thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại một số gia trại thuộc huyện kim bảng hà nam và thử nghiệm điều trị - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-----------

-----------

TRƯƠNG NGỌC TUYỂN

THỰC TRẠNG BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI
NGOẠI TẠI MỘT SỐ GIA TRẠI THUỘC HUYỆN KIM BẢNG HÀ NAM VÀ THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ

CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ

: 60.64.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS. CHU ĐỨC THẮNG

HÀ NỘI – 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục bảng

vi

Danh mục sơ đồ, biểu đồ

vii

MỞ ĐẦU

1

1

Tính cấp thiết của đề tài

1


Bệnh viêm tử cung ở lợn nái

14

1.2.1

Nguyên nhân của bệnh Viêm tử cung.

14

1.2.2

Hậu quả của bệnh Viêm tử cung.

15

1.2.3

Các thể viêm tử cung

16

1.2.4

Chuẩn đoán viêm tử cung

18

1.3


Streptococcus

23

1.4.3

Staphylococcus

23

1.4.4

Salmonella

23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iii


1.5

Thuốc kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh sinh sản

24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.4

27

Thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung bằng các phác đồ điều trị
(tỉ lệ khỏi, tỷ lệ động dục ..sau điều trị).

27

2.2.5

Đề xuất phòng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái.

27

2.3

Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu

27

2.3.1

Nguyên liệu nghiên cứu

27

2.3.2

Phương pháp nghiên cứu


Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các điều kiện đẻ
tự nhiên và có sự can thiệp khi đẻ.

41

3.5

Tỷ lệ mắc bệnh Viêm tử cung theo mùa vụ ở các trại.

43

3.6

Tỷ lệ mắc các thể viêm tử cung

45

3.7

Một số chỉ tiêu và biểu hiện lâm sàng của lợn nái bị viêm tử cung.

47

3.8

Phân lập và giám định thành phần vi khuẩn trong dịch âm đạo, tử
cung lợn nái bình thường và bệnh lý.

3.9

Kết quả thử nghiệm quy trình phòng bệnh viêm tử cung ở đàn
lợn nái

58

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

61

1

Kết luận

61

2

Đề nghị

62

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

63

Page v




3.4

Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung ở các điều kiện khác nhau

42

3.5

Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các gia trại theo mùa vụ (n=61).

43

3.6

Tỷ lệ lợn nái mắc các thể viêm tử cung

45

3.7

Một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn bị viêm tử cung.

47

3.8

Kết quả xác định thành phần và số lượng vi khuẩn có trong dịch
tử cung lợn nái bình thường và bệnh lý:



Kết quả thử nghiệm phòng viêm tử cung ở đàn lợn nái

59

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vi


DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
STT

Sơ đồ 2.1

Tên bảng

Trang

Cơ chế thần kinh thể dịch điều khiển quá trình đẻ. Giáo
trình giải phẫu gia súc) (1982)

13

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn nái

36

Biểu đồ 3.2 Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn nái mắc viêm tử cung qua các lứa




MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nền kinh tế thới giới ngày càng phát triển và đồng hành với
sự phát triển đó là sự phát triển của ngành nông nghiệp để đảm bảo lương
thực, thực phẩm, nguồn cung cấp năng lượng cho con người. Việt Nam cũng
nằm trong số đó. Vốn là một nước nông nghiệp, Việt Nam luôn chú trọng
phát triển nông nghiệp đặc biệt ngành chăn nuôi là ngành chủ đạo trong nền
nông nghiệp. Thời gian gần đây, Việt Nam đã có những bước tiến mới trong
phát triển chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và thị trường.
Cùng với sự phát triển của cả nước, tỉnh Hà Nam là một trong số những tỉnh
có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn.
Chăn nuôi lợn là nghề sản xuất truyền thống lâu đời chiếm vị trí quan
trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta. Ngày
nay, phương thức chăn nuôi lợn đang đẩy mạnh phát triển theo hình thức
trang trại, gia trại ở nhiều địa phương trong cả nước, đã có nhiều giống lợn
ngoại được đưa về Việt Nam nuôi và nhân giống. Vì vậy, để cung cấp lợn
giống cho nhu cầu chăn nuôi các trang trại, gia trại thì việc phát triển đàn lợn
nái sinh sản là cần thiết. Trong khi nhu cầu thị trường thịt lợn trong nước là
rất lớn. Riêng với tỉnh Hà Nam, sự phát triển của ngành chăn nuôi nói chung
hay nghề nuôi lợn nói riêng đang là hướng đi đúng đắn phù hợp với điều kiện
địa phương, nâng cao thu nhập cho người dân.
Cùng với sự phát triển chăn nuôi thì tình trạng dịch bệnh vẫn xảy ra
thường xuyên mà nguyên nhân chủ yếu về kỹ thuật của người chăn nuôi. Một
trong những bệnh thường mắc và làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái
ngoại tại các địa phương hiện nay là Bệnh viêm tử cung. Đây là một bệnh
không những làm ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ mà


trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên
ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình).
Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ
thấy và quan sát được, bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình.
* Âm môn (Vulva): Hay còn gọi là âm hộ. Dưới hậu môn là âm môn.
Phía ngoài âm môn có hai môi (Labia vulva). Nối liền hai môi bằng hai mép
(Bima vulvae). Trên hai môi của âm môn có sắc tố đen và nhiều tuyến tiết,
tuyến tiết chất nhờn và tuyến tiết mồ hôi.
* Âm vật (Clitoris): Âm vật giống như dương vật thu nhỏ lại. Trong
cấu tạo âm vật cũng có các thể hổng như con đực. Trên âm vật có nếp da tạo
ra mu âm vật (Praepatium clitoridí), giữa âm vật bẻ gập xuống dưới.
* Tiền đình (Vestibulum vaginae sinus progenitalis): Là giới hạn giữa
âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo. Trong tiền đình có
màng trinh, phía trước màng trinh là âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo,
màng trinh có các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một
nếp. Sau màng trinh có lỗ niệu đạo. Tiền đình có một số tuyến, tuyến này xếp
theo hàng chéo, hướng quay về âm vật.
Bộ phận sinh dục bên trong bao gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, tử
cung và âm đạo.
* Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng,
nằm trong xoang chậu. Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng. Buồng
trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hocmon: Estrogen,
Progesterone, Oxytocin, Relaxin và Inhibin. Các hocmon này tham gia vào

Sừng tử cung dài như một đoạn ruột (50-100cm) thông với ống dẫn trứng.
Thân của tử cung rất ngắn (3-5cm).
Cổ tử cung dài (10-18cm) có thành dày, có những u thịt xen kẽ khép lại
với nhau theo lối cài răng lược. (Giáo trình giải phẫu gia súc, 1982).
Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ
trơn, lớp nội mạc.
- Lớp tương mạc: là lớp màng sợi dai, chắc, phủ mặt ngoài tử cung và
nối tiếp vào hệ thống dây chằng.
- Lớp cơ trơn: có chức phận chủ yếu trong việc đảm bảo sự phát triển và
dinh dưỡng bào thai.
- Lớp nội mạc: là lớp niêm mạc màu hồng phủ lên trên bằng một tế bào
biểu mô hình trụ xen với những tuyến tiết chất nhày. Nhiều tế bào biểu mô lại
kéo thành lông rung. Khi lông rung động thì gạt những chất nhày tiết ra về
phía cổ tử cung.
Tuy nhiên các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác
dụng của Progesterone. Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai
đoạn của chu kỳ lên giống.
* Âm đạo (Vagina)
Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu
sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là
màng trinh.
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng
thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các
chất dịch từ tử cung.
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
- Lớp liên kết ở ngoài.
- Lớp cơ trơn có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong. Các lớp cơ âm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


Page 6


× nội) thường động dục vào lần đầu vào lúc 6 tháng tuổi.
- Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý
Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn
nái. Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia
súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại.
- Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia
súc. Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành
thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới.
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái
hậu bị. Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những
con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng. Theo
Paul Highes và Tilton (1996), nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực 2
lần/ngày, với thời gian 15-20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90kg) động dục lúc
165 ngày tuổi.
- Tuổi thành thục về tính của gia súc
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi tuổi thành thục về thể vóc,
nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn
lên. Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi, không nên cho gia súc sinh
sản quá sớm vì:
Nếu phối giống sớm khi cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc sẽ có ảnh
hưởng xấu như: trong thời gian có chửa có sự phân tán chất dinh dưỡng ưu
tiên cho sự phát triển bào thai, ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cơ thể
mẹ do đó sự phát triển của bào thai cũng bị ảnh hưởng. Kết quả mẹ yếu, con
nhỏ. Ngược lại cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh
hưởng tới thế hệ sau của chúng.

hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm
cổ tử cung hé mở. Các noãn bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãn bao. Tử
cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra, niêm dịch chảy nhiều. Con vật bắt đầu

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở có màu hồng tươi, cuối giai đoạn
có dịch nhờn chảy ra. Do hàm lượng Progesterone giảm xuống đột ngột nên
con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho
con khác nhảy lên lưng mình.
+ Giai đoạn động dục
Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2 -3 ngày, tính từ khi tế
bào trứng tách khỏi noãn bao. Giai đoạn này các biến đổi của cơ quan sinh
dục rõ nét nhất, niêm mạc âm hộ sung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang
màu mận chín, niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âm
đạo tăng từ 0,3 - 0,70 C, pH hạ hơn trước. Con vật biểu hiện tính hưng phấn
cao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng, ăn uống giảm, hoặc bỏ ăn, kêu
rống trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con
khác nhảy lên lưng mình. Ở giai đoạn này, lợn thích gần đực, khi gần đực thì
luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, 2
chân sau dạng ra và hơi khuỵu xuống sẵn sàng chịu đực.
+ Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ
quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường. Trên buồng
trứng, thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 – 8mm và bắt
đầu tiết Progesterone. Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế
điều hoà ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần

độ chính xác của việc dự đoán thời điểm bắt đầu chịu đực bị giảm thấp do đó
lợn cái hậu bị và lợn nái thường được phối giống khi phát hiện chúng động
dục (Http://wwwthepigsite.com), (Thụ tinh nhân tạo), (2001).
Có hai hình thức phối giống là phối giống trực tiếp và phối giống nhân tạo.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002), phối giống trực tiếp là quá trình
giao phối giữa gia súc đực và gia súc cái, tinh dịch của con đực đi vào đường
sinh dục con cái. Phối giống nhân tạo là trường hợp dùng tinh dịch của con
đực đã pha loãng bơm vào đường sinh dục con cái để kết hợp với trứng tạo
thành hợp tử. Trong chăn nuôi nhờ phương pháp phối giống nhân tạo đã cải

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


tạo được giống gia súc, giảm số đầu giống vật nuôi, nâng cao hiệu quả sử
dụng đực giống, có thể thương mại hoá tinh dịch, bảo tồn quỹ gen, phòng các
bệnh truyền lây qua tiếp xúc. Đây là biện pháp kỹ thuật hữu hiệu để thúc đẩy
ngành chăn nuôi phát triển, nó có những lợi ích kinh tế kỹ thuật to lớn, tuy
nhiên là con dao hai lưỡi nếu công tác thú y kém.
1.1.2.3. Sinh lý đẻ
Theo Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002)
gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi
bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống thần kinh, thể dịch, con
mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm
trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ.
Khi gần đẻ con cái sẽ có các triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 – 2
tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra
ngoài. Trước khi đẻ 1 – 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những
thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú

đã trở thành như một ngại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động
tác đẻ.
Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ 2 –
6 giờ, nó được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng
ra ngoài.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


Vỏ não
Hypothalamus
Tuyến yên
ACTH
Vỏ trên thận
Corticosteroit
Tăng độ mẫn cảm

Nhau thai
PGF2α

Relaxin

Oestroge

Tử cung
Với Oxytoxin

Phá thể vàng

cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất
khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo các tác giả Đào Trọng Đạt và cs (2000), bệnh viêm tử cung ở lợn
nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng
phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn
tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử
cung lợn nái gây viêm.
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật
hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm
đạo truyền sang cho lợn khoẻ.
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm
mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử
cung.
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm,
phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm.
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để
xâm nhập vào gây viêm.
Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng
nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14


đực (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường
máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung, theo Lê
Văn Năm và cộng sự (1997).

- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể
vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone. Progesterone ức chế thuỳ trước
tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng,
nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được.
Theo F.Madec và C.Neva (1995), ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng mà
người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn viêm tử cung lúc sinh đẻ là:
chảy mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn. Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh
đẻ ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn nái sau này. Tỷ lệ phối
giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ. Hiện
tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên
nhân làm giảm độ mắn đẻ. Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên
nhân dẫn đến hội chứng M.M.A, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp.
Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới
hoạt động của buồng trứng.
Qua đó ta thấy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để tỷ lệ mắc bệnh
giảm, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra
biện pháp để phòng và điều trị hiệu quả.
1.2.3. Các thể viêm tử cung
Theo Đặng Đình Tín (1986), bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể:
viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung.
1.2.3.1 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Theo Nguyễn Văn Thanh (1999), viêm nội mạc tử cung là viêm lớp
niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng
sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong
các bệnh của viêm tử cung. Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 16



Page 17


Trích đoạn Phân lập và giám định thành phần vi khuẩn trong dịch âm đạo, tử Xác định số lượng các loại vi khuẩn có trong dịch tửcung nái sau đẻ Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập đượctừ Kết quả thử nghiệm quy trình phòng bệnh viêm tửcung ở đàn lợn ná
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status