tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trang trại Thanh Xuân - Hưng yên - Pdf 26

PHẦN I
THỰC TẬP THÚ Y TẠI CƠ SỞ
1.1. VÀI NÉT VỀ TRANG TRẠI
Trang trại được xây dựng năm 2006, nằm cách bờ sông Đào 500m, chảy
qua Văn Giang- Hưng Yên đến sông Bắc Hưng Hải. Danh giới phía bắc giáp
huyện Văn Lâm và quốc lộ 5, phía nam cách vùng dân cư huyện Văn Giang
1km, phía đông giáp địa giới hành chính xã Tân Quang.Trang trại được xây
dựng cách khu dân cư trên 1km. Trang trại có đường giao thông lớn chạy
qua đảm bảo việc đi lại, vận chuyển dễ dàng
Diện tích đất tự nhiên của trang trại: 36720m
2

1
Chuồng dành cho lợn đực giống: 50m
2
Chuồng lợn chờ phối: 284m
2

Chuồng lợn nái mang thai: 360m
2
Chuồng nuôi lợn con (lợn cai sữa, lợn hậu bị, lợn thương phẩm): 1800m
2

Chuồng nuôi lợn nái đẻ: 1272 m
2

Chuồng nuôi gia cầm: 810m
2

Nhà làm việc, nhà ở công nhân, nhà kho, nhà cách ly: 250m
2

1.2. TÌNH HÌNH VỆ SINH PHÒNG BỆNH CỦA TRẠI
Công tác vệ sinh của trang trại bao gồm các khâu như dọn phân, rửa
chuồng, rửa máng ăn, tắm chải cho lợn, xử lý rác thải, thức ăn dư thừa, phun
thuốc sát trùng cho chuồng trại và xung quanh, sát trùng các phương tiện vận
chuyển, dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y, xử lý nguồn nước.
Chuồng lợn được dọn phân trên nền chuồng và vệ sinh cho nái đẻ sạch
sẽ, cọ mông nái đẻ khi nái nằm đè phân. Các chuồng khác mỗi ngày tắm, rửa
một lần vào mùa hè, mùa đông thì chỉ rửa chuồng hai ngày một lần. Máng ăn
ngày rửa một lần, vào đầu buổi sáng bỏ hết thức ăn dư thừa
Phân thải của lợn được hót và đóng vào bao tải, một phần được thải
xuống ao cá, phần còn lại được bán cho tư nhân, nước tiểu và nước thải theo hệ
thống rãnh tới bể Bioga để xử lý
Quy trình sát trùng đối với đường giao thông, phương tiện vật tư, dụng cụ
chăn nuôi, chuồng trại.
Khu vực ngoài chuồng nuôi đảm bảo hố sát trùng sạch sẽ, có thuốc sát
trùng đầy đủ. Các phương tiện vật tư ra vào trang trại được sát trùng. Hàng ngày
bảo hộ lao động được giặt sạch sẽ, sát trùng quần áo lao động bằng nước
Giaven thứ 7 và chủ nhật. Hàng tuần tổng vệ sinh vào thứ 7.
Trong chuồng nái: Hố vôi khay thuốc sát trùng cửa chuồng.Thảm lót ổ
úm, giẻ lau giặt sạch ngâm sát trùng. Xi lanh, kim tiêm, panh, kéo phải sát trùng
3
trước và sau sử dụng. Dụng cụ đỡ đẻ khi sử dụng luôn ngâm trong khay đựng
dung dịch sát trùng.Dụng cụ phối, pha chế tinh sau khi sử dụng rửa sạch hấp tiệt
trùng. Phun sát trùng toàn bộ trong ngoài chuồng thứ 4, 7.Thông rãnh cọ bể làm
mát vào chủ nhật. Tấm đan bê tông, sàn nhựa ngâm trong bể sát trùng với sút
2%, rửa sạch phơi khô, phun sát trung trước khi mang vào lắp đặt khi cai sữa.
Chuồng cai sữa và thịt: Hố vôi khay thuốc sát trùng các cửa chuồng hàng
ngày. Quét vôi tường chuồng khi ô chống, quét vôi bột hành lang lối đi thứ 5,
chủ nhật. Các ô chuồng sau khi suất heo phải làm sạch hết bụi bẩn và chất thải.
tưới sút (0.03kg/1 lít nước) để tối thiểu 20 phút. Xịt bằng may áp lực,quét vôi bề

dịch tả tiêm cho lợn con ngày tuổi thứ 21. Vacxin phó thương hàn tiêm 2 mũi
vào 21 và 30 ngày tuôi cho lơn con. Phòng cầu trùng cho lợn con lúc 5,10,25
ngày tuổi.
Với lơn thịt phòng viêm phổi vào ngay tuổi thứ 56, tiêm vacxin tụ huyết
trùng vào ngày tuổi thư 42
5
PHẦN II
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trang trại
THANH XUÂN_VĂN GIANG _ HƯNG YÊN
2.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay cùng với sự phát triển của đất nước. Chất lượng và nhu cầu
cuộc sống tăng lên không ngừng, trong đó có nhu cầu về thịt lợn. Để đáp ứng
nhu cầu đó, ngành chăn nuôi lợn đang phát triển mạnh, sản phẩm của ngành
không những phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn mở rộng xuất khẩu.
Hiện nay ngành chăn nuôi đã phát triển mạnh về quy mô và hình thức
nuôi. Thay thế dần hình thức nuôi chuyền thống sử dụng giống lơn nội và tận
dụng phụ phẩm nông nghiệp, bằng việc phát triển đàn lợn hướng nạc ngoại
nhập, chăn nuôi theo quy mô công nghiệp. Tuy nhiên các giống lợn ngoại
đang được nuôi ở nước ta: Landrace, Yorkshire, Duroc, Petrine chủ yếu được
nhập từ Châu Âu nên khi về Việt Nam với điều kiện thời tiết khác biệt chúng
đòi hỏi một chế độ chăm sóc, quản lý cao so với các giống lợn nội, đặc biệt là
đàn lợn nái. Do đó, mặc dù có nhiều ưu điểm hơn so với các giống lợn nội,
lợn nái ngoại chủ yếu vẫn được nuôi ở trong các trang trại mà chưa được phổ
biến, nhân rộng. Mặt khác, trong chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn về dịch
bệnh, nhất là các bệnh sản khoa. Trong đó bệnh viêm đường sinh dục chiếm tỷ
lệ cao trong đó có bệnh viêm tử cung. Bệnh xảy ra ở lợn nái vào thời gian sau
khi đẻ từ 1 - 10 ngày. Bệnh không những ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh
sản của lợn nái. Nó có thể làm lợn nái chậm động dục, sau khi cai sữa thậm chí
mất khả năng sinh sản ở những lần sau, do đó làm giảm số lượng lợn nái sinh

nhiều Progesterone trong máu. Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di
chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi
sinh đẻ. Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của
Progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung.
Lớp nội mạc tử cung: Là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp tế
7
bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung. Nhiều tế
bào biểu mô kéo dài thành lông rung, khi lông rung động thì gạt những chất
nhày tiết ra về phía cổ tử cung. Trên niêm mạc có các nếp gấp.
Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp
phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển
đến ống dẫn trứng. Dưới ảnh hưởng của Estrogen, các tuyến tử cung phát triển
từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại. Tuy nhiên,
các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của
Progesterone. Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu
kỳ động dục.
2.2.2 Âm đạo (Vagina)
Trước âm đạo là cổ tử cung phía sau là tiền đình có màng trinh che
lỗ âm đạo. Âm đạo là một cái ống tròn để chứa cơ quan sinh dục khi giao phối,
đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ.
Cấu tạo âm đạo chia thành 3 lớp:
Lớp liên kết ngoài
Lớp cơ trơn: có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong. các lớp cơ âm đạo liên kết
với các lớp cơ cổ tử cung
Lớp niêm mạc: niêm mạc âm đạo có nhiều tế bào thượng bì, niêm mạc
gấp nếp dọc hai bên nhiều hơn ở giữa.
Kích thước âm đạo lợn: 10-12cm
2.2.3. Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)
Là giới hạn giứa âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào
âm đạo.Trong tiền đình có màng trinh, phía trước mang trinh là âm môn, phía

Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử
cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.
Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử
9
cung.
Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sẩy thai truyền nhiễm, phó
thương hàn, bệnh lao gây viêm.
Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ
không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm
nhập vào gây viêm.
Bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với
nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm
ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra.
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ
quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối
nhưng đã bị viêm tử cung.
2.3.3. Phân loại các thể viêm
Tuỳ thuộc vào vị trí tác động của quá trình viêm người ta chia làm 3 thể
viêm khác nhau:
2.3.3.1 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Là quá trình viêm sảy ra ở lớp niêm mạc tử cung (mới phân huỷ các tế bào
tổ chức). Đây là thể viêm nhẹ nhất khởi đầu của quá trình viêm ở tử cung. viêm
nội mạc tử cung có thể chia ra làm 2 loại:
a.Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ
Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở bò, trâu và lợn. Sau
sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát, nhiễm khuẩn, nhất là
khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp.
Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: Thân nhiệt
hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm. Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi
khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh. Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn

màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng. Sau đó các tế bào bị phân huỷ và bong ra, dịch
11
thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì. Trường hợp viêm nặng, nhất là thể
viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh
và dẫn đến viêm phúc mạc. Thân nhiệt con vật tăng cao, mạch nhanh, ủ rũ, đại tiểu
tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn. Lợn mẹ luôn có biểu hiện đau đớn, khó
chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục. Từ âm hộ thải ra ngoài nhiều hỗn dịch lẫn mủ
và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm. Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung
dày, cứng hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật có biểu hiện đau
càng rõ và càng rặn mạnh hơn. Trường hợp một số vùng của tương mạc dính với
bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thanh đổi về vị trí hính
dáng của tử cung. Trường hợp viêm này thường dẫn đến kế phát viêm phúc mạc,
bại huyết, huyết nhiễm mủ
2.3.4. Phân biệt các thể viêm
Để phân biệt các thể viêm tử cung người ta dựa và những triệu chứng điển
hình ở cục bộ cơ quan sinh dục, cũng như triệu chứng toàn thân con vật. Việc
chuẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung có ý nghĩa quan trọng trong việc áp
dụng phác đồ điều trị với từng thể viêm, nhằm đạt kết quả cao, thời gian điều trị
ngắn, chi phí thấp, đặc biệt đảm bảo khả năng sinh sản cho gia súc cái. Trong thực
tế thường gặp và điều trị bệnh viêm tử cung ở thể viêm nội mạc.
2.3.5. Hậu quả viêm tử cung trong chăn nuôi lợn công nghiệp
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh
dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh
hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của
lợn con.
12
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt. Khi mang thai, sự co thắt
của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám
chặt vào tử cung.
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết

13
Dufamox. Dufamox G thành phần gồm( Amoxycillin 150mg và
gentamycin 40mg).
Diclophenac2,5% thành phần Diclophenac 25mg. Có tác dụng hạ nhiệt cơ
thể thông qua quá trình giải nhiệt, ngoài ra thuốc còn có tác dụng chống viêm,
giảm đau, chống co giật và chống thấp cơ, thấp khớp. liều 1ml/10kg
Oxytocin thành phần trong 1ml có 10 IU Oxytocin . Tác dụng thúc đẻ,
chữa liệt dạ con, sốt nhau, tống dịch ứ trong dạ con ra ngoài, kích thích tiết sữa,
chữa viêm vú, viêm tử cung.
Hanprost là một chế phẩm của PGF

, nó tạo ra các cơn co bóp nhẹ nhàng
giống cơn co bóp sinh lý nhằm đẩy các chất bẩn ra ngoài. Đồng thời nó còn có
tác dụng kích thích cơ tử cung nhanh chóng hồi phục và phá huỷ thể vàng.
Dung dịch Han-Iodine10%, thành phần chính của dung dịch là Iode hữu cơ,
do Công ty cổ phần thuốc thú y Hanvet sản xuất.
2.4.3. Phương pháp thu thập số liệu
Hồi cứu: Điều tra, thu thập số liệu, bệnh ở đàn lợn nái bằng phương pháp
điều tra qua sổ theo dõi của trang trại. Số liệu điều tra qua các năm và chúng tôi
sử lý theo phương pháp thống kê. Lập phiếu theo dõi, ghi chép đầy đủ các thông
tin về con bệnh cũng như quá trình điều trị.
Quan sát: Xác định tỷ lệ lợn nái mắc viêm tử cung, bằng phương pháp điều
tra, theo dõi, gi chép. Kết hợp với quan sát trực tiếp các biểu hiện lâm sàng của lợn
nái mắc bệnh trong thời gian thực tập (2 tháng)
Phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp công nhân và cán bộ kỹ thuật làm việc tại
trại.
Tỉ lệ lợn nái mắc viêm tử cung được xác định theo công thức.
Số con mắc
Tỷ lệ mắc (%) = x 100
Tổng số con theo dõi

Nâu rỉ sắt
Thối khắm
Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ Đau rất rõ
Phản ứng co của cơ tử cung co giảm co rất yếu co mất hẳn
Tình trạng ăn
Giảm ăn hoặc không
ăn
Không ăn Không ăn
Trích( luận văn thạc sỹ Phạm Thị Mơ năm 2011)
Đánh giá viêm tử cung bằng cách cho điểm:
Đối với lợn nái sau khi đẻ có thể dựa trên cách tính điểm sau:
Số ngày chảy mủ, tính từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1
16
điểm.
Bỏ ăn từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1 điểm, nếu bỏ ăn
một phần tính 1/2 điểm.
Ngưỡng thân nhiệt để tính sốt và số ngày bị sốt là 39,8
0
C; 1 ngày = 1 điểm.
b. Tổng số điểm được dùng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh như sau:
Tổng số điểm dưới 1 điểm: Không có vấn đề.
Tổng số điểm từ 2 đến 5 điểm: Mắc bệnh nhẹ đến trung bình.
Tổng số điểm trên 6: Bệnh nghiêm trọng.
Tóm lại: Chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thường
xuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi viêm tử
cung nhưng không sinh mủ.
2.4.5. Phương pháp thí nghiệm trong thí nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung
* Chọn mẫu: Chọn những lợn nái bị Viêm tử cung với những triệu chứng đặc
trưng: Sốt, tần số hô hấp tăng, có phản xạ đau, ăn ít hoặc bỏ ăn, chảy mủ mùi
tanh thối, lượng sữa giảm, không cho con bú.

tham gia vào hoạt động tiêm vacxin phòng bệnh, chúng tôi còn tiến hành theo
dõi tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản của trại. Các chỉ tiêu
chúng tôi theo dõi bao gồm số con mắc (con), tỷ lệ mắc (%). Qua quá trình theo
dõi một số bệnh xảy ra bao gồm viêm tử cung, viêm khớp, hiện tượng đẻ khó,
bại liệt sau đẻ
18
2.5.1. Biện pháp phòng viêm tử cung trong trại THANH XUÂN
Viêm tử cung là bệnh xảy ra phổ biến nhất là với lợn nái sau khi sinh. Nó
không những ảnh hưởng tới đàn lợn con mà con ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng
con nái sau này, vì vậy đề ra biện pháp đề phòng bệnh là một yêu cầu cấp thiết.
Biện pháp phòng của trại.
Lợn nái mang thai tới ngày 111- 112 tiêm bắp Han – prost, liều 2ml/ con
kích thích mở cổ tử cung.
Có kế hoạch chuẩn bị chu đáo cho việc đỡ lợn đẻ, trong đó quan trọng
nhất là vệ sinh cho lợn trước khi đẻ, rọn rửa chuồng đẻ. Người đỡ đẻ đảm bảo vệ
sinh, sát trùng tay sạch sẽ.
Trước khi lợn đẻ 8 giờ hoặc bắt đầu lợn vỡ ối tiêm bắp Dufamox G. liều
1ml/10kgP phòng viêm. Sau khi lợn đã đẻ được 2 giờ thì tiến hành tiêm bắp
Oxytocin, liều 4ml/con kích thích tử cung co bóp mạnh hơn và tiêm liên tục
trong 3 ngày.
Với những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay thì người can thiệp
phải là người có kinh nghiệm, tay được sát trùng cẩn thận, đeo găng tay dài
mềm, khi tiến hành can thiệp phải kiên nhẫn nhẹ nhàng.
Sau khi nhau thai đã ra hết có thể tiến hành thụt rửa tử cung bằng
Han-Iodine pha với nước theo tỷ lệ 10ml/2lít nước sạch thụt cho con mẹ.
Khi phối giống cho lợn bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo phải đảm bảo
vệ sinh sạch sẽ trước khi phối, dụng cụ dẫn tinh phải được đảm bảo vô
trùng, khi dẫn tinh phải nhẹ nhàng đảm bảo đúng kỹ thuật.
Để hạn chế tối thiểu hậu quả do bệnh viêm tử cung gây ra thì việc phòng
bệnh là rất quan trọng, nó giúp người chăn nuôi hạn chế được tỷ lệ lợn nái mắc

Triệu chứng
1 2 3 4 5
Con
1
Nhiệt độ
o
c 40.2 42 41.5 39.8 39.2
Chảy mủ X x x x
Trạng
thái ăn
Giảm ăn X x
Không ăn
x x
Con
2
Nhiệt độ
o
c 39.2 39.6 39.5 39.5 38.6
Chảy mủ X x x
Trạng
thái ăn
Giảm ăn
x x
Không ăn
Con
3
Nhiệt độ
o
c
39.3 39.8 41 39.5 38.7

43,2
Bại liệt sau đẻ
44
3
6,8
Hiện tượng đẻ khó
44 5 11,4
Viêm khớp- tổn
thương cơ giới
44 6 13,6
Viêm phổi
44 7 15,9
Qua theo dõi chúng tôi thấy bệnh viêm tử cung là bệnh chiếm tỷ lệ cao
nhất trong các bệnh xảy ra, trong số 44 lợn nái được tiến hành theo dõi thì có tới
19 lợn nái bị bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ 43,2%.
Hiện tượng đẻ khó cũng chiếm tỷ lệ khá cao 11,4%. Nguyên nhân đẻ khó
ở đây chủ yếu là do bào thai. Phần lớn là do tư thế thai không thuận lợi, thai
quá to, một số khác là do thai chết đã lâu nên kích thích con mẹ co bóp tử
cung yếu và chỉ có 2 trường hợp đẻ khó là do con mẹ quá già chế độ vận động
ít.
Bệnh bại liệt sau đẻ với nái đẻ mắc, chiếm tỷ lệ 6,8%. Nguyên nhân là do
con mẹ đã quá già yếu nhưng do có thành tích sinh sản tốt nên được giữ lại. Kết
quả con mẹ hấp thu Ca, P kém khi mang thai nên phải huy động Ca, P từ xương
vào bào thai. Khi đẻ con ra lại phải huy động Ca, P vào sữa làm cho con mẹ bị
mềm xương, loãng xương dẫn tới bại liệt
22
Bệnh đường hô hấp tỷ lệ mắc không nhiều chiếm tỉ lệ 15,9% trường hợp
nái mắc bệnh, do thời tiết lạnh con vật có hiện tượng sốt, ho, khó thở, bỏ ăn.
Trong quá trình điều trị chúng tôi thấy không có hiện tượng nhiễm bệnh nào
khác và không có hiện tượng nái bị sẩy thai trong giai đoạn này.

đẻ 1 - 2, những nái đẻ lứa đầu xương chậu hẹp nên có hiện tượng đẻ khó, phải can
thiệp bằng tay, các dụng cụ trợ sản gây xây xước niêm mạc tử cung và gây viêm.
Đối với các trang trại lợn nái bước vào lứa đẻ thứ 6 - 8, sức khoẻ và sức đề
kháng đàn nái đã giảm sút, sức rặn đẻ yếu, sự co bóp của cơ tử cung giảm nên rất
dễ bị sót nhau. Sót nhau còn là nguyên nhân kế phát gây viêm tử cung và viêm vú.
Mặt khác khi nái bước vào lứa đẻ thứ 6 - 8, sản lượng sữa tiết ra cũng giảm
hơn so với các lứa trước, nên khi bị viêm tử cung nái bỏ ăn càng làm cho lượng sữa
giảm đi có khi mất hẳn.
Do công tác vệ sinh chuồng sàn, vệ sinh nái đẻ và kỹ thuật đỡ đẻ: Trong
quá trình theo dõi, chúng tôi thấy vệ sinh chuồng sàn và vệ sinh cho nái đã được
công nhân trong trại thực hiện nhưng không triệt để có thể do họ chưa hiểu hết ý
nghĩa của công tác này; trong quá trình đẻ, cổ tử cung lợn nái luôn mở đòi hỏi
đảm bảo vệ sinh nhằm ngăn chặn vi sinh vật có hại xâm nhập gây bệnh; tuy
nhiên khi đỡ đẻ, công nhân để nái đẻ xong mới lau rửa phần sau và hai hàng vú
kết hợp với việc vệ sinh, sát trùng không được thực hiện tốt nên các vi khuẩn cơ
hội không bị tiêu diệt, chúng có cơ hội xâm nhập vào tử cung và gây viêm.
2.5.4.2. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái theo mùa
24
Ngoài các yếu tố đã nêu trên thì điều kiện khí hậu cũng ảnh hưởng rất
nhiều đến bệnh viêm tử cung, vào các mùa khác nhau tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm
tử cung cũng khác nhau và hiệu quả điều trị bệnh cũng khác nhau. Kết quả theo
dõi được thể điều tra và thể hiện ở bảng 2.6.
Qua bảng số liệu 2.6 năm 2011 chùng tôi thu thập được thấy vào mùa
hè, lợn mắc bệnh viêm tử cung với tỷ lệ cao nhất ( 41,3% ), tiếp đó là mùa xuân
( 26,7% ), ít nhất là mùa thu và mùa đông . Mùa hè, nhiệt độ ở trong chuồng
nuôi cao, nếu không có các biện pháp điều chỉnh nhiệt độ thì nhiệt độ còn cao
hơn. Nhiệt độ cao làm cho khả năng thu nhận thức ăn giảm, sức khỏe, sức đề
kháng của con vật cũng giảm sút nên tỷ lệ mắc bệnh của lợn nái rất cao, đặc biệt
là các bệnh ở đường sinh dục.
Vào mùa đông, nhiệt độ xuống thấp nên vi khuẩn không có điều kiện thuận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status