Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người Dao tại một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm mô hình can thiệp - Pdf 41

Header Page 1 of 258.
B
ÊN

HOÀNG ANH TU

TH

ÀNH VI V

C

Ã

T

ÊN VÀ TH

Chuyên ngành: V
Mã s

TÓM T

ÃH
ÀT
62.72.01.64

LU

THÁI NGUYÊN -


t
Vào h

Có th

........ gi

ên.

ày........ tháng......

4.

ìm hi
ên

Trung tâm h

Footer Page 2 of 258.

ên


Header Page 3 of 258.
DANH M

CÁC CÔNG TRÌNH CÓ

1. Hoàng Anh Tu
(2014), "Th

vệ sinh môi trường (VSMT) còn chưa tốt. Người Dao sống chủ yếu ở
vùng sâu, vùng xa khắp vùng biên giới Việt Trung từ tỉnh Lai Châu
tới tỉnh Hà Giang. Đặc điểm chung của người Dao là kinh tế, văn
hóa, xã hội chưa phát triển, tình trạng VSMT còn kém. Câu hỏi đặt
ra là thực trạng hành vi VSMT của người Dao ở một số xã đặc biệt
khó khăn của tỉnh Thái Nguyên hiện nay như thế nào? Yếu tố nào
gây ảnh hưởng đến hành vi VSMT của người Dao? Và mô hình
truyền thông giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) có thể cải thiện được
hành vi VSMT cho người Dao không? Để trả lời các câu hỏi trên
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng hành vi vệ sinh
môi trường của người Dao tại một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái
Nguyên và thử nghiệm mô hình can thiệp” với các mục tiêu:
1. Đánh giá thực trạng hành vi VSMT của người Dao tại một
số xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên năm 2011.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến hành vi VSMT của người
Dao tại một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên.
3. Đánh giá kết quả thử nghiệm mô hình truyền thông thay đổi
hành vi vệ sinh môi trường cho người Dao xã Vũ Chấn, huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Footer Page 4 of 258.


2

Header Page 5 of 258.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
1. Kết quả của luận án đã mô tả được bức tranh tổng thể thực trạng
hành vi VSMT của người Dao sống ở các xã đặc biệt khó khăn
tỉnh Thái Nguyên.

Header Page 6 of 258.
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Thực trạng hành vi VSMT của người Dao ở Việt Nam
Theo định nghĩa của WHO “Hành vi của con người là một tập
hợp phức tạp của nhiều hành động, mà những hành động này lại chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan cũng
như khách quan”.
Hành vi luôn chịu tác động của các yếu tố bên trong như kiến
thức, thái độ, niềm tin, giá trị, kinh nghiệm của cá nhân về thực hành,
hành vi đó và các yếu tố bên ngoài như pháp luật, qui định, gia đình,
bạn bè, những người có uy tín... Hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần, dần
dần trở thành lối sống. Lối sống còn chịu tác động của các yếu tố nhân
chủng học, văn hóa, xã hội, tâm lý... Lối sống là tập hợp các hành vi,
tạo nên cách sống của con người, bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như:
Thực hành vệ sinh cá nhân, sử dụng các công trình vệ sinh, tập quán
sinh hoạt của cá nhân, gia đình và cộng đồng, phong tục tập quán…
Mỗi hành vi là biểu hiện cụ thể ra bên ngoài và chịu tác động của
nhiều yếu tố cấu thành đó là kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) và
niềm tin của con người trong một sự việc hay hoàn cảnh nhất định.
1.1.1. Hành vi sử dụng nguồn nước sạch ở người Dao
Kết quả điều tra của Cục Y tế dự phòng và môi trường năm 2010
về điều kiện VSMT của một số dân tộc thiểu số Việt Nam cho thấy
người Dao chủ yếu dùng nước suối đầu nguồn và giếng khơi, rất ít
người dùng nước máy, nước mưa và nước giếng khoan: 57,6% số hộ
dùng nước suối đầu nguồn, 18,3% số hộ dùng nước giếng khơi; hộ
dùng các nguồn nước khác rất ít (0,7% số hộ dùng nước giếng
khoan); không hộ nào dùng nước máy và nước mưa. Tuy vậy 2,1%
số hộ vẫn dùng nước sông, ao, hồ và 21,4% còn dùng các nguồn
nước khác không thuộc các nguồn nước sạch. Gần nửa số hộ người
Dao trong điều tra (49,7%) đã thừa nhận còn uống nước lã.

Dài, Dao Quần Trắng,... Mặc dù, họ có nhiều nhóm người khác nhau
như vậy nhưng ngôn ngữ của họ là thống nhất để đảm bảo mối quan
hệ gắn kết giữa các cộng đồng người Dao với nhau. Các nhóm Dao
có tương đồng về phong tục, tập quán, hình thái kinh tế, tín ngưỡng.
1.3. Một số mô hình TT-GDSK thay đổi hành vi VSMT
* Mô hình nhân viên y tế cộng đồng ở Zimbabue: Nhân viên y tế

Footer Page 7 of 258.


5

Header Page 8 of 258.
cộng đồng được cộng đồng lựa chọn là những người có uy tín trong
cộng đồng, biết đọc biết viết và được đào tạo. Mô hình chăm sóc sức
khoẻ này thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của những người có uy tín tại
cộng đồng.
* Cách tiếp cận “Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ - CLTS
- Community led total sanitation”: CLTS là phương pháp nhằm đạt
được và duy trì tình trạng không phóng uế bừa bãi thông qua việc
hướng dẫn cộng đồng phân tích thực trạng vệ sinh, thói quen đi vệ
sinh và hậu quả của nó, từ đó có hành động tập thể nhằm không
phóng uế bừa bãi ra môi trường (UNICEF -2009).
* Cách tiếp cận “Tiếp thị vệ sinh - SanMark”: tiếp cận theo
định hướng thị trường nhằm khai thác lợi thế của tổ chức phi chính
phủ, thành phần tư nhân, và các cơ quan quản lý nhà nước để tiếp
cận và cải thiện vệ sinh cho các hộ dân ở vùng nông thôn nghèo một
cách bền vững. Nguồn vốn của chương trình sẽ không sử dụng để tài
trợ cho việc mua nguyên vật liệu và xây nhà tiêu mà để tập trung vào
thực hiện các hoạt động phát triển thị trường vệ sinh (Tổ chức IDE Hoa Kỳ).

huyện Đồng Hỷ.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 7/2011 đến tháng 7/2014, thời gian can thiệp 18 tháng
từ tháng 8/2011 đến tháng 4/2013.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp
trước sau có đối chứng, kết hợp định lượng và định tính.
2.4.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.2.1. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu cắt ngang
* Cỡ mẫu: cỡ mẫu ước tính dựa trên tỷ lệ người Dao có hành vi
sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh (HVS) theo kết quả nghiên cứu trước là
0,25, mức tin cậy 95% và d = 0,03.

n  Z12 / 2

Footer Page 9 of 258.

pq
d2


7

Header Page 10 of 258.
Từ công thức trên tính được n = 801, làm tròn thành 840. Cỡ
mẫu được phân bổ ngang bằng cho 4 xã, mỗi xã 210 người.
* Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn chủ đích các xã người Dao trong
danh mục xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 164/2006/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ. Lấy hộ gia đình người Dao là đơn vị
mẫu, mỗi xã chọn 210 hộ gia đình người Dao theo phương pháp



8

Header Page 11 of 258.
2 2 Z 1  Z 1  

2

n

 1   2  2
Thay vào công thức tính được n = 99, làm tròn thành 100 mẫu/xã.
* Kỹ thuật chọn mẫu: Trong các hộ gia đình được phỏng vấn,
chọn ngẫu nhiên mỗi xã 100 hộ để lấy mẫu đất xét nghiệm tại các vị
trí: trong nhà, ngoài sân, trên đường ra nhà tiêu và xung quanh nhà
tiêu. Mẫu xét nghiệm trứng giun đũa trong đất được thực hiện tại 2
xã Vũ Chấn (can thiệp) và Liên Minh (đối chứng) tại 2 thời điểm
trước và sau can thiệp.
2.4.2.4. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính:
- Thảo luận nhóm: Mỗi xã tiến hành 02 cuộc thảo luận vào 2
thời điểm trước và sau can thiệp với nhóm lãnh đạo cộng đồng và
nhóm người dân đại diện cho cộng đồng người Dao.
- Phỏng vấn sâu: 5 người Dao có uy tín trong các bản.
2.4.3. Nội dung can thiệp
2.4.3.1. Phương pháp xây dựng mô hình can thiệp
Bước 1: Xác định nội dung cần huy động để giải quyết vấn đề
hành vi VSMT.
Bước 2: Tìm hiểu vấn đề và thu thập số liệu.
Bước 3: Xây dựng mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể để huy động

hành kèm theo Quyết định số 2570/QĐ - BNN - TCTL, ngày
22/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Hành vi chung về VSMT của người Dao được đánh giá qua
phỏng vấn, quan sát và lượng hóa bằng cách cho điểm trên nguyên
tắc trả lời đúng được 2 điểm, đúng nhưng không đầy đủ được 1 điểm,
không biết hoặc trả lời sai được 0 điểm. Dựa trên cắt đoạn 50% của
tổng số điểm chia hành vi VSMT thành 2 mức: đạt: ≥ 50% tổng số
điểm, chưa đạt: < 50% tổng số điểm.
2.4.4.2. Nhóm chỉ số về yếu tố liên quan đến hành vi VSMT của
người Dao
- Trình độ học vấn: phân loại theo bậc học ở trình độ cao nhất.
- Hộ nghèo: mức thu nhập bình quân từ theo quy định như là
400.000đồng/người/tháng (từ 4.800.000đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ có phương tiện truyền thông (PTTT): là những hộ gia đình
có đài, tivi, báo chí... còn hoạt động, đang sử dụng được.
- Kiến thức VSMT: Đạt (≥50%), chưa đạt (
Đối tượng tham gia tự nguyện, họ có thể từ chối tham gia ở bất cứ
thời gian nào.
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng hành vi VSMT của người Dao tại 4 xã đặc biệt
khó khăn
Bảng 3.2. Thực trạng hành vi sử dụng nước sinh hoạt và sử lý
nước thải của các hộ gia đình người Dao 4 xã nghiên cứu
Số lượng
(n = 840)

Tỷ lệ
(%)

Số hộ sử dụng nước sạch

388

46,3

Số hộ sử dụng nước giếng đào

352

41,9

Số hộ sử dụng nước mưa
Số hộ sử dụng nước máng lần

36
374


Sử dụng nước

Nhận xét: Hành vi của người Dao ở vùng sâu chủ yếu sử dụng
nước máng lần (44,5%) và nước giếng đào (41,9%). Tỷ lệ hộ gia
đình người Dao có nước sạch còn thấp, mới đạt 46,3%. Nước thải
sinh hoạt phần lớn chảy trực tiếp ra ruộng vườn hoặc ao hồ, mới chỉ
có 17,4% số hộ có hố chứa nước thải.
Bảng 3.3. Thực trạng hành vi sử dụng nhà tiêu của các hộ gia đình
người Dao 4 xã nghiên cứu
Hành vi quản lý phân người
Số hộ có nhà tiêu

Footer Page 14 of 258.

Số lượng
(n = 840)
247

Tỷ lệ
(%)
29,4


12

Header Page 15 of 258.
Số hộ không có nhà tiêu

593

Số hộ có nhà tiêu khác (thùng, cầu…)

9

1,1

Số hộ phóng uế ra rừng, ruộng, vườn
Số hộ đi đại tiện nhờ hàng xóm

572
21

68,1
2,5

Số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh

140

16,7

Số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh sử dụng đúng

42

5,0

Nhận xét: Tỷ lệ hộ gia đình người Dao có nhà tiêu thấp
(29,4%). Đa số người Dao phóng uế bừa bãi ra môi trường xung
quanh như rừng, ruộng, vườn (68,1%), đi nhờ hàng xóm (2,5%).

30,1

Số hộ có chuồng gia súc, gia cầm cách nhà
ở > 10m

96

11,4

Hành vi quản lý phân gia súc
Số hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm

Footer Page 15 of 258.


13

Header Page 16 of 258.
Số hộ để chất thải gia súc, gia cầm bừa bãi,
không xử lý

473

56,3

Số hộ có hố chứa chất thải gia súc nhưng
không có nắp đậy

295


Số hộ có sử dụng phân hóa học

517

61,5

Số hộ có sử dụng phân người
Số hộ có sử dụng phân gia súc

76
527

9,1
62,7

Số hộ sử dụng phân tươi

382

45,5

Số hộ sử dụng phân ủ

144

17,1

Số hộ ủ phân < 3 tháng
Số hộ ủ phân 3- 6 tháng


(n = 840)

Tỷ lệ
(%)

Số hộ vứt rác thải bừa bãi không xử lý

585

69,6

Số hộ tập trung rác thải vào hố để chôn

77

9,2

Số hộ tập trung rác thải vào để đốt
Số hộ chôn, đốt bao bì, chai lọ HCBVTV

178
171

21,2
20,4

Số hộ vứt bao bì, chai lọ HCBVTV ra ruộng, sông suối

656



Nhận xét: Tỷ lệ hộ gia đình người Dao vứt rác thải bừa bãi
không xử lý gì chiếm tỷ lệ cao (69,6%). Đặc biệt là rác thải của
HCBVTV bị vứt bỏ ngay tại ruộng, vườn, sông suối (78,1%) và rửa
dụng cụ phun HCBVTV ở mương, suối (69,0%.)

Footer Page 17 of 258.


15

Header Page 18 of 258.

Biểu đồ 3.1. Đánh giá hành vi vệ sinh môi trường của người Dao
tại 4 xã nghiên cứu
Nhận xét: Tỷ lệ người Dao có hành vi đúng về VSMT còn rất
thấp, chỉ đạt 3,3%. Thấp nhất là hành vi quản lý và sử dụng phân gia
súc (0,1%) và phân người (4,0%).
3.2. Một số yếu tố liên quan đến hành vi vệ sinh môi trường của
người Dao
Kết quả bảng 3.7 đến bảng 3.11 cho thấy có một số yếu tố liên
quan như trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, kiến thức, thái độ về
VSMT (PR>1 p1).
Những người có thái độ chưa đạt về VSMT có tỷ lệ không xử lý
phân gia súc, gia cầm cao gấp 1,45 lần những người có thái độ đạt về
VSMT (p

1,7

137

89,5

16

560
252

98,9
92,0

Phương tiện TT
Không có


209
603

Kiến thức VSMT
Chưa đạt
Đạt
Thái độ về VSMT
Chưa đạt
Đạt

THCS trở lên


1,03
(1,01-1,06)


Header Page 20 of 258.
- Ban, ngành, đoàn thể thường xuyên lồng ghép nội dung
TT-GDSK về VSMT vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội
ở địa phương.
- Trường tiểu học nói chuyện VSMT cho học sinh mỗi tháng
01 lần.
- Trạm y tế tư vấn cho người dân đến nhận dịch vụ y tế về VSMT.
- Mỗi tháng nhân viên y tế thôn bản vận động 10 - 15 gia đình
làm nhà tiêu chìm.
- Sinh viên trường Y lồng ghép việc thực hành tại cộng đồng
TT-GDSK về VSMT cho người dân các bản người Dao.
* Hoạt động giám sát
- Tuyến xã giám sát các hoạt ðộng ở thôn bản mỗi tháng 1 lần.
- Nhóm nghiên cứu 2 tháng/lần tham gia giao ban cùng Ban chỉ
đạo xã và đến một số bản giám sát các hoạt động TT-GDSK tại đây.
3.3.2. Kết quả hoạt động của mô hình
3.3.2.1. Công tác tập huấn nhân lực tham gia mô hình nghiên cứu
Bảng 3.14. Kết quả tập huấn cho các thành viên tham gia mô hình
Thời điểm
Mức độ
kiến thức VSMT

Trước tập huấn
Số
Tỷ lệ
lượng
(%)

Sau tập huấn
Số


40

100,0

40

100,0

p


810

Giáo viên/Học sinh tiểu học xã

0

510

654

Sinh viên trường CĐYTTN và
ĐHYDTN

10

100

550

Tổng cộng

224

1.040

5.774

Nhận xét: Có 5.774 số lượt người được nghe TT- GDSK về
VSMT thông qua 224 cuộc họp và 1.040 buổi truyền thông, tư vấn
VSMT tại hộ gia đình. Đóng góp nhiều trong hoạt động này đó là vai


115

54,8

25,8

0,05

KAP về VSMT

Kiến thức
đạt

p



45,2

98

46,7

1,5

>0,05

4,8
1,0

0,05

p
Thực hành
đạt

Xã CT
Xã ĐC
p

>0,05
8
7

3,8

89,0
77,5

10,3
3,3

78,7
74,2

Thực hành đạt

126,3

30,3

96,0

Hiệu quả đối với
KAP

CSHQ (%)

Nhận xét: Hiệu quả về KAP ở xã can thiệp là tương đối tốt, tác
động của can thiệp đối với kiến thức về VSMT của người Dao là
78,7%, đối với thái độ là 74,2% và thực hành là 96,0%.
3.3.2.3. Thay đổi về tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa trong đất tại
các hộ gia đình người Dao
Bảng 3.22. Tỷ lệ mẫu đất có trứng giun đũa trước và sau can thiệp
Xét nghiệm mẫu đất có
trứng giun đũa

37

37,0

36

36,0

>0,05

Footer Page 22 of 258.


20

Header Page 23 of 258.
p
Mẫu đất ở
ngoài sân
Mẫu đất trên
đường ra nhà
tiêu
Mẫu đất xung
quanh nhà tiêu



60,0

0,05

>0,05


47,5

141/399

35,3

0,05

p

>0,05


21

Header Page 24 of 258.
Nhận xét: Sau khi can thiệp mẫu đất đạt tiêu chuẩn tăng lên với
hiệu quả can thiệp là 21,0% và mẫu đất bẩn giảm đi với hiệu quả can
thiệp đạt 11,1%.
Chương 4. BÀN LUẬN
4.1. Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người Dao tại
một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên năm 2011
4.1.1. Hành vi sử dụng nước sinh hoạt
Trong nghiên cứu này, hành vi sử dụng nước sạch của người Dao
ở các bản vùng đặc biệt khó khăn chưa đạt, mới đạt được 46,3%, nhìn
chung tỷ lệ này thấp. Như vậy tỷ lệ người Dao có hành vi sử dụng
nguồn nước chưa sạch chiếm tới 53,7%. Tuy nhiên tỷ lệ này cao hơn
kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh (2004) tại huyện Ba Bể,
tỉnh Bắc Kạn với tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước sạch là 24,7%, cũng
cao hơn kết quả nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn (2004) và cộng sự tại
hai xã Tân Long và Văn Lăng (Đồng Hỷ) là 20,4%, nhưng so với tỷ lệ
chung toàn quốc (63% số hộ sử dụng nước sạch) thì tỷ lệ sử dụng
nước sạch trong nghiên cứu này còn thấp hơn nhiều.
4.1.2. Hành vi xây dựng và sử dụng nhà tiêu
Tại Việt Nam, từ những năm 60, Bộ Y tế đã phát động nhiều
chương trình vệ sinh trong đó có việc xây dựng nhà tiêu để quản lý
phân người như phong trào 3 dứt điểm, phong trào 5 dứt điểm…đã
làm cho tỷ lệ có nhà tiêu hộ gia đình tăng đáng kể. Tuy nhiên trải qua
thời gian các tiêu chí nhà tiêu có nhiều thay đổi, yêu cầu về vệ sinh
ngày càng cao vì vậy tỷ lệ nhà tiêu hộ gia đình đạt các tiêu chí hợp
vệ sinh còn thấp, đặc biệt là vùng sâu, vùng cao, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chỉ có 29,4% số hộ
có nhà tiêu. Tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh là 16,7%. So sánh với

phối đến việc quyết định xây các công trình vệ sinh, nhà tắm cũng
như đầu tư cho nguồn nước. Vấn đề này cũng phù hợp với nhận xét
trong phạm vi toàn quốc của Bộ y tế đó là: tỷ lệ người dân sử dụng
nhà tiêu hợp vệ sinh cao theo mức sống và có xu hướng tăng lên
trong những năm gần đây; Những hộ có mức sống trung bình trở lên
thì tốc độ tăng nhanh hơn và hộ nghèo thì gần như không thay đổi.
4.3. Kết quả thử nghiệm mô hình truyền thông thay đổi hành vi
VSMT cho người Dao tại Thái Nguyên
* Về mặt tổ chức: Huy động cộng đồng tức là huy động nhiều tổ
chức ban ngành cùng tham gia, ở đây là để TT- GDSK về VSMT.
Việc xây dựng Ban chỉ đạo VSMT xã để chỉ đạo các tổ chức ban
ngành tham gia mô hình là rất quan trọng. Nhờ cách tổ chức chặt

Footer Page 25 of 258.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status