Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại lợn của ông Nguyễn Thanh Lịch thuộc xã Ba Trại huyện Ba Vì Hà Nội và thử nghiệm một số phác đồ điều trị . - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

GIÀNG A SƠN
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI
NUÔI TẠI TRẠI LỢN CỦA ÔNG NGUYỄN THANH LỊCH THUỘC
XÃ BA TRẠI – BA VÌ – HÀ NÔI VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ
PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Khoa:
Khóa học:

Chính quy
Thú y
Chăn nuôi thú y
2011 - 2016

Thái Nguyên, 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

GIÀNG A SƠN

mình. Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: PGS.TS. Từ
Trung Kiên, Thầy đã tận tuy, hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực
tập. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y
− Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến
thức chuyên ngành trong suốt thời gian học tập tại trường. Đây là những kiến
thức tạo cơ sở giúp em tự tin khi thực tập tốt nghiệp tại cơ sở và sau khi ra
trường, để ứng dụng và phát huy trong sự nghiệp của em sau này.
Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn bên cạnh động
viên và ủng hộ em trong suốt quá trình học tập và thời gian em thực tập. Nhân
dịp này, em cũng gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công nhân viên làm việc tại
trại lợn của ông Nguyễn Thanh Lịch thuộc xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Hà Nội
đã luôn giúp đỡ hướng dẫn em trong quá trình thực tập ở trại và đã tạo điều
kiện thuận lợi cho em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015
Sinh viên

Giàng A Sơn


ii

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm .................................................................... 30
Bảng 3.2: Mức cho nái ăn (nái nuôi con/ ngày đêm) ....................................... 31
Bảng 4.1: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái ..................................................... 39
Bảng 4.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất .................................................. 44
Bảng 4.3: Điều tra quy mô đàn lợn nái 3 năm trở lại đây của trại ................... 46
Bảng 4.4: Tỷ lệ viêm tử cung ở đàn lợn nái trong 3 năm(từ năm 2013 đến

: Thể trọng

LMLM : Lở mồm long móng


iv

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................... i
DANH MỤC BẢNG ..........................................................................................ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. iii
MỤC LỤC .........................................................................................................iv
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
1.1. Đặt vấn đề.................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài .................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa đề tài .............................................................................................. 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học ............................................................................................ 3
2.1.1. Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái ................................... 3
2.1.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái .................................................... 6
2.1.3. Sinh lý lâm sàng ....................................................................................... 8
2.1.4. Quá trình viêm tử cung ............................................................................ 9
2.1.5. Các bệnh thường gặp về viêm tử cung................................................... 10
2.2. Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng trong đề tài ........ 21
2.2.1. Tính chất dược lý hóa, thành phần, công dụng của thuốc dùng ............. 21
2.2.2.Cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng trong đề tài: .................................... 23
2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ...................................... 25
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước........................................................... 25
2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước .......................................................... 27

4.3.7. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau
khi khỏi bệnh .................................................................................................... 52
4.3.8. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị ........................ 53
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .............................................................. 55
5.1. Kết luận ..................................................................................................... 55
5.2. Đề nghị ...................................................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong vài năm gần đây, chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong
nghành nông nghiệp của Việt Nam. Con lợn được xếp hàng đầu trong số các
vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho nhân dân và phân bón cho sản
xuất nông nghiệp. Ngày nay chăn nuôi lợn còn có tầm quan trọng đặc biệt nữa
là tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể
cho nền kinh tế quốc dân. Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của
các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là việc
làm cần thiết.
Tuy vậy, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh
sản là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi
tập trung trong các trang trại cũng như nuôi tập trung ở gia đình. Đối với lợn
nái, nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp thì các
bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do khả năng thích nghi của đàn lợn nái
ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém. Mặt khác, trong quá trình sinh
đẻ, lợn nái dễ bị các loại vi khuẩn như Streptococcus, Staphylococcus, E.coli
xâm nhập và gây một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo, viêm âm



3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái
Quá trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng và
cơ bản, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống. Cấu tạo
gồm bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong.
Bộ phận sinh dục bên trong là bộ phận không nhìn thấy được nhưng
bằng phương pháp gián tiếp người ta có thể quan sát, hoặc sờ thấy bao gồm:
âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng.
Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ
thấy và quan sát được. Bao gồm: âm môn, âm vật và tiền đình. Mỗi bộ phận
này đều đảm nhiệm một chức năng khác nhau và giữ một vai trò quan trọng
khác nhau.
* Âm môn (vulva)
Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn. Bên ngoài có hai
môi, bờ trên của hai môi có sắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và
tuyến tiết mồ hôi.
* Âm vật (clitoris)
Âm vật của con cái được cấu tạo giống như dương vật của con đực
được thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng. Trên âm vật có các nếp da tạo ra
mũ âm, ở giữa âm vật gấp xuống dưới là chỗ tập trung các đầu mút các dây
thần kinh.
* Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism)
Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có màng
trinh, phía trước là âm đạo. Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm

của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau.
Cấu tạo ống dẫn trứng cũng phù hợp với chức năng này, một đầu ống dẫn
trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có loa kèn là một màng
mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấy trứng. Trứng được vận


5

chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra quá trình thụ tinh
và phân chia của phôi. Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng
từ 3 - 10 ngày. Trên đường di hành, tế bào trứng có thể ở lại các đoạn khác
nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng.
Có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn chức năng: đoạn tua điểm,
đoạn phễu, phồng của ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng.
* Buồng trứng
Buồng trứng lợn dài 1,5 - 2,5 cm, khối lượng khoảng 3 - 5g (Đặng
Quang Nam và Phạm Đức Chương, 2002 [11]).
Cấu tạo: phía ngoài được bao bọc bởi một lớp màng bằng tổ chức liên
kết sợi, bên trong buồng trứng chia làm hai miền. Miền vỏ và miền tủy đều
được cấu tạo bằng tổ chức liên kết sợi xốp và tạo cho buồng trứng một lớp
đệm (Stromaovaris). Ở miền tủy có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá
trình trứng chín và rụng trứng. Trên buồng trứng của một lợn cái 10 ngày tuổi
đã có khoảng 60.000 trứng non. Theo thời gian, buồng trứng này phát triển
qua các giai đoạn khác nhau. Tầng ngoài là những noãn bào sơ cấp phân bố
tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi
noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng.
Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là noãn bào, noãn bào lúc
đầu có hình dẹt sau có hình trụ. Noãn bào thứ cấp do noãn bào tăng sinh và
hình thành xoang noãn bào ép trứng về một phía, khi noãn bào chín là quá
trình sinh trưởng đã hình thành. Noãn bào nổi lên trên bề mặt buồng trứng,

Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn
toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì
bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, chín và nổi cộm lên bề mặt
buồng trứng. Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng
trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục. Do
trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ.


7

Sở dĩ trứng rụng có tính chu kì: dưới sự điều khiển của thần kinh trung
ương, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát
triển, trong khi đó LH làm trứng chín, khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi
đó rụng trứng, hình thành thể vàng. Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu
gia súc được thụ thai, nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không được thụ
tinh, sau đó nó teo đi dưới tác dụng của PGF2α làm co mạch máu ngoại vi
nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không được cung cấp chất
dinh dưỡng và bị tiêu hủy trong vòng 24h giờ, kết quả làm hàm lượng
progesteron giảm, lúc này FSH và LH được giải phóng làm trứng phát triển
và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo.
Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải
trứng sau. Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác
nhau. Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động
trong phạm vi từ 18 - 25 ngày. Khi tiến hành phối giống lợn có chửa thì lợn
không động dục lại. Thời gian có chửa của lợn là 114 ngày, thời gian động
dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày.
* Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng
sinh sản của gia súc cái. Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên
bao gồm thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai

chủ yếu là thân nhiệt cơ thể cao hơn so với sinh lý bình thường. Quá trình chủ
yếu là do tác động của vi sinh vật gây bệnh, độc tố và những chất khác được
hình thành trong quá trình sinh bệnh. Những chất đó chủ yếu là protein hay
sản phẩm của nó (Hồ Văn Nam và Nguyễn Văn Thanh, 1997 [12]). Một số
kích tố như adrenalin, parathyoroxyn, nước muối, glucoza ưu chương đều có
thể gây sốt.
+ Tần số hô hấp
Tần số hô hấp là số lần thở trên phút, nó phụ thuộc vào cường độ trao
đổi chất, tuổi, tầm vóc. Gia súc non có cường độ trao đổi chất mạnh nên tần
số hô hấp tăng hơn. Động vật nhỏ cũng có tần số hô hấp cao hơn so với động


9

vật có thể vóc lớn. Ngoài ra trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ môi trường
cũng ảnh hưởng đến nhịp thở. Tần số hô hấp bình thường dao động trong
khoảng 8 - 18 lần/phút.
2.1.4. Quá trình viêm tử cung
Viêm là phản ứng toàn thân chống lại các tác nhân gây bệnh, thường
biểu hiện ở cục bộ, quá trình viêm xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai
đoạn có những biểu hiện khác nhau. Tại ổ viêm thường xảy ra các biểu hiện
sưng, nóng, đỏ, đau. Xét trên mặt tích cực, viêm là phản ứng nhằm ổn định
các hằng số nội môi trong cơ thể, giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh.
Theo Metchnikov (1821 - 1902) sau khi quan sát hiện tượng di động và
nuốt các dị vật của bạch cầu đa nhân trung tính cho rằng, trung tâm của phản
ứng viêm là sự hoạt động của những tế bào thoát mạch và chống lại các vật
kích thích viêm mà ông gọi là hiện tượng thực bào (phagocytosis) (Hồ Văn
Nam và Nguyễn Văn Thanh, 1997 [12]).
Theo Vũ Triệu An và cs (1990) [1] thì viêm là một phản ứng của cơ thể
mà nền tảng của nó là phản ứng của tế bào. Phản ứng này hình thành và phát

Các tế bào bị thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm
trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại ổ viêm, chúng
tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh học cao và hạ thấp PH tại ổ viêm.
+ Các tế bào viêm.
Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm,
bao gồm bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm,
bạch cầu đơn nhân lớn.
2.1.5. Các bệnh thường gặp về viêm tử cung
a. Viêm cổ tử cung (Cervitis)
Cổ tử cung lợn có những u thịt xen kẽ khép lại với nhau theo lối cài
răng lược (Phạm Xuân Vân, 1982 [20]).
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm, tròn
không có nếp gấp nên dễ thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò.
Cổ tử cung luôn đóng chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ.


11

Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về
kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó
phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị
xây sát. Ngoài ra, viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử
cung (Trần Tiến Dũng và cs, 2002 [5]).
Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động
dục niêm dịch không thoát ra ngoài được. Khi ta dùng mỏ vịt và đèn soi khám
qua âm đạo thấy cổ tử cung mở đường kính từ 1 - 2 cm thấy niêm mạc xung
huyết hoặc phù rõ, cá biệt có vết loét dính mủ (Nguyễn Văn Thanh, 2003 [16]).
b. Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ
được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển. Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung

dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết…
Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn. Xung quanh
âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình
thành từng đám vẩy, màu trắng xám. Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch
viêm thải ra nhiều. Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung. Niêm
mạc âm đạo bình thường.
Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử
cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau. Thành tử cung dày và
mềm hơn bình thường. Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản
ứng co nhỏ lại của chúng yếu ớt. Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch
viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng.
* Viêm nội mạc tử cung màng giả
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử. Những vết thương
đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử.
Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt
lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa. Con vật biểu
hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên. Từ cơ quan sinh dục
luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức
hoại tử, niêm dịch…


13

b. Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)
Theo Settergreen I (1986), viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội
mạc tử cung thể màng giả. Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm suất, vi
khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối
rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản. Từ đó làm cho các lớp cơ và
một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử. Trường hợp này có thể dẫn đến hiện
tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ, có khi

mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn
mạnh hơn. Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận
xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng
của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng.
Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết,
huyết nhiễm mủ.
2.1.6. Một số nguyên nhân gây viêm tử cung
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [15] thì lợn nái sinh sản đều mang
khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết
dịch tụ lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển.
Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [9], trong quá trình có
thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số
bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số
bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết
lưu và viêm tử cung.
Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
* Chăm sóc quản lý vệ sinh
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ
không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh. Do quá trình can thiệp khi lợn
đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương
niêm mạc.
Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa
vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái. Do lợn đực bị
viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn cái.


15

Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng. Vệ sinh trang trại,
cơ sở chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt,… sẽ làm


2.1.7. Triệu chứng bệnh viêm tử cung
Các triệu chứng lâm sàng chung khi lợn nái bị bệnh viêm tử cung sau khi
đẻ 1- 7 ngày lợn nái sốt cao 40 – 41OC sốt theo quy luật lên xuống (buổi sáng
sốt nhẹ 39 – 39,5oc, buổi chiều sốt cao 40 – 41OC) có dịch âm hộ chảy ra màu
trắng đục, hôi tanh.
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và Đặng Đình Tín (1986) [15], thì viêm tử
cung ở lợn nái được chia thành các thể sau:
* Viêm tử cung nhẹ
Gia súc có một số biểu hiện triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt hơi cao, ăn
uống giảm, lượng sữa giảm, con vật có biểu hiện đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng
rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh. Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch
lẫn với dịch viêm, mủ. Khi con vật nằm dịch viêm thải ra ngoài nhiều hơn. Xung
quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại
thành từng đám vảy khô, màu trắng xám. Cổ tử cung hơi mở có mổ chảy qua cổ
tử cung, niêm mạc âm đạo bình thường.
* Viêm tử cung thể vừa
Thường gặp là viêm nội mạc tử cung thể màng giả. Ở thể này niêm mạc tử
cung thường thường bị hoại tử những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử
cung và chuyển thành hoại tử. Trường hợp này xuất hiện triệu chứng toàn thân
rõ. Thân nhiệt cao, ăn uống và sản lượng sữa giảm, có khi mất sữa hoàn toàn, kế
phát viêm vú. Con vật ở trạng thái đau đớn và rặn lưng và cong đuôi lên, từ cơ
quan sinh dục thải ra ngoài hỗn hợp dịch : dịch viêm, máu, mủ và lợn cợn những
mảnh tổ chức hoại tử và niêm dịch, dịch chảy ra có màu vàng xanh lẫn mủ trắng
đục và có mùi tanh thối.
* Viêm tử cung thể nặng
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và Đặng Đình Tín (1986)[15], cho biết viêm
tử cung thể nặng thường có biểu hiện cấp tính và cục bộ, toàn thân xuát hiện
những triệu chứng điển hình và nặng : con vật ủ rũ, mệt mỏi và uể oải, đại tiểu
tiện gặp khó khăn. Con vật ăn uống kém hoặc bỏ ăn thường kế phát viêm vú.

thải ra ngoài hỗn dịch rỉ viêm gồm mủ lẫn mảnh tổ chức hoại tử màu vàng
nâu, mùi tanh, dính vào gốc đuôi, hai bên mông.


18

Viêm màng giả trên niêm mạc được phủ một màng mỏng, tổ chức hoại
tử màu trắng, nâu hoặc vàng xám. Phía dưới lớp màng có những vết loét nằm
rải rác hay tập trung lại thành từng đám lớn trên niêm mạc. Con vật đau đớn
rõ rệt, khi kiểm tra âm đạo, con vật luôn cong đuôi rặn, dịch rỉ viêm, máu, mủ
lẫn tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh thối chảy ra. Viêm màng giả rất
dễ dẫn tới nhiễm trùng huyết. Hậu quả là do tế bào của âm đạo tăng sinh,
niêm mạc âm đạo sẹo hóa, nhăn nhúm, lòng âm đạo bị hẹp ảnh hưởng đến
quá trình phối giống và sinh sản lần sau.
b. Viêm buồng trứng
Theo Anberth Youssef (1997) [24] viêm buồng trứng ở gia súc chủ
yếu là do viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, viêm phúc mạc. Nếu viêm cả hai
buồng trứng ở thể cấp tính thì gia súc mất hẳn chu kỳ sinh dục, buồng trứng
sưng to nên hình thành hình tròn, mềm và mặt ngoài nhẵn bóng, không có
noãn bào và thể vàng.
Nếu viêm buồng trứng mãn tính, buồng trứng sưng to rõ rệt, rắn, mặt
ngoài có nhiều chỗ lồi lõm khác nhau. Nếu buồng trứng bị viêm kéo dài, tế
bào trứng bị thoái hóa, các tổ chức liên kết bị tăng sinh, cả hai buồng trứng bị
sơ cứng, con vật mất khả năng sinh sản (trích madec F (1995) [10]).
c. Thể vàng tồn tại (Corpus luteum persistens)
Trong điều kiện sinh lý bình thường, khi gia súc cái xuất hiện động dục
lúc đó noãn bào chín và nổi rõ trên mặt buồng trứng. Dưới tác dụng của thần
kinh hormone, áp suất noãn bào vỡ, giải phóng tế bào trứng đồng thời sản
xuất ra dịch follicolin. Sau khi noãn bào vỡ, dịch nang chảy ra, nang degraff
xẹp xuống, đường kính ngắn lại, tạo ra những vách ngăn trên vách xoang ăn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status