- Thiếu quan tâm của cộng đồng

pháp thích hợp để tiếp tục huy động tiềm năng to lớn của cộng đồng và các tổ
chức xã hội tham gia giải quyết các vấn đề bệnh tật, sức khỏe cộng đồng một
cách chủ động, có tổ chức, có kế hoạch [29], [44], [77], [85], [125].
1.3.2. Huy động cộng đồng thực hiện vệ sinh môi trường
Huy động cộng đồng tham gia thực hiện VSMT là một quá trình hoạt động
do người cán bộ y tế tham mưu cho chính quyền địa phương thực hiện để tạo ra
sự ủng hộ, hỗ trợ, nhất trí từ các bên liên quan trong cộng đồng, nhằm tạo ra một
môi trường mọi người đều có trách nhiệm để đạt được những mục tiêu của
chương trình [33], [42], [84], [107].
1.3.2.1. Các bên liên quan trong thực hiện vệ sinh môi trường
- Các tổ chức đang có ở địa phương như: tổ chức Đảng, chính quyền, các
ban ngành, đoàn thể ở địa phương (xã, xóm)... Hoạt động của những tổ chức này
có liên quan rất nhiều đến vấn đề VSMT. Chính vì vậy cần huy động các tổ chức
này tham gia phối hợp với trạm y tế xã để làm tốt công tác VSMT. Muốn huy
động được các tổ chức này cán bộ y tế cần phải truyền thông cho các cán bộ lãnh
đạo các tổ chức, họ phải thật thông, tức là họ phải hiểu rõ nội dung VSMT và tác
hại của nó với sức khỏe cộng đồng. Họ phải có quan điểm ủng hộ tích cực, có
trách nhiệm cao khi tham gia. Họ tìm mọi cách để tham gia, từ đó họ sẽ triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

20

khai việc tham gia chương trình bằng các hoạt động cụ thể như ra các văn bản,
nghị quyết (Đảng ủy, Ủy ban, các ban ngành…). Họ đưa việc thực hiện VSMT
vào các tiêu chuẩn thi đua cho các thành viên trong các tổ chức ở địa phương.
- Các hội ở địa phương như: Hội người cao tuổi, Hội nông dân, Hội phụ nữ,
Hội chữ thập đỏ.... Hoạt động của các hội này ít nhiều có liên quan đến các hoạt
động chăm sóc sức khỏe vì thế chúng ta cần vận động họ phối hợp chặt chẽ với


đồng nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề VSMT để họ tự nguyện tham
gia. Sự hợp tác tích cực và sự tham gia của cộng đồng thể hiện từ bước thảo
luận bàn bạc tại sao phải xây dựng các CTVS hay xây dựng các công trình
VSMT ở địa phương như thế nào đến việc tổ chức thực hiện. Thu hút sự tham
gia của cộng đồng đòi hỏi một sự đầu tư rất lớn về nguồn nhân lực, cũng như
thời gian và công sức. Không một cán bộ y tế nào có thể thực hiện sự đầu tư
ấy một cách có hiệu quả mà không có sự cam kết của cộng đồng. Các cán bộ
được giao nhiệm vụ phải nhận thức được việc làm cho cộng đồng hiểu điều đó
có giá trị hơn nhiều so với khả năng chuyên môn và kiến thức kỹ thuật. Mọi
người cần phải cam kết thực hiện chương trình. Khi mọi người nhận ra điều
đó và tham gia thì các chương trình VSMT sẽ được triển khai thực hiện rất
tốt. Chúng ta muốn huy động người dân trước tiên chúng ta phải huy động
những người có trách nhiệm trước. Đó là các đảng viên, các cán bộ địa
phương từ lãnh đạo xã đến thôn xóm. Mọi cán bộ đều gương mẫu tham gia
trước tất nhiên người dân sẽ theo.
- Những người có uy tín ở cộng đồng: Những người có uy tín ở cộng
đồng tuy họ không phải là những người lãnh đạo chính quyền hay các tổ chức
xã hội song họ rất có trách nhiệm với mọi người và được mọi người kính
trọng. Khi những người này nói thì mọi người sẵn sàng nghe theo, những
người này còn được gọi là "Người lãnh đạo dư luận". Những người lãnh đạo
dư luận thường được nhiều người ủng hộ. Mỗi khu vực hoặc mỗi nhóm dân
cư đều có người lãnh đạo dư luận riêng của mình. Một số người lãnh đạo dư
luận có danh tiếng rất dễ nhận ra họ như già làng, trưởng tộc, trưởng họ... ở
người Dao, vai trò của Trưởng họ, già làng rất quan trọng. Ai là người lãnh
đạo dư luận ở cộng đồng này? Nếu sau khi nói chuyện với một số người trong
cộng đồng, chúng ta thấy người nào được nhiều người biết đến và kính trọng
nhất, đó chính là người lãnh đạo dư luận của cộng đồng đó. Họ nói gì thì mọi
người dân, con cháu đều nghe theo vì họ có uy tín rất lớn trong cộng đồng và
trong nội tộc. VSMT là vấn đề khó thực hiện nên rất cần huy động những

tác có thể bao gồm cả việc thỏa thuận về mục tiêu, mục đích của mối quan hệ đối
tác, chia sẻ thông tin và bài học thu được, giao tiếp cởi mở và chân thực, gặp gỡ
và trao đổi thông tin thường xuyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

23
- Những người hưởng lợi: là những người thừa hưởng lợi ích trực tiếp từ
kết quả của chương trình. Nếu biết cách huy động, những người hưởng lợi sẽ trở
thành người đi vận động thuyết phục đáng tin cậy, đó chính là người dân. Người
dân cũng cần được huy động tích cực vào các hoạt động VSMT cho chính họ và
cộng đồng. Đóng góp của họ có thể là công sức lao động, lớn hơn nữa đó là tiền
bạc. Vận động họ tham gia như thế nào? Rõ ràng phải TT-GDSK để họ hiểu
được VSMT là gì? Ý nghĩa của VSMT với sức khỏe của chính họ ra sao ? Sự
cần thiết, tầm quan trọng của việc tham gia vào xây dựng môi trường vệ sinh của
họ, từ đó họ có thái độ tốt, có trách nhiệm xây dựng các CTVS cho chính họ và
có trách nhiệm với cộng đồng.
- Nhóm đối lập: họ là những cá nhân, những nhóm có quan điểm khác biệt
hoặc đối lập về chương trình VSMT. Số này không nhiều, không nên xem họ là
đối thủ cạnh tranh, mà nên coi họ là những người có nhận thức và niềm tin khác
về vấn đề này. Một người phản đối về vấn đề này nhưng có thể tán thành những
vấn đề khác. Điều quan trọng là xác định những người phản đối là ai, tìm hiểu
quan điểm của họ thế nào để có cơ sở đối thoại, trao đổi với họ. Để đảm bảo các
quan điểm đối lập không có tác động tiêu cực đến vấn đề mình đang huy động,
người cán bộ y tế phải sẵn sàng trình bày những lập luận có tính thuyết phục thông
qua các số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu và những số liệu cập nhật [38], [86],
[100], [101], [103].
1.3.2.3. Các bước tiến hành huy động cộng đồng tham gia VSMT

hành. Khi thực hiện nhiệm vụ tại xóm/bản họ chịu sự giám sát của người lãnh
đạo cộng đồng và các y tá từ các bệnh viện. Họ được nhận số tiền khuyến khích
là 35 đôla Zimbabue/1 tháng, một chiếc xe đạp và một túi thuốc, cộng đồng
không chi gì thêm, mỗi năm được đào tạo lại một lần. Mô hình chăm sóc sức
khoẻ này thể hiện rõ vai trò lãnh đạo cộng đồng, những người có uy tín tại cộng
đồng, điều này rất quan trọng vì các hoạt động y tế tại địa phương (thôn/bản)
không có vai trò của trưởng bản thì tính bền vững và hiệu quả sẽ kém, vì họ là
người có uy tín trong bản, nên việc triển khai các cuộc vận động về chăm sóc sức
khoẻ, VSMT mới có thể thực hiện tốt được. Chính vì vậy, việc làm rõ lợi ích của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

25
người dân khi tham gia các chương trình y tế không những đối với đối tượng hưởng
lợi trực tiếp là rất quan trọng, nhưng cũng cần chú ý làm rõ mục tiêu, nội dung, lợi
ích của các bên liên quan (Trưởng bản, Phụ nữ, Thanh niên, Hội cựu chiến binh tại
địa phương) thì mới có sự phối hợp, hợp tác có hiệu quả tốt [11], [12].
b) Mô hình chăm sóc sức khoẻ toàn diện dựa trên cộng đồng và gia đình
(WHO, 2004)
Mục đích của mô hình này là nhằm đảm bảo tốt hơn việc tiếp cận và sử
dụng dịch vụ y tế và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng nhằm đáp ứng
nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao của người dân và sử dụng hiệu quả
nguồn lực sẵn có. Mô hình này nhấn mạnh bệnh nhân/khách hàng là trung tâm,
những tri thức và sự đóng góp của cá nhân, gia đình và cộng đồng là những yếu
tố quyết định đến việc bảo vệ, duy trì sức khoẻ, quản lý bệnh tật và ốm đau. Đây
là hướng tiếp cận khách hàng là trung tâm, lấy sự thoả mãn nhu cầu của khách
hàng là tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, cách tiếp cận
này đối với sự cạnh tranh gay gắt của thị trường đã được đề cập từ lâu, tuy nhiên
đối với y tế, chỉ vào thập niên 90 cho tới nay, ngày càng được quan tâm đúng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status