THỰC TRẠNG BỆNH VIÊM tử CUNG TRÊN đàn lợn nái NUÔI tại TRANG TRẠI DOANH CHÍNH – HUYỆN văn GIANG –TỈNH HƯNG yên và THỬ NGHIỆM điều TRỊ BẰNG AMOXIL RETARD - Pdf 42

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA THÚ Y
----------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
“THỰC TRẠNG BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI
NUÔI TẠI TRANG TRẠI DOANH CHÍNH – HUYỆN VĂN GIANG –
TỈNH HƯNG YÊN VÀ THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ BẰNG AMOXIL
RETARD”
Người thực hiện:
Lớp:
Người hướng dẫn:
Bộ môn:
Khoa:

SV. Phạm Hồng Quân
Thú y c –K55
ThS.Đào Công Duẩn
Nội - Chuẩn
Thú y

Thời gian: Từ tháng 31/7/2014 đến tháng 31/10/2014
Địa điểm:Trại lợn Doanh Chính –Tân Tiến –Văn Giang –Hưng Yên

HÀ NỘI - 2014


Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận tôt nghiệp, ngoài sự nỗ lực hết mình của bản thân,
tôi luôn nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô khoa thú y Học Viện Nông Nghiệp

Bảng 4.4: Kết quả thử nghiệm phòng bệnh viêm tử cung
Bảng 4.5. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau
khi khỏi bệnh tại trại lợn DOANH CHÍNH

3


DANH MỤC HÌNH
Hình 1:
Hình 2:
Hình 3:
Hình 4:

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
n

:Số mẫu theo dõi

P

:Trọng lượng

FSH

:Folliculo Stimulin Hormone

LH

:Lutein Hormone



lợn nái nuôi tại trang trại Doanh Chính –huyện Văn Giang- Tỉnh Hưng Yên
và thử nghiệm điều trị bằng amoxil retard
1.2.MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Khảo sát tình hình chăn nuôi của trại giống Doanh Chính – Tân Tiến- Văn
Giang- Hưng Yên.
- Xác định thực trạng mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái ngoại nuôi tại trang
trại Doanh Chính –Văn Giang -Hưng Yên.
- Đánh giá ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất của lợn nái.
- Đưa ra quy trình phòng và điều trị bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái ngoại nuôi
tại trang trại.

6


Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU CƠ QUAN SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
Bộ phận sinh dục của lợn nái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong
(buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài (âm
môn, âm vật, tiền đình).
2.1.1. Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm
trong xoang chậu. Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình
bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng.
Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hocmon:
estrogen, progesterone, oxytoxin, relaxin và inhibin. Các hocmon này tham gia vào
việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn nái. Estrogen cần thiết cho sự phát triển
của cơ xương, tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú. Progesterone do thể vàng
tiết ra giúp duy trì sự mang thai do nó kích thích phân tiết của tử cung để nuôi

xuất nhiều chất sinh học và trên bề mặt tế bào có thụ thể (receptor) tiếp nhận kích
thích tố LH. Những chất quan trọng được sản xuất bởi tế bào hạt là estrogen,
inhibin và dịch nang.
Khi nang Graaf xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất huyết tại
chỗ. Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết xuất huyết được
gọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều lần. Sau đó tế bào
bao trong và tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng để tạo nên thể vàng, (Trần
Thị Dân, 2004).
2.1.2. Ống dẫn trứng (Oviductus)

8


Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo. Phễu mở ra
để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc với
buồng trứng khi xuất noãn. Phễu tiếp nối với phần rộng. Phần rộng chiếm khoảng
½ chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp
với tế bào biểu mô có lông nhỏ. Phần eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành dày hơn
phần rộng và ít nếp gấp hơn.
Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi
thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng ), tiết các chất để nuôi
dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các
chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung. Nơi tiếp giáp
giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di chuyển của tinh trùng đến phần
rộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi vào tử cung. Ở lợn, sự co thắt của
nơi tiếp giáp eo – tử cung tạo thành cái cản đối với tinh trùng để không có quá
nhiều tinh trùng đi đến phần rộng, nhờ đó tránh được hiện tượng nhiều tinh trùng
xâm nhập noãn.
2.1.3. Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo

tiết ra về phía cổ tử cung. Trên niêm mạc có các nếp gấp.
Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi
thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống
dẫn trứng. Dưới ảnh hưởng của estrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng
nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại. Tuy nhiên các tuyến chỉ đạt
được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của progesterone. Sự phân tiết của
tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ lên giống.
2.1.4. Âm đạo (Vagina)

10


Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau
thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng
trinh.
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng
thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất
dịch từ tử cung.
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
- Lớp liên kết ở ngoài.
- Lớp cơ trơn: có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong. Các lớp cơ âm đạo
liên kết với các lớp cơ ở cổ tử cung.
- Lớp niêm Theo Đặng Đình Tín (1986), âm đạo lợn dài 10 – 12cm.
2.1.5. Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalism)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ. Tiền đình bao gồm:
- Màng trinh là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo, phía
sau thông với âm hộ.Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lá niêm mạc
gấp lại thành một nếp.
- Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh.
- Hành tiền đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo. Cấu tạo giống thể

pháp thụ tinh trực tiếp thì phương pháp này cũng tiềm ẩn một số nguy cơ gây bệnh.
Phương pháp này làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô
trùng khi phối giống hoặc tay của người phối không được sát trùng cẩn thận mà
cầm vào ống dẫn tinh sẽ làm cho vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm.
- Lợn nái đẻ khó và phải can thiệp bằng tay:
Thông thường trong quá trình đẻ tử cung co bóp rất mạnh để đẩy thai ra ngoài,
tuy nhiên trong một số trường hợp lợn đẻ khó do tử cung co bóp yếu, tiêm
Oxytocin để tăng cường co bóp cổ tử cung nhưng ít hiệu quả, vì vậy phải can thiệp

12


bằng tay để đưa con ra ngoài.Trong quá trình thao tác làm có thể niêm mạc tử cung
bị xây sát, tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm.
- Do vi sinh vật:
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật cơ
hội thường xuyên có mặt trong chuồng nuôi. Lợi dụng lúc sinh sản tử cung, âm đạo
tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi khuẩn xâm nhập đường sinh dục gây viêm tử
cung. Một số vi khuẩn gây bệnh thường là: Staphylococcus, Escherichia coli
(E.coli), Streptococcus, Klebsiella.
- Lợn nái phối giống trực tiếp:
Lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn
nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo. Khi sử dụng lợn đực mang vi khuẩn để
phối chúng sẽ truyền sang cho lợn nái khoẻ mạnh.
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để:
Sót nhau rất thường gặp trong chăm nuôi heo nái, nhất là ở những đàn có chế
độ chăm sóc nuôi dưỡng kém, điều kiện vệ sinh không tốt. Bệnh thường do hai
nguyên nhân chính: do heo nái bị viêm nhiễm thường xuyên khi mang thai và do
thức ăn kém chất lượng, nhất là khi thức ăn thiếu các khoáng vi lượng và vitamin.
Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để có thể dẫn đến viêm tử cung.

cơ tử cung. Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu
chứng điển hình và nặng. Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển
sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng. Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra,
dịch thẩm xuất tăng tiết. Nếu bị viêm nặng, nhất là viêm có mủ, lớp tương mạc có
thể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung ( thể
Paramestritis ), thành tử cung dày lên, có thể kế phát viêm phúc mạc.
Lợn nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con
vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn. Lượng

14


sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú. Con vật luôn biểu hiện trạng thái
đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục. Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều
hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm. Khi kích thích
vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ âm hộ dịch
chảy ra nhiều hơn.Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phân
xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của
tử cung, có khi không tìm thấy
một hoặc cả hai buồng trứng. Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành
viêm mãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phân xung quanh thì quá trình thụ
tinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh. Thể viêm này
thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ.
2.2.2.2. Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)
Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), viêm cơ tử cung thường
kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả. Niêm mạc tử cung bị thấm dịch
thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân
giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và
một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử. Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể
dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ. Có khi do

Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm. Con vật có trạng
thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh. Từ âm hộ
chảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức
chết. Khi con vật năm xuống, dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn. Xung quanh
âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch
viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vảy màu trắng xám. Kiểm tra qua âm
đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều. Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua
cổ tử cung. Niêm mạc âm đạo bình thường.

16


* Viêm nội mạc tử cung thể màng giả
Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử. Những vết thương đã ăn
sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử. Lợn nái mắc bệnh này thường
xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm có khi hoàn
toàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảm xuống. Con vật đau đớn, luôn rặn,
lưng và đuôi cong lên. Từ cơ quan sinh dục luông thải ra ngoài hỗn dịch: dịch
viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch.
2.2.3. Chẩn đoán viêm tử cung.
Theo Hội thú y Việt Nam (1995), xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh
viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kì tiền động đực, vì đây là thời
gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài. Số lượng mủ không ổn
định, từ vài ml cho tới 200ml hoặc hơn nữa. Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng
dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu
máu cá. Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính,
viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời
kì cho sữa. Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc
tử cung.
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những


Viêm cơ

Sốt nhẹ

Sốt cao

Trắng xám,

Hồng,nâu

trắng sữa

đỏ

Tanh

Tanh thối

Phản ứng đau

Đau nhẹ

Phản ứng co

Phản ứng co

của cơ tử cung

giảm

Viêm

Phản
ứng co mất
hẳn

Bỏ ăn

Bỏ ăn

hoàn toàn

hoàn toàn


* Đối với lợn nái sau khi đẻ có thể dựa trên cách tính điểm sau:
+ Số ngày chảy mủ, tính từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1
điểm.
+ Bỏ ăn từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1 điểm, nếu bỏ ăn
một phần tính ½ điểm.
+ Ngưỡng thân nhiệt để tính sốt và số ngày bị sốt là 39.80C, 1 ngày = 1 điểm.
*Tổng số điểm được dùng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh như
sau:
+ Tổng số điểm dưới 1 điểm: không có vấn đề.
+ Tổng số điểm từ 2 đến 5 điểm: mắc bệnh nhẹ đến trung bình.
+ Tổng số điểm trên 6: bệnh nghiêm trọng.
Tóm lại: chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thường
xuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi viêm tử cung
nhưng không sinh mủ.
2.2.4. Hậu quả của bệnh viêm tử cung

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai
đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy.
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của
vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố
tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa. Lượng sữa giảm,
thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc.
- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể vàng vẫn
tồn tại , vẫn tiếp tục tiết progesterone.
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát
triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được

20


và không thải trứng được.
Theo Hội thú y Việt Nam (1995), ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng mà người
chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn viêm tử cung lúc sinh đẻ là: chảy mủ,
sốt, bỏ ăn. Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ ảnh hưởng rất lớn tới
năng suất sinh sản của lợn nái sau này. Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn
lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ. Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa
đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ. Mặt khác, viêm tử
cung là một trong các nguyên nhân dẫ đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn
con nuôi sống thấp. Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn
ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng.
Qua đó ta thấy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để tỷ lệ mắc bệnh giảm,
người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp
để phòng và điều trị hiệu quả.
2.2.5. Một số bệnh thường gặp ở đường sinh dục của lợn nái.
Trong số các bệnh ở đường sinh dục ở lợn nái, bệnh mà chúng ta thường gặp

Proteus và Pseudomonas. Cách dùng: pha 75ml Han-iodine 5% với 4 lít nước đem
thụt rửa tử cung 500ml/lần/con/ngày
2.3.2. Thuốc kháng sinh
- Khái niệm: Thuốc kháng sinh là các chất có nguồn gốc tự nhiên và các sản
phẩm cải biến chúng bằng con đường hóa học, có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt
các vi sinh vật ngay ở nồng độ thấp ; ở liều điều trị, không hoặc ít độc với cơ thể
vật chủ. Một số còn còn có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.

22


- Nguyên tắc dùng kháng sinh: Để phát sử dụng kháng sinh 1 cách hiệu quả
trong điều trị và hạn chế hiện tượng kháng thuốc cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn; Phải chọn đúng kháng sinh và đường
cho thuốc thích hợp; Phải sử dụng kháng sinh đúng liều lượng và đúng thời gian
qui định; Phải biết các nguyên tắc chủ yếu về phối hợp kháng sinh.
- Một số thuốc thường dùng để điều trị bệnh viêm tử cung:
* Nhóm β – lactamin các thuốc hay sử dụng trong điều trị viêm tử cung:
Penicillin tự nhiên, Penicillin G, Ampicillin và Amoxycillin điều trị viêm tử cung
do vi khuẩn Gram (+) và một vài vi khuẩn Gram (-) gây ra.
* Kháng sinh nhóm Aminoglycosid (AG) gồm có Gentamycin, Kanamycin,
Apramycin được dùng điều trị bệnh viêm tử cung do các vi khuẩn Gram (-), các
cầu khuẩn gây ra.
- Streptomycin phối hợp với Penicillin có tác dụng hiệp đồng tốt để chống lại
các vi khuẩn Grm(+) và Gram(-) gây bệnh viêm tử cung.
- Neomycin dùng điều trị viêm tử cung do vi khuẩn Gram (-) và
Staphylococcus cho hiệu quả cao.
- Gentamycin ứng dụng điều trị viêm tử cung do vi khuẩn Gram (-) và các vi
khuẩn yếm khí khác gây ra.
2.3.3 Thuốc chống viêm

+ BIO-ADE+B.COMPLEX : Phòng ngừa và điều trị bệnh thiếu vitamin, tăng
cường sức đề kháng, giúp gia súc mau phục hồi khi mắc bệnh, kích thích tăng năng
suất ở gia súc, gia cầm.
+

24


Phần III
ĐỐI TƯỢNG,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status