Luận văn: THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

®¹i häc th¸i nguyªn
tr-êng ®¹i häc y d-îc

HOÀNG THÁI SƠN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ,
THỰC HÀNH VỀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG CỦA NGƯỜI
DÂN HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Chuyên ngành Y học dự phòng
Mã số: 60.72.73 Thái Nguyên, tháng 11 năm 2009


S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
đại học thái nguyên
tr-ờng đại học y d-ợc

Hong Thái Sơn
thực trạng
kiến thức, thái độ, thực hành
về vệ sinh môi tr-ờng của ng-ời dân
huyện phổ yên, tỉnh thái nguyên
luận văn thạc sĩ y học
Chuyên ngành Y học dự phòng
Mã số: 60.72.73 Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
PGS-TS Đàm Khải Hoàn
Đảng và Chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến công tác vệ sinh môi
trường, bảo vệ sức khoẻ. Chương trình Môi trường quốc gia - Nước sạch vệ
sinh môi trường nông thôn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết
định 237- 1998/QĐ-TTg. Chương trình là một công cụ có tầm quan trọng đặc
biệt để thực hiện chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
nông thôn đến năm 2020, nhằm bảo đảm cho tất cả dân cư nông thôn sử dụng
nước sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia với số lượng tối thiểu
60lít/người/ngày và sử dụng hố xí hợp vệ sinh, thực hành tốt vệ sinh cá nhân,
giữ gìn vệ sinh môi trường làng xã [3], [53]. Ngày 30/12/2008, Cục y tế Dự
phòng và Vệ sinh môi trường được thành lập, cho thấy vệ sinh môi trường là
một vấn đề cấp thiết của công tác y tế dự phòng trong giai đoạn hiện nay [40].
Việc không đảm bảo vệ sinh môi trường là nguyên nhân của nhiều bệnh
truyền nhiễm, trong đó bệnh tiêu chảy là một trong những nguyên nhân chính
gây ra tình trạng ốm đau trên phạm vi toàn quốc, làm cho khoảng 250.000
người phải nhập viện mỗi năm. Theo ước tính, có tới 44% trẻ em Việt Nam bị
nhiễm giun tóc, giun móc và giun đũa [40]. Ở nhiều vùng nông thôn, vệ sinh
môi trường kém, chất thải người và gia súc chưa được xử lý hợp vệ sinh, tập
quán dùng phân tươi bón ruộng làm phát tán các mầm bệnh có trong phân
tươi ra môi trường xung quanh, gây những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
lên sức khoẻ con người, là nguyên nhân của các dịch bệnh đường tiêu hoá
nguy hiểm như tả, lỵ, thương hàn [7], [25]. Huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
là huyện có điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội tương đối phát triển, tuy nhiên
điều kiện sinh hoạt, thói quen và tập quán vệ sinh của người dân vẫn còn
nhiều vấn đề lạc hậu, chưa đảm bảo được yêu cầu hạn chế bệnh tật, bảo vệ
sức khoẻ. Vì vậy, chúng tôi xây dựng đề tài: "Thực trạng kiến thức, thái độ,
thực hành về vệ sinh môi trường của người dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái
Nguyên”.

tố bên trong và bên ngoài, chủ quan cũng như khách quan. Ví dụ các yếu tố
tác động đến hành vi của con người như: phong tục tập quán, thói quen, yếu
tố di truyền, văn hoá - xã hội, kinh tế - chính trị Chẳng hạn hành vi thực
hiện các điều lệ về vệ sinh môi trường, hành vi tôn trọng pháp luật Mỗi
hành vi của một con người là sự biểu hiện cụ thể của các yếu tố cấu thành nên
nó, đó là các kiến thức, niềm tin, thái độ và cách thực hành của người đó
trong một tình huống hay trong một sự việc cụ thể nhất định nào đó [23].
1.1.1.2. Hành vi sức khoẻ:
Hành vi sức khỏe là hành vi của cá nhân, gia đình, cộng đồng tạo ra các
yếu tố tác động trực tiếp, hoặc gián tiếp đến sức khỏe của chính họ, có thể có
lợi hoặc có hại cho sức khỏe [23].
Theo ảnh hưởng của hành vi, chúng ta có thể phân ra 3 loại hành vi sức
khoẻ như sau:
- Những hành vi lành mạnh, có lợi cho sức khoẻ:
Đó là những hành vi giúp bảo vệ và nâng cao tình trạng sức khoẻ của
con người. Ví dụ: Làm chuồng nuôi gia súc, gia cầm cách xa nguồn nước sinh
hoạt, thực hiện ăn chín uống sôi, giữ gìn vệ sinh cá nhân và vệ sinh nơi công
cộng
- Những hành vi không lành mạnh:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Đó là những hành vi gây hại cho sức khoẻ. Ví dụ như: Ăn sống, uống
sống, phóng uế bừa bãi, không rửa tay trước khi ăn
- Những hành vi trung gian:
Là những hành vi không có lợi cũng không có hại cho sức khoẻ hoặc
chưa xác định rõ. Ví dụ như đeo vòng bạc cho trẻ vào cổ hay cổ tay, cổ chân
cho trẻ em để kỵ gió. Với các loại hành vi này thì tốt nhất là không nên tác
động, trái lại có thể lợi dụng việc đeo vòng đó để hướng dẫn các bà mẹ theo
dõi sự tăng trưởng của con mình.

trước mỗi sự việc. Các kiến thức về bệnh tật, sức khỏe và bảo vệ, nâng cao
sức khỏe là điều kiện cần thiết để mọi người có cơ sở thực hành các hành vi
sức khỏe lành mạnh [36].
- Niềm tin. Niềm tin là sản phẩm xã hội của nhận thức cá nhân kết hợp với các
kinh nghiệm thu được của cá nhân cũng như của nhóm hay cộng đồng trong
cuộc sống. Mỗi một xã hội đều hình thành và xây dựng niềm tin về tất cả các
khía cạnh của đời sống. Những niềm tin là một phần của cách sống con người.
Niềm tin có thể chỉ ra những điều được mọi người chấp nhận và những điều
không được người ta chấp nhận. Niềm tin có sức mạnh, nó ảnh hưởng đến
thái độ và hành vi của con người [36].
- Thái độ. Thái độ được coi là trạng thái chuẩn bị của cơ thể để đáp ứng với
những tình huống hay hoàn cảnh cụ thể. Thái độ phản ánh những điều người
ta thích hoặc không thích, mong muốn hay không mong muốn, tin hay không
tin, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản Thái độ thường bắt
nguồn từ kiến thức, niềm tin và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống, đồng
thời thái độ cũng chịu ảnh hưởng của những người xung quanh [36].
- Giá trị. Giá trị là các tiêu chuẩn có vai trò quan trọng tác động đến suy nghĩ
và tình cảm của con người. Một tiêu chuẩn nào đó được một người coi là có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
giá trị với họ sẽ là động cơ thúc đẩy các hành động. Sức khỏe là một trong số
các giá trị quan trọng của mỗi người [36].
- Những người có ảnh hưởng quan trọng. Sống trong xã hội, mỗi người đều
có quan hệ và chịu ảnh hưởng của những người xung quanh. Một trong các lý
do làm cho các chương trình giáo dục sức khỏe không thành công là nó trực
tiếp nhằm vào các cá nhân mà do không chú ý đến ảnh hưởng của những
người khác. Thông thường những người có ảnh hưởng nhiều đối với chúng ta
là cha mẹ, ông bà, anh em, vợ chồng, thày cô giáo, bạn bè, người lãnh đạo,
đồng nghiệp, những người có nhiều kinh nghiệm, trình độ cao, kỹ năng đặc

môi trường nói riêng như các hành động và hành vi thông thường chứ không
phải chỉ có thuốc men và các dịch vụ kỹ thuật y tế. Nghiên cứu đầy đủ các
yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe của con người là cần thiết để tránh
những thất bại khi thực hiện giáo dục sức khỏe.
1.1.2. Các khái niệm cơ bản về vệ sinh môi trường.
1.1.2.1. Khái niệm môi trường:
Theo nghĩa rộng: Là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng
đến một vật thể hay một sự kiện [24].
Đối với con người: Môi trường sống là tổng hợp các điều kiện vật lý,
hoá học, kinh tế, xã hội bao quanh và ảnh hưởng đến sự sống, sự phát triển
của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Môi trường bao gồm môi trường tự nhiên
và môi trường xã hội.
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng,
bức xạ, nồng độ các chất hoá học có trong đất, nước, không khí, các vi sinh
vật
Môi trường xã hội bao gồm các vấn đề chính trị, đạo đức, tôn giáo, văn
hoá, pháp luật, phong tục, tập quán, văn hoá ứng xử, chính sách

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Ngày nay, môi trường hài hoà với sức khoẻ gắn liền với việc sử dụng
hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, đảm bảo gắn chặt
phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và phát triển văn hoá [26].
1.1.2.2. Khái niệm về sức khoẻ:
Theo Tổ chức Y tế thế giới: “Sức khoẻ là trạng thái thoải mái toàn diện
về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay
tật” [25].
Theo định nghĩa đó sức khoẻ bao gồm ba khía cạnh: Sức khoẻ về thân
thể, sức khoẻ về tinh thần, sức khoẻ về xã hội. Cả ba mặt này làm thành một
thể thống nhất tác động qua lại lẫn nhau không thể coi nhẹ một mặt nào. Một

Tỷ lệ hộ dân dùng nước sông, hồ, ao, nước suối để nấu ăn trong cả nước là
13,24% trong đó miền núi, vùng cao có tỷ lệ là 11,96% [60].
Một số nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước sạch
ở nước ta còn thấp, tỷ lệ chung vào năm 2002 khoảng 50%. Tỷ lệ hộ gia đình
dùng nước được coi là sạch bao gồm giếng khoan và nước máy còn rất thấp
(6,8% và 6,6%). Hơn một nửa (53,2%) số hộ gia đình điều tra sử dụng nước
giếng đào. Ở vùng duyên hải miền Trung, hầu hết (99,5%) số hộ cũng dùng
nguồn nước giếng đào cho ăn uống. Đa số (66,0%) các hộ gia đình ở đồng
bằng sông Cửu Long dùng nguồn nước từ sông kênh rạch, tỷ lệ chung ở 7
vùng sinh thái được điều tra dùng nguồn nước sạch là 15,5%. Nước từ các
nguồn trên đều là nước ngầm nông bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ và vi sinh
vật, có nhiều nguy cơ phát triển các bệnh dịch đường tiêu hoá khi sử dụng
nguồn nước này [5], [10].
Ở khu vực miền núi phía Bắc, nguồn nước không chỉ ô nhiễm bởi chất
thải của con người mà còn chịu ảnh hưởng bởi các tệ chặt phá rừng bừa bãi.
Đa số các nguồn nước sử dụng không hợp vệ sinh. Ngoài nguồn nước giếng
còn sử dụng các nguồn nước khác như nước mỏ, nước khe, nước suối [26].
Qua một số nghiên cứu thấy tỉ lệ sử dụng nguồn nước chưa hợp vệ sinh ở khu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
vực miền núi phía Bắc khá cao. Người H'Mông ở Cán Tỷ (Hà Giang): 100%,
Người Sán Dìu ở Nam Hoà (Đồng Hỷ - Thái Nguyên): 32,22% [26]. Một
nghiên cứu khác được tiến hành ở hai xã Chiềng Sinh và Tạ Bú (Sơn La) cho
thấy tỷ lệ giếng nước hợp vệ sinh rất thấp (13,9% và 0%) [17]. Nước dùng để
ăn uống và sinh hoạt hàng ngày cho đồng bào dân tộc miền núi hầu hết không
đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Nguồn nước cũng bị ô nhiễm nặng nề do tệ phá rừng
đầu nguồn, do các chất thải của con người và súc vật Trong khi đó ở một số
dân tộc vẫn còn tập quán sử dụng nước khe suối, nước sông các nguồn nước
này đều không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, bị ô nhiễm cả về mặt hoá học và vi sinh

trường bị ô nhiễm do phân người khá cao. Số hộ gia đình có hố xí được xem
là hợp vệ sinh gồm hố xí dội nước và 2 ngăn chiếm một tỷ lệ rất thấp (5,3%
và 9,6%). Nơi có tỷ lệ loại hố xí này cao nhất ở đồng bằng sông Hồng (36,9%
và 48%), thấp nhất ở đồng bằng sông Cửu Long (7,0% và 2,4%). Loại hố xí
thùng, một ngăn rất phổ biến ở các vùng với tỷ lệ chung 40,6%, cao nhất ở
vùng Bắc Trung Bộ (68,3%) và thấp nhất ở duyên hải miền Trung (13,0%). ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long loại hố xí thường gặp là cầu ao cá chiếm tỷ lệ
46,4%. Có tới 1/5 tổng số hộ gia đình (19,2%) không có hố xí tỷ lệ này, cao
nhất ở đồng bằng sông Cửu Long (42,9%), thấp nhất ở vùng Nam Bộ (2,8%)
[5], [6]. Việc tỷ lệ hố xí hợp vệ sinh thấp là nguy cơ tiềm tàng lây lan thành
dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm trong cộng đồng dân cư.
Tình hình vệ sinh môi trường ở miền núi phía Bắc chịu ảnh hưởng rất
lớn bởi điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội. Kinh tế còn nghèo nàn, văn hoá -
xã hội chưa phát triển nên sức khoẻ của con người chưa được quan tâm. Vệ
sinh môi trường ở khu vực này còn là hậu quả của những phong tục tập quán
lạc hậu, môi trường bị ô nhiễm nặng chủ yếu do chất thải của người và gia súc
không được xử lý hợp vệ sinh. Đa số đã xây dựng hố xí song phần lớn là hố xí
tạm, hố xí không đạt tiêu chuẩn vệ sinh [17]. Điều tra 214 hộ gia đình ở huyện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỉ lệ hộ gia đình không có hố xí là
25,52%, tỷ lệ hố xí không vệ sinh là 72,28% [34]. Một số vùng vẫn còn tập
quán phóng uế bừa bãi như người H'Mông ở một số bản vùng sâu huyện
Đồng Hỷ (Thái Nguyên) là 100% [16], [17].
1.2.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức thái độ thực hành về vệ sinh
môi trường.
1.2.2.1. Phong tục, tập quán, thói quen của các tộc người.
Việt Nam là một quốc gia nhiều dân tộc. Theo kết quả tổng điều tra dân
số toàn quốc 1999, cả nước có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có tiếng nói, phong

[17]. Đồng thời, văn hoá xã hội ở khu vực này cũng chậm phát triển. Trình độ
học vấn của người dân còn ở mức thấp: trên 50,9% tiểu học, từ cấp trung học
cơ sở trở lên chỉ có 47,1%, tỷ lệ mù chữ còn cao, vẫn còn nhiều xã, xóm bản
chưa có điện lưới quốc gia. Họ thường phải vật lộn với cuộc sống khắc
nghiệt, với mưu sinh hàng ngày, nên không đầu tư cho bảo vệ môi trường ở
mức cần thiết. Thực trạng trên rõ ràng đã ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi
những hành vi lành mạnh về sức khoẻ môi trường [22], [24].
1.2.2.3. Sự quan tâm của các ban ngành, đoàn thể về vệ sinh môi trường.
Vấn đề nâng cao nhận thức cho cộng đồng và giải quyết vấn đề vệ sinh
môi trường bằng tăng cường truyền thông giáo dục sức khoẻ, năng cao kiến
thức và thái độ của người dân về vệ sinh môi trường là hết sức cần thiết. Tuy
nhiên vì nhiều lý do mà các chương trình vệ sinh môi trường chưa đạt hiệu
quả mong muốn.
1.2.3. Chính sách của Quốc tế và của Đảng, Nhà nước ta về vệ sinh môi
trường:
1.2.3.1 Chính sách của Quốc tế. Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố lấy thập niên
1981-1990 làm thập niên cấp nước và vệ sinh Quốc tế. Năm 1992, Liên Hiệp
Quốc cũng đã chính thức chọn ngày 22 tháng 3 hàng năm là Ngày quốc tế về

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
nước nhắc nhở mọi người quan tâm hơn về nguồn nước [40]. Từ năm 1982
với sự tài trợ của tổ chức UNICEF, dự án cung cấp nước sinh hoạt nông thôn
bắt đầu được triển khai. Từ năm 1996 đến 2000 UNICEF điều chỉnh mục tiêu
chiến lược, kết hợp việc cung cấp nước sạch với giáo dục vệ sinh cơ bản; từ
năm 1999 dự án đã thu hẹp tập trung vào vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn
về nước sinh hoạt và các xã đặc biệt khó khăn của 37 tỉnh, thành phố. Tính
đến năm 2003, UNICEF đã hỗ trợ Việt Nam xây dựng trên 200.000 điểm cấp
nước, cung cấp nước sạch sử dụng trong sinh hoạt cho trên 20 triệu người dân
nông thôn. Chương trình đã làm thay đổi nhận thức của người dân trong tiếp


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
- Chủ hộ trong các hộ gia đình.
- Một số tài liệu thứ cấp như: hồ sơ, báo cáo, sổ sách lưu trữ về phòng
chống dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm ở các trạm y tế.
2.2. Địa điểm nghiên cứu:
Huyện Phổ Yên nằm phía Nam tỉnh Thái Nguyên. Gồm 15 xã và 3 thị

2
x  384 (người)
0,05
2

Chúng tôi làm tròn số nghiên cứu là N = 400 người.
2.4.2.2. Kỹ thuật chọn mẫu:
- Chọn huyện chủ đích: chọn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên là chọn chủ
đích.
Trên địa bàn huyện còn nhiều vấn đề cần truyền thông như tập quán sử
dụng phân tươi bón ruộng, nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để như
việc sử dụng nguồn nước sạch trong sinh hoạt, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh.
- Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên
+ Chọn xã: Ta chọn 50% số xã. Dùng phương pháp bốc thăm ngẫu
nhiên.
+ Mỗi xã chọn ngẫu nhiên khoảng 50% số xóm (= 10 xóm/xã), dùng
phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên.
+ Chọn hộ gia đình: Mỗi xóm chọn ngẫu nhiên 10 hộ gia đình.
+ Mỗi hộ gia đình: Chọn 1 người (chủ hộ).
2.4.3. Chỉ tiêu nghiên cứu:
2.4.3.1. Chỉ số về tình hình kinh tế văn hoá xã hội của các hộ gia đình điều
tra:
* Hộ nghèo: Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 -
2010:
Chuẩn này được tính theo mức thu nhập bình quân đầu người trong
hộ cho từng khu vực cụ thể như sau:
- Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.


19
đủ 2 tháng, có mái che, có cửa, có rãnh nước tiểu. Nếu là hố xí thấm hay tự
hoại: Sạch, không hôi, đủ nước dội, không có ruồi.
2.4.3.3. Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) về phòng chống
dịch:
Dựa trên KAP về biểu hiện của bệnh, xử trí bệnh và phòng bệnh.
Cách phân mức độ KAP trong nghiên cứu dựa vào kết quả cho điểm
theo KAP. Để việc cho điểm được chính xác, chúng tôi phân ra làm 3 loại
biến đó là biến kiến thức (K), biến thái độ (A) và biến thực hành (P) cho mỗi
vấn đễ cần nghiên cứu. Mỗi biến được tính tổng là 10 điểm, số điểm này sẽ
được chia ra trong các câu một cách phù hợp. Phân mức độ như sau:
Số điểm đạt được từ 7 - 10 điểm: Xếp loại tốt.
Số điểm đạt được từ 5 đến 6 điểm: Xếp loại trung bình.
Số điểm đạt được < 5 điểm: Xếp loại yếu.
2.4.4. Phương pháp điều tra:
Điều tra viên tiến hành phỏng vấn trực tiếp với đối tượng điều tra tại
các hộ gia đình. Kết quả được ghi chép vào phiếu in sẵn (có phụ lục kèm
theo).
2.4.5. Cán bộ điều tra:
Được tập huấn và hướng dẫn cách điều tra kỹ, hạn chế tối đa sai số.
2.4.6. Phương pháp khống chế sai số:
- Thiết kế các phiếu điều tra: Phiếu được nhóm nghiên cứu thiết kế
theo yêu cầu của chuyên đề. Phiếu xây dựng xong tiến hành điều tra thử
nghiệm sau đó chỉnh lý lại trước khi chế bản thành phiếu chính thức.
- Đội ngũ điều tra viên và giám sát viên được tập huấn nội dung điều
tra kỹ, thống nhất trước khi tiến hành thực hiện.
- Ghi chép đầy đủ thông tin trong phiếu.
- Các số liệu được làm sạch ngay tại cộng đồng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
Chƣơng 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tình hình chung tại các địa điểm điều tra:
Bảng 3.1.
Phân bố đối tƣợng điều tra theo lứa tuổi và giới:
Giới
Nhóm tuổi
Nam
Nữ
Tổng
SL
%
SL
%
SL
%
< 20
0
0
0
0
0
0
20-29
13
65
7
35

Tổng cộng
325
78,3
90
21,7
415
100

Chủ hộ Nam: 78,3%
Chủ hộ Nữ: 21,7%

Biểu 3.1. Phân bố đối tƣợng điều tra theo giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status