Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người dao tại một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh thái nguyên và thử nghiệm mô hình can thiệp - Pdf 40

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

HOÀNG ANH TUẤN

THỰC TRẠNG HÀNH VI VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
CỦA NGƯỜI DAO TẠI MỘT SỐ XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH CAN THIỆP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
THÁI NGUYÊN, NĂM 2014


2

5ĐẶT VẤN ĐỀ
Vệ sinh môi trường là một trong những vấn đề được quan tâm không chỉ ở
phạm vi một quốc gia, một khu vực mà đang là vấn đề được quan tâm trên phạm
vi toàn cầu bởi tầm quan trọng của nó với sức khỏe con người. Ở nhiều vùng
nông thôn, vệ sinh môi trường còn kém, chất thải của con người và gia súc chưa
được xử lý đúng cách và chưa đảm bảo hợp vệ sinh, tập quán dùng phân người
bón ruộng làm phát tán mầm bệnh ra môi trường xung quanh đã ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe người dân, đây là một trong những nguyên nhân
gây dịch bệnh đường tiêu hóa cho cộng đồng như tả, lỵ, thương hàn…[1], [5], [6].
Miền núi phía Bắc nước ta là một địa bàn chiến lược rất quan trọng về kinh
tế, chính trị và quốc phòng, là khu vực sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc ít

ngoài ra vườn và rừng (85,5%) [26],[40]. Để giải quyết vấn đề vệ sinh môi
trường, đã có một số chương trình can thiệp được triển khai ở các địa phương,
song chưa bao phủ hết các xã đặc biệt khó khăn vì vậy điều kiện vệ sinh môi
trường có thể chưa được cải thiện. Vậy câu hỏi đặt ra là hành vi vệ sinh môi
trường của người Dao tại một số xã đặc biệt khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên hiện
nay ra sao? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi vệ sinh môi trường của
người Dao nơi đây? Từ đó có những giải pháp nào phù hợp để cải thiện hành vi
vệ sinh môi trường cho người Dao? Để trả lời các câu hỏi trên, nghiên cứu đề
tài:“Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người Dao tại một số xã đặc biệt
khó khăn tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm mô hình can thiệp” được tiến hành
với mục tiêu sau:
1. Đánh giá thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người Dao tại một số
xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên năm 2011.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến hành vi vệ sinh môi trường của người
Dao tại một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên năm 2011.
3. Đánh giá kết quả thử nghiệm mô hình truyền thông thay đổi hành vi vệ sinh
môi trường cho người Dao tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


4

Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người Dao ở Việt Nam
1.1.1. Một số khái niệm về hành vi sức khỏe và các yếu tố liên quan
1.1.1.1. Khái niệm về hành vi sức khỏe
“Hành vi của con người là một tập hợp phức tạp của nhiều hành động,

người cùng chia sẻ trong cộng đồng, được thực hiện trong thời gian dài, truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhiều phong tục tập quán có thể trở thành niềm
tin trong các cộng đồng và thể hiện lối sống đặc trưng của từng dân tộc, ảnh
hưởng đến sức khoẻ [24], [110], [114], [116].
1.1.1.2. Các yếu tố liên quan đến hành vi sức khỏe
* Yếu tố bản thân: Với mỗi người chúng ta có thể có các suy nghĩ và tình
cảm khác nhau. Những suy nghĩ và tình cảm của chúng ta lại bắt nguồn từ các
hiểu biết, niềm tin, thái độ và quan niệm về giá trị. Đây chính là các yếu tố bên
trong của mỗi cá nhân. Chính các yếu tố như kiến thức, niềm tin, thái độ và
quan niệm về giá trị của mỗi cá nhân đã dẫn đến những quyết định của mỗi người
thực hành, hành vi này hay hành vi khác. Yếu tố thuộc về bản thân gồm có:
- Kiến thức: Kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua
quá trình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống. Mỗi người có thể thu
được kiến thức từ thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, những người xung
quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp. Kiến thức là một
trong các yếu tố quan trọng giúp con người có các suy nghĩ và tình cảm đúng đắn,
từ đó dẫn đến hành vi phù hợp trước mỗi sự việc. Kiến thức của mỗi người được
tích lũy trong suốt cuộc đời. Vai trò của ngành y tế và cán bộ y tế trong việc cung
cấp kiến thức cho người dân trong cộng đồng là rất quan trọng, thông qua việc
thực hiện nhiệm vụ truyền thông giáo dục sức khỏe (TT-GDSK).
- Niềm tin: Niềm tin là sản phẩm xã hội của nhận thức cá nhân kết hợp với
các kinh nghiệm thu được của cá nhân cũng như của nhóm hay cộng đồng
trong cuộc sống. Mỗi một xã hội đều hình thành và xây dựng niềm tin về tất cả
các khía cạnh của đời sống xã hội. Hầu hết các niềm tin có nguồn gốc từ lâu
đời và vì thế xã hội thường chấp nhận và ít khi đặt câu hỏi về giá trị của niềm
tin. Niềm tin thường bắt nguồn từ ông bà, cha mẹ và từ những người mà chúng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn

để duy trì và phát triển sức khỏe [11], [19], [92], [94], [104].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


7

* Tác động của những người xung quanh: Sống trong xã hội, mỗi người
đều có quan hệ và chịu ảnh hưởng của những người xung quanh. Tất cả chúng
ta đều chịu ảnh hưởng của những người khác trong mạng lưới quan hệ xã hội
phức tạp. Khi một ai đó được chúng ta coi là những người quan trọng thì chúng
ta thường dễ dàng nghe và làm theo những điều họ khuyên hoặc những việc họ
làm. Một số người muốn hành động nhưng những người khác lại có quan điểm
ngược lại. Những người nào có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi người hay của
cộng đồng sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh của cá nhân và cộng đồng cũng như nền
văn hóa cộng đồng. Người thực hiện TT-GDSK cần phát hiện những người có
vai trò tích cực, tạo ra các áp lực xã hội tốt cho tăng cường các hành vi có lợi
cho sức khỏe và hạn chế ảnh hưởng của những người cản trở thực hành hành vi
có lợi cho sức khỏe của đối tượng.
* Yếu tố nguồn lực: Để thực hành các hành vi nâng cao sức khỏe, phòng
chống bệnh tật cho người dân, cộng đồng hay cá nhân cần có các điều kiện nhất
định về nguồn lực. Nguồn lực cho thực hiện hành vi bao gồm các yếu tố như
thời gian, nhân lực, tiền, cơ sở vật chất trang thiết bị, thể chế, luật pháp... Nhiều
cá nhân có đủ kiến thức, họ hiểu rất rõ nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhưng vì
thiếu các điều kiện nguồn lực nên họ không thực hiện được hành vi mong
muốn. Tuy nhiên trong thực tế người TT-GDSK cần chú ý phát hiện giáo dục
một số đối tượng mặc dù họ có khả năng về nguồn lực nhưng lấy lý do thiếu
nguồn lực để từ chối hay trì hoãn thực hiện các hành vi sức khỏe lành mạnh.

1.1.2.2. Nhà tiêu hợp vệ sinh
Các loại nhà tiêu hợp vệ sinh theo Thông tư số 27/2011/TT-BYT Ban
hành qui chuẩn kỹ thuật Quố c gia về nhà tiêu - điề u kiê ̣n đảm bảo hợp vệ sinh
(QCVN 01:2011/BYT) của Bộ Y tế [17], bao gồm: Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại
chỗ, nhà tiêu chìm có ống thông hơi, nhà tiêu thấm dội nước, nhà tiêu tự hoại
dùng cho gia đình. Các loại nhà tiêu này được Bộ Y tế quy định là nhà tiêu hợp
vệ sinh về mặt kỹ thuật và đảm bảo các yêu cầu sau:
- Quản lý được phân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp
xúc với người, động vật và côn trùng.
- Có khả năng tiêu diệt được tác nhân gây bệnh có trong phân (vi rút, vi
khuẩn, đơn bào, trứng giun, sán) và không làm ô nhiễm môi trường xung quanh
[17], [31].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


9

1.1.2.3. Chuồng gia súc, gia cầm
Chuồng chăn nuôi hợp vệ sinh: Là chuồng trại được xử lý chất thải chăn
nuôi hợp vệ sinh bao gồm các loại:
- Chuồng xây có mái che, nền cứng có độ nghiêng để thoát nước thải, có
hố ủ phân và bể tự hoại 3 ngăn để xử lý phân và nước thải.
- Chuồng trại áp dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ vi sinh quy mô hộ
gia đình hoặc trang trại.
- Chuồng trại áp dụng công nghệ biogas để xử lý chất thải chăn nuôi…
1.1.3. Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người Dao
1.1.3.1. Hành vi sử dụng nguồn nước sạch ở người Dao

Trong khi đó, 75,4% số hộ cho biết rằng họ không xử lý nước trước khi ăn
uống. Đây là một tỷ lệ khá cao, bên cạnh đó còn 4,8% số hộ không biết rằng
nước dùng cho ăn uống cần được xử lý nước trước khi dùng. Người Dao cũng
như hầu hết các dân tộc thiểu số khác đều không xử lý trước khi ăn uống bằng
các phương pháp có hóa chất, hoặc đánh phèn, họ chủ yếu chỉ dùng cách để
lắng (10,6%) hoặc lọc (9,1%) [27], [45], [48], [99].
1.1.3.2. Hành vi sử dụng nhà tiêu của người Dao
Người Dao kể tên các loại nhà tiêu hợp vệ sinh còn rất hạn chế. Giống
như ở các dân tộc thiểu số khác, đa số những người Dao được hỏi (73,2%)
không biết tên bất kỳ loại nhà tiêu hợp vệ sinh nào. Số người nêu được tên chủ
yếu là nhà tiêu tự hoại (20%) và nhà tiêu hai ngăn (10,8%); rất ít người nói
được tên nhà tiêu thấm dội nước (0,9%). Người Dao ít biết về tên các bệnh có
thể gây ra do sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh. Tỷ lệ người không biết bất
kỳ một bệnh nào chiếm tới 63,9% số người được hỏi, cao hơn so với một số
dân tộc như Tày, Thái, Mường, Nùng. Tỷ lệ người biết về tên bệnh nhiều nhất
là đối với bệnh tiêu chảy (28,7%), còn các bệnh khác đều ít, như bệnh giun
(5,5%), bệnh mắt (2,1%)... Đa số người Dao (59,5%) trong số được phỏng vấn
đã không biết bất kỳ một cách nào để phòng bệnh tiêu chảy và bệnh giun.
Những cách phòng bệnh được nhiều người đưa ra là: vệ sinh nhà cửa (19,1%)
và không uống nước lã (19%), sau đến không ăn rau sống (10,9%)... nhưng chỉ
có 6,2% số người được hỏi biết phải sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh. Có thể nói
rằng dân tộc Dao là một trong nhiều dân tộc thiểu số còn thiếu hiểu biết về sử
dụng nhà tiêu hợp vệ sinh để phòng bệnh tiêu chảy và bệnh giun ở trẻ em. Đa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


12

5,1% là nhà tiêu hai ngăn, 0,3% là nhà tiêu tự hoại, 0,3% là nhà tiêu thấm dội
nước. Trong đó tỷ lệ đạt tiêu chuẩn về xây dựng nhà tiêu hai ngăn ở người Dao
còn rất thấp, chỉ chiếm 0,7% trong tổng số hộ được điều tra. Nhìn chung chỉ có
loại nhà tiêu thấm dội nước là đảm bảo đạt tiêu chuẩn xây dựng, đạt tiêu chuẩn
về bảo quản và sử dụng hợp lý. Gần một nửa số hộ người Dao được điều tra
(44,6%) đang sử dụng các loại nhà tiêu không hợp vệ sinh và gần một nửa số
còn lại không có nhà tiêu. Những hộ gia đình người Dao không có nhà tiêu đều
đi vệ sinh ra vườn và rừng (85,5%), rất ít người đi nhờ nhà người khác (4,5%)
hoặc đi vào chuồng gia súc (10%), [26], [31].
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Thắng [65] về VSMT ở người Dao - Hợp
Tiến (Thái Nguyên) cho thấy kiến thức thái độ thực hành của người Dao ở khu
vực này về vấn đề VSMT còn chưa tốt thể hiện tỷ lệ người dân có kiến thức,
thái độ, thực hành đạt về VSMT còn thấp như: Kiến thức đạt 19,13%; Thái độ
đạt 15,85.8%; Thực hành đạt 10,93%. Một số yếu tố liên quan tới kiến thức thái
độ thực hành về vấn đề VSMT của người Dao - Hợp Tiến là yếu tố kinh tế,
tuổi, giới và trình độ học vấn. Một số nghiên cứu khác về người Dao cũng thu
được kết quả tương tự [27], [42], [60].
Nhìn chung hành vi VSMT sống của người dân tộc thiểu số các tỉnh miền
núi phía bắc còn chưa tốt, nhất là người Dao. Qua đó chúng ta thấy đây là một
trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đó là hành vi
về VSMT, nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh còn kém. Đặc biệt thái độ về vai trò
và tác hại của nguồn nước, nhà tiêu không hợp vệ sinh liên quan đến sức khoẻ
và bệnh tật của con người. Đây cũng là vấn đề quan trọng mà ngành y tế cần

dân số 751.067 người, chiếm 0,87% dân số cả nước, đứng hàng thứ 9 nhóm dân
tộc cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố, đông thứ 2 trong các nước có
người Dao trên thế giới. Người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang
(109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại
Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và
12,1% tổng số người Dao tại Việt Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4%
dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng số người Dao tại Việt Nam), Yên Bái (83.888
người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng số người Dao tại Việt
Nam), Thái Nguyên (25.360 người, chiếm 2,3% dân số toàn tỉnh và 3,4% tổng
số người Dao tại Việt Nam), Quảng Ninh (59.156 người, chiếm 5,2% dân số
toàn tỉnh), Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh), Cao Bằng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


14

(51.124 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh), Lai Châu (48.745 người, chiếm
13,2% dân số toàn tỉnh), Lạng Sơn (25.666 người)… [27], [72]. Người Dao
thường sống xen kẽ và biết tiếng nói của các dân tộc cùng địa phương và giữ
gìn bản sắc dân tộc mình. Họ thường sống nơi thung lũng, đồi thấp hoặc quanh
chân núi, dọc khe suối, nơi đầu nguồn nước. Họ sống thành từng cụm, từng bản
nhỏ riêng và tụ tập xung quanh người có uy tín trong cộng đồng người Dao. Có
2 loại hình xóm bản người Dao:
- Xóm bản cư trú phân tán: Với những nhóm người Dao du canh, du cư,
thường chỉ 5 - 7 hộ. Kiểu xóm bản này cản trở trong phong trào tổ chức sản
xuất, xây dựng đời sống kinh tế, văn hóa và chăm sóc sức khỏe.
- Xóm bản cư trú tập trung: Thường ở những nơi đã định canh - định cư

người Dao thường đẻ nhiều, đông con dẫn đến cuộc sống ngày càng nghèo
khó. Ngày nay mặc dù hầu hết đồng bào Dao đã định cư, nhưng tình trạng du
canh nương rẫy vẫn còn tồn tại. Trong những năm gần đây được sự quan tâm
của Đảng và Chính phủ đã có nhiều chương trình được triển khai nhằm thực
hiện xóa đói giảm nghèo, đời sống kinh tế xã hội của đồng bào Dao đang
được cải thiện. Tuy nhiên đời sống kinh tế của đại đa số hộ gia đình người
Dao hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nghèo đói là nguyên nhân chính
gây bệnh tật ở người Dao [26], [27].
- Tập quán xây dựng nhà ở: Theo Đàm Khải Hoàn, người Dao ở miền núi
phía Bắc đa số ở nhà đất. Họ cho rằng ở nhà nền đất mới có chỗ để cúng Bàn
Vương. Trong nhà thường được chia làm nhiều ngăn như các phòng ngủ, phòng
kho, gian bếp... trên gác thường rải gỗ hoặc ván để chứa thóc rẫy, ngô và các
loại dụng cụ gia đình khác. Nhà người Dao thường làm mái thấp, với cách bày
trí như trên làm cho nhà luôn bị thiếu ánh sáng. Hơn nữa tập quán đun nấu trong
nhà gây ô nhiễm khói nặng, hầu hết đàn ông và nam thanh niên người Dao hút
thuốc lào hoặc thuốc lá, càng làm tăng thêm tình trạng ô nhiễm khói, do đó
người Dao dễ mắc các bệnh về hô hấp, nhất là trẻ em. Ngày nay cùng với sự phát
triển chung của toàn xã hội, nhiều căn nhà người Dao ở vùng định canh, định cư
đã thay đổi. Tuy nhiên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa thì thay đổi không đáng kể
[42]. Một nghiên cứu về người Dao Đỏ cho thấy họ thường ở nhà đất nằm dưới
chân đồi, cạnh khe suối để dẫn được nước về đến tận bếp. Nhà ở của người Dao
làm rất thấp là do ngày xưa họ thường làm treo leo trên lưng chừng đồi nên làm
nhà thấp để tránh gió bão, đến bây giờ vẫn thành thói quen. Người Dao ở nhà đất
cho phù hợp với phong tục cúng bói (việc cúng bói phải nhảy múa nhiều). Một
ngôi nhà của người Dao thường làm ba phòng (gian); một phòng khách, một
phòng bếp và một phòng ngủ. Phòng ngủ gọi là “buộng lộn”, chạy dọc theo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


17

Tăng tỷ lệ bệnh nhiễm
trùng và ký sinh trùng

Ô nhiễm đất, nước
và thực phẩm

TỶ LỆ SỬ DỤNG
NHÀ TIÊU HỢP
VỆ SINH THẤP

Sử dụng nhà tiêu
không đúng cách

Tỷ lệ nhà tiêu
Không hợp vệ sinh cao

- Cộng đồng không chấp nhận.

- Kỹ thuật xây nhà tiêu chưa đúng.

- Dân thiếu hiểu biết về nhà tiêu
(dân trí thấp kém, TT-GDSK
kém..).


đồng. Sự tham gia của cộng đồng đã được vận dụng thành công trong nhiều
chương trình CSSKBĐ ở nước ta cũng như nhiều nước khác trên thế giới [43].
Cộng đồng luôn có những tiềm năng to lớn, có nhiều sáng kiến, sáng tạo trong
tham gia xây dựng kế hoạch và thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe.
Nếu biết khai thác đạt các nguồn lực của cộng đồng sẽ tạo nên sức mạnh tổng
hợp giải quyết được nhiều vấn đề sức khỏe, bệnh tật quan trọng kể cả vấn đề
VSMT. Nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đã được rút ra từ sự tham gia của
cộng đồng vào các chương trình giải quyết các vấn đề sức khỏe như cung cấp
nước sạch, VSMT, dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe sinh sản... Ở Việt Nam cộng
đồng đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe, đặc
biệt là trong các phong trào vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch. Hiện nay huy động
cộng đồng rất phù hợp với chủ trương xã hội hoá công tác y tế. Đó chính là giải
pháp thích hợp để tiếp tục huy động tiềm năng to lớn của cộng đồng và các tổ
chức xã hội tham gia giải quyết các vấn đề bệnh tật, sức khỏe cộng đồng một
cách chủ động, có tổ chức, có kế hoạch [29], [44], [77], [85], [125].
1.3.2. Huy động cộng đồng thực hiện vệ sinh môi trường
Huy động cộng đồng tham gia thực hiện VSMT là một quá trình hoạt động
do người cán bộ y tế tham mưu cho chính quyền địa phương thực hiện để tạo ra
sự ủng hộ, hỗ trợ, nhất trí từ các bên liên quan trong cộng đồng, nhằm tạo ra một
môi trường mọi người đều có trách nhiệm để đạt được những mục tiêu của
chương trình [33], [42], [84], [107].
1.3.2.1. Các bên liên quan trong thực hiện vệ sinh môi trường
- Các tổ chức đang có ở địa phương như: tổ chức Đảng, chính quyền, các
ban ngành, đoàn thể ở địa phương (xã, xóm)... Hoạt động của những tổ chức này
có liên quan rất nhiều đến vấn đề VSMT. Chính vì vậy cần huy động các tổ chức
này tham gia phối hợp với trạm y tế xã để làm tốt công tác VSMT. Muốn huy
động được các tổ chức này cán bộ y tế cần phải truyền thông cho các cán bộ lãnh
đạo các tổ chức, họ phải thật thông, tức là họ phải hiểu rõ nội dung VSMT và tác
hại của nó với sức khỏe cộng đồng. Họ phải có quan điểm ủng hộ tích cực, có

vậy, trước hết cần truyền thông giáo dục cho chính các lãnh đạo các Ban này.
VSMT kém chính là nguyên nhân chính có thể gây ra các vụ dịch chết người ở
cộng đồng. Mọi người cần chung tay thực hiện VSMT thì các nguy cơ dịch bệnh
mới được khống chế và người dân mới được bảo vệ sức khỏe.
- Người dân trong cộng đồng: Không phải bao giờ người ta cũng hiểu tại
sao mình lại cần phải cố gắng nâng cao sức khoẻ bằng những nỗ lực của chính
mình. Đôi khi họ cảm thấy rằng chăm sóc sức khoẻ là trách nhiệm của Nhà
nước, tất nhiên Nhà nước có trách nhiệm về vấn đề này. Việc nâng cao lòng tin
của người dân vào các lợi ích của dịch vụ chăm sóc sức khỏe là nhiệm vụ tăng
cường TT-GDSK của cán bộ y tế. Truyền thông để mọi thành viên trong cộng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


20

đồng nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề VSMT để họ tự nguyện tham
gia. Sự hợp tác tích cực và sự tham gia của cộng đồng thể hiện từ bước thảo
luận bàn bạc tại sao phải xây dựng các CTVS hay xây dựng các công trình
VSMT ở địa phương như thế nào đến việc tổ chức thực hiện. Thu hút sự tham
gia của cộng đồng đòi hỏi một sự đầu tư rất lớn về nguồn nhân lực, cũng như
thời gian và công sức. Không một cán bộ y tế nào có thể thực hiện sự đầu tư
ấy một cách có hiệu quả mà không có sự cam kết của cộng đồng. Các cán bộ
được giao nhiệm vụ phải nhận thức được việc làm cho cộng đồng hiểu điều đó
có giá trị hơn nhiều so với khả năng chuyên môn và kiến thức kỹ thuật. Mọi
người cần phải cam kết thực hiện chương trình. Khi mọi người nhận ra đ iều
đó và tham gia thì các chương trình VSMT sẽ được triển khai thực hiện rất
tốt. Chúng ta muốn huy động người dân trước tiên chúng ta phải huy động

Dựa trên kết quả phân tích các bên liên quan, người cán bộ có thể tạo dựng được
sự hỗ trợ từ họ nhằm giúp đạt được mục tiêu đề ra. Các bên liên quan có thể chia
thành 4 nhóm:
- Những người ra quyết định, hoạch định chính sách, lập pháp: đây là
những người có quyền lực, có thẩm quyền đề ra các quyết định và tổ chức thực
hiện nhằm tạo ra những thay đổi mong muốn. Những người ra quyết định là
những đối tượng quan trọng nhất trong chương trình. Họ có tác động rất lớn đến
chương trình vận động. Mục đích của huy động nhằm đạt được sự thay đổi các
quyết định có lợi với chương trình VSMT. Đó là lãnh đạo xã (Bí thư, Chủ tịch),
những người có thể ra các văn bản nghị quyết hay quyết định huy động nguồn
lực cho chương trình. Họ cần phải được huy động đầu tiên và tham gia tích cực
thì khả năng thực hiện thành công chương trình mới cao.
- Các đối tác và người ủng hộ: bao gồm các cá nhân, các nhóm và các tổ
chức cam kết cùng giải quyết vấn đề trên cùng quan điểm, sẵn sàng giành thời
gian và nguồn lực cho việc thúc đẩy thực hiện mục tiêu của chương trình VSMT.
Họ là ai? Ở địa phương đó là các cơ quan, doanh nghiệp đóng trên địa bàn, ít
nhiều họ cũng có thể chia xẻ những khó khăn với chúng ta. Quan trọng là đặt
vấn đề thế nào để họ ủng hộ giúp đỡ hay tài trợ cho các hoạt động VSMT ở địa
phương. Người cán bộ y tế cần xác định xem sự đóng góp của các đối tác đối với
vấn đề VSMT cụ thể là gì? Những yếu tố có thể làm tăng cường mối quan hệ đối
tác có thể bao gồm cả việc thỏa thuận về mục tiêu, mục đích của mối quan hệ đối
tác, chia sẻ thông tin và bài học thu được, giao tiếp cởi mở và chân thực, gặp gỡ
và trao đổi thông tin thường xuyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


22


http://www.lrc.tnu.edu.vn


23

Bước 2: Tìm hiểu vấn đề và thu thập số liệu: Sử dụng các báo cáo, thống kê
có sẵn, các chỉ số đánh giá sức khỏe cộng đồng, các thông tin từ cơ quan y tế và
các đơn vị liên quan của địa phương.
Bước 3: Xây dựng mục tiêu chung, cũng như mục tiêu cụ thể để huy động
cộng đồng.
Bước 4: Xác định các giải pháp và các hoạt động cụ thể nhằm vào các bên
có liên quan, các cán bộ quản lý và đại diện phương tiện thông tin đại chúng của
địa phương.
Bước 5: Xây dựng các cộng cụ đánh giá để đo lường thành công của kế
hoạch huy động đã đề ra [40], [83], [107], [118].
1.3.3. Một số mô hình huy động cộng đồng truyền thông giáo dục sức khỏe để
cải thiện hành vi sức khỏe của người dân
1.3.3.1. Thế giới
a) Mô hình nhân viên y tế cộng đồng ở Zimbabue
Từ năm 1987 có hơn 5.000 nhân viên y tế công cộng được đào tạo trước
khi Bộ Y tế chuyển giao cho Bộ Phụ nữ. Nhân viên y tế cộng đồng được cộng
đồng lựa chọn, phải là người lớn và có uy tín trong cộng đồng, biết đọc biết viết.
Các nhân viên y tế cộng đồng được đào tạo hai tháng lý thuyết và một tháng thực
hành. Khi thực hiện nhiệm vụ tại xóm/bản họ chịu sự giám sát của người lãnh
đạo cộng đồng và các y tá từ các bệnh viện. Họ được nhận số tiền khuyến khích
là 35 đôla Zimbabue/1 tháng, một chiếc xe đạp và một túi thuốc, cộng đồng
không chi gì thêm, mỗi năm được đào tạo lại một lần. Mô hình chăm sóc sức
khoẻ này thể hiện rõ vai trò lãnh đạo cộng đồng, những người có uy tín tại cộng
đồng, điều này rất quan trọng vì các hoạt động y tế tại địa phương (thôn/bản)

Cách tiếp cận “Tiếp thị vệ sinh - SanMark” được Tổ chức phát triển quốc
tế (International Development Enterprises - gọi tắt là IDE), là tổ chức Phi chính
phủ (NGO) của Hoa kỳ, hoạt động trong lĩnh vực cấp nước và VSMT tại Việt
Nam [25]. Cách tiếp cận này áp dụng hướng tiếp cận theo định hướng thị trường
(SanMark) nhằm khai thác lợi thế của tổ chức phi chính phủ (NGO), thành phần
tư nhân, và các cơ quan quản lý nhà nước để tiếp cận và cải thiện vệ sinh cho các
hộ dân ở vùng nông thôn nghèo một cách bền vững. Nguồn vốn của chương
trình sẽ không sử dụng để tài trợ cho việc mua nguyên vật liệu và xây nhà tiêu
mà để tập trung vào thực hiện các hoạt động phát triển thị trường vệ sinh. Tiếp
thị vệ sinh - SanMark bao gồm các hoạt động chính như sau:
- Đánh giá thị trường vệ sinh: Nghiên cứu thị trường vệ sinh ở cả 2 phía:
“Cung” - “Cầu” và môi trường của thị trường, xác định các cản trở cũng như cơ
hội phát triển của thị trường vệ sinh tại địa phương. Trên cơ sở các kết quả từ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status