:Khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA THÚ Y

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
“KHẢO SÁT TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN
LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI TRẠI THÁI DƯƠNG – TẢN LĨNH - BA VÌ
HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”.
Người thực hiện: SV. Phạm Xuân Thuấn
Lớp: Thú y, khoá 37
Người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Mai Thơ
Bộ môn: Ngoại - Sản
Khoa: Thú y
Thời gian: Từ tháng 12/2011 đến tháng 29/2/2012
Địa điểm: Trại lợn Thái Dương – Tản Lĩnh – Ba Vì – Hà Nội

HÀ NỘI - 2012
Chia sẻ miễn phí tại: mDoko.blogspot.com
LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian thực tập từ tháng 12/2011

29/2/2012 tại trại lợn Thái
Dương – Tản Lĩnh

Ba Vì – Hà Nội, đến nay em đã hoàn thành báo cáo thực
tập tốt nghiệp của mình. Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
ThS. Nguyễn Thị Mai Thơ cán bộ giảng dạy bộ môn Ngoại – Sản, cô đã
tận tuy, hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Thú y

Trường

4. Nguyễn Văn Thanh (2003), “Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn
lợn nái ngoại nuôi tại đồng bằng sông Hồng và thử nghiệm điều trị”, Tạp chí
KHKT Thú y, Tập 10 32
5. Nguyễn Văn Thành (2002), Một số biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của
heo nái sau khi sinh, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội 32
6. Đặng Đình Tín (1985), Giáo trình sản khoa và bệnh sản khoa thú y, Trường
Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội 32
ii
PHẦN I : THỰC TẬP SẢN XUẤT Ở TRẠI
Trong quá trình thực tập ở trại, chúng tôi cùng anh chị em công nhân và
các bác sĩ thú y tại chăm sóc và điều trị các bệnh xảy ra cho đàn lợn, đỡ đẻ, bắt
giống, khai thác tinh, dẫn tinh cho lợn, kiểm định lợn chửa, chuyển lợn cai sữa,
tiêm vacxin cho lợn nuôi tại trại Thái Dương - Tản Lĩnh – Ba Vì. Dưới đây là
công việc cụ thể chúng tôi đã làm trong quá trình thực tập ở trại.
I/ CÔNG VIỆC TẠI CHUỒNG ĐẺ
1. Chuẩn bị dụng cụ đỡ đẻ
Chuẩn bị ô úm, đèn hồng ngoại, kìm bấm nanh, khăn lau, bột lăn,cồn, Khi
lợn con ra khỏi cơ thể mẹ nắm hai chân sau dốc ngược lợn con xuống, lau sạch
nước nhờn trong mũi, miệng lợn con. Hai tay xoa dọc theo mình lợn tạo nhu
động hô hấp và vỗ mạnh vào đùi sau cho lợn con kêu lên để tạo sự hô hấp đầu
tiên, Buộc chặt cuốn rốn ở vị trí cách mặt bụng khoảng 2cm sau khi đã vuốt
ngược chất dinh dưỡng vào cuống nhau. Cắt rốn bằng dao sạch có sát trùng bằng
cồn, vị trí vết cắt cách chỗ cột từ 1,5 – 2 cm. Sau đó sát trùng đầu vết cắt để
tránh nhiễm trùng. Sau đó cho ngay vào ổ úm, cung cấp nhiệt độ khoảng 39
0
C
để tránh cho lợn con bị lạnh do sự thay đổi nhiệt độ đột ngột giữa bên trong và
bên ngoài cơ thể mẹ.
2. Bấm răng
Dùng kìm bấm nanh đặt ở vị trí điểm giữa chiều dài răng, bấm dứt khoát

Điều trị lợn con ỉa chảy phân vàng bằng thuốc hòa bột Elac và bột coli
200 theo tỉ lệ 1:1 hòa với nước cất cho lợn con uống, qua theo dõi điều trị cho
kết quả tốt
9. Tiêm vacxin cho lợn con theo mẹ
2
+ Tiêm vacxin Rhinanvac cho lợn con được 7 ngày tuổi để phòng bệnh do
mycoplasma 2ml/con tiêm bắp.
Tiêm vacxin lở mồm long móng cho lợn con được 14 ngày tuổi để phòng
bệnh lở mồm long móng tiêm 2ml/con tiêm bắp.
Tiêm vacxin Myvac.Hc (GPE-) cho lợn con được 21 ngày tuổi để phòng
bệnh dịch tả 2ml/con tiêm bắp.
10. Tiêm vacxin cho lợn nái nuôi con
Tiêm vacxin Amervac – PRRS cho lợn nái đẻ được 14 ngày để phòng
bệnh hội chứng hô hấp tiêm 2ml/con tiêm bắp.
Tiêm vacxin Farrowsure B cho lợn nái đẻ được 19 ngày để phòng bệnh
parvo, đóng dấu, lepto. tiêm 5ml/con tiêm bắp.
Tiêm biomectin 1% cho lợn nái trước cai sữa 1 ngày để phòng bệnh nội
ngoại ký sinh trùng 1ml/33kg thể trọng.
11. Cai sữa cho lợn con
Lợn con cai sữa ở 25 ngày tuổi (theo quy trình của trại ). cai sữa cho lợn
con phải giảm dần dần, ít nhất sau 03 ngày để tránh hiện tượng sốt sữa trên lợn
mẹ và lợn con bị tiêu chảy. Chỉ cai sữa khi lợn con đã quen thức ăn tập ăn. Hạn
chế dần số lần cho lợn con bú, chuyển lợn mẹ lên chuồng chờ phối, vẫn để lợn
con ở lại ô, ngày hôm sau thì mới chuyển lợn con lên chuồng cai sữa.
Giảm mức ăn của lợn mẹ và lợn con trong 3 - 4 ngày cai sữa đầu tiên để
tránh lợn mẹ bị viêm vú và lợn con bị tiêu chảy đồng thời không thay đổi loại
thức ăn cho lợn con vào những ngày sau cai sữa ít nhất là 1 tuần, sau đó chuyển
dần sang dùng loại cám dành cho lợn con sau cai sữa.
12. Một số trường hợp bệnh lý
12.1. Hiện tượng đẻ khó

phần âm hộ tiếp tục khâu 2 mép âm môn lại và tiêm 1 mũi kháng sinh để chống
nhiễm trùng.
4
Lợn nái gần đẻ sa âm đạo hoàn toàn, âm đạo sa xuống nhìn như cái bát tô,
khi đẻ lợn nái rặn nhưng không ra con phải can thiệp bằng tay để lôi lợn con ra,
sau khi cán bộ kỹ thuật kiểm tra thấy không thể cho phần âm đạo bị sa vào được
nên quyết định loại. Con của nái đó ghép với nái khác.
12.4. Hiện tượng xung huyết khi đẻ
Lợn nái đến ngày đẻ bị xung huyết ở cơ quan sinh dục ngoài. Âm hộ tím
bầm nhìn như cái bọc, lợn đẻ được 2 con thì âm hộ bị vỡ, máu chảy ra nhiều
Xử lý bằng cách lấy dây chun buộc âm hộ lại để cầm máu sau đó dùng
thuốc TAXAMIC tiêm 5ml xung quanh âm hộ, để khoảng 10 phút tháo dây
chun buộc thì không thấy máu chảy ra nữa, lợn nái vẫn đẻ bình thường, đến
ngày hôm sau dùng dao mổ cắt hết những cục máu đông và tổ chức da chết,
dùng kim chỉ khâu lại, dùng spay xịt để chống nhiễm trùng, qua theo dõi thấy có
hiệu quả.
13. Tham gia điều trị
* Áp xe cổ
Qua thời gian theo dõi thực tế tại trại chúng tôi thấy hiện tượng áp xe ở lợn
nái khá nhiều và thường xuất hiện ở vùng cổ vai.
Nguyên nhân chủ yếu ở đây là do kỹ thuật tiêm không đúng, nên thuốc
không được hấp thu hết và tồn tại ở chỗ tiêm, lâu ngày hình thành ổ áp xe, ngoài
ra còn do kim tiêm không được sát trùng kỹ trước khi tiêm hoặc mũi kim quá
cùn làm ảnh hưởng đến tổ chức bên trong, chính vì thế kích thích gây áp xe.
Khi thấy ổ áp xe bùng nhùng chúng tôi tiến hành can thiệp bằng ngoại
khoa và thu được kết quả cao, đạt tỷ lệ 100%. Trong số những nái bị áp xe có
hai trường hợp ổ áp xe đã bị vỡ và phát triển thành lỗ dò rất khó điều trị.
Chẩn đoán: Muốn chẩn đoán chính xác cần căn cứ vào triệu chứng lâm
sàng: Vùng bệnh có khối sưng hình cầu có hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau. Sờ
nắn xung quanh cứng, ở giữa mềm và có hiện tượng bã đậu.

mạnh bình thường.
Trong 5 trường hợp lợn nái bị sảy thai, chúng tôi thấy có 4 con bị sảy ở
giai đoạn 45 – 62 ngày sau khi phối giống có kết quả. Còn 1 con nữa bị sảy ở
giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai. Theo kết quả của lứa trước, con nái này
cũng bị sảy thai vào giai đoạn đó nên hiện tượng sảy thai của lợn này có thể là
do thói quen.
Con vật sau khi sảy thai thường mệt, nằm một chỗ, âm hộ có rớm máu.
Khi phát hiện thấy lợn bị sảy thai, chúng tôi dùng oxytoxin 4 – 6 ml/con tiêm để
đẩy thai ra ngoài. Đồng thời, dùng thuốc trợ sức, trợ lực:
Rp: ADE – B.complex: 10 ml/con
Vitamin C 5%: 10 ml/con
Cafeinnatribenzoat: 5 ml/con
Cho gia súc nghỉ ngơi yên tĩnh, hạn chế vận động và cho ăn thức ăn dễ
tiêu hoá. Sau vài ngày can thiệp, cả 4 con đều động dục trở lại nhưng có 1 con bị
loại thải vì đã sảy thai 2 lần.
* Tổn thương cơ giới
Trong thời gian thực tập tại cơ sở chúng tôi gặp 8 trường hợp tổn thương
cơ giới ở lợn nái do trượt ngã trong khi vận động xung quanh chuồng, do con
vật bị đánh trong quá trình di chuyển, mức độ tổn thương nhẹ, chỉ bị rách mép
âm môn và chảy máu hoặc bị xước mông.
Chúng tôi can thiệp bằng cách cho nái đó nghỉ ngơi, rửa sạch vết thương
bằng thuốc sát trùng, bôi cồn Iod 5% hay xanh methylen lên chỗ bị tổn thương
để tránh ruồi muỗi.
7
II: CÔNG VIỆC TẠI CHUỒNG PHỐI
1. Kiểm tra lợn cái lên giống
Cho lợn đực thí tình đi phat hienj con cái động dục vào buổi sáng sớm và
đầu giờ chiều, kiểm tra âm hộ lợn cái khi lên giống thấy âm hộ sưng lên có dịch
nhiều loãng, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng, niêm dịch từ âm đạo chảy
ra nhiều, sau 2- 3 ngày dịch keo đặc hơn. Con vật có biểu hiện tính hưng phấn

+ Khuấy nhẹ môi trường và tinh dịch bằng đũa thuỷ tinh.
+ Kiểm tra tinh dịch đã pha bằng kính hiển vi.
+ Rót tinh dịch vào lọ đựng tinh, cho tinh dịch chảy theo thành lọ, vặn
nắp chặt xếp vào khay ở nhiệt độ môi trường.
+ Ghi số hiệu và loại giống của con đực giống trên nắp lọ tinh.
+ Bảo quản trong tủ bảo ôn có nhiệt độ từ 15 – 17
0
C.
2.4. Qui trình phối giống:
+chuẩn bị bông, nước muối sinh lý, panh kẹp, nước sạch và khăn lau,
găng tay, que phối,gel bôi trơn.
- Phối giống
+ Vệ sinh cơ quan sinh dục lợn cái bằng bông tẩm nước muối sinh lý sau
đó lau khô bằng khăn sạch.
+ Kích thích lợn nái bằng cách cưỡi lên lưng hay vuốt hai bên hông.
+ Bôi trơn dẫn tinh quản bằng gel bôi trơn.
+ Đưa dẫn tinh quản vào cơ quan sinh dục cái, xoay nhẹ ngược chiều kim
đồng hồ khi kịch rút ra 2cm, lắp vào đầu dẫn tinh quản, xoáy nắp lọ tinh để cho
tinh dịch chảy vào, khi hết tinh dịch tháo lọ tinh ra lắp nắp dẫn tinh quản vào và
để lưu lại trong 5 phút, sau khi dan tinh xong không được cho lợn nái nằm luôn.
+ Rút nhẹ dẫn tinh quản xoay theo chiều kim đồng hồ và vỗ mạnh vào
lưng nái một cách đột ngột.
+ Sau khi phối xong ghi thẻ tai của lợn nái, ô, chuồng, đực phối, người
dẫn tinh, dự kiến ngày đẻ.
9
PHẦN II: CHUYÊN ĐỀ
I. MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đang có những bước phát
triển nhảy vọt, kéo theo đó ngành chăn nuôi cũng phát triển không ngừng. Nhiều

2.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái
Cơ quan sinh sản của lợn cái bao gồm hai bộ phận: bộ phận sinh dục bên
ngoài và bộ phận sinh dục bên trong.
2.1.1.1. Bộ phận sinh dục bên ngoài
+ Âm môn (Vulva)
Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm ở dưới hậu môn. Bên ngoài chứa 2
môi (labia vulva), bờ trên của 2 môi có sắc tố đen, nhiều tuyến chất nhờn màu
trắng và tuyến tiết mồ hôi.
+ Âm vật (Clitoris)
Âm vật của con cái giống như dương vật của con đực thu nhỏ lại, bên
trong có thể hổng. Trên âm vật có các nếp da tạo ra mũ âm vật (Praeputium
clitoridis), ở giữa âm vật xuống là chỗ tập trung của nhiều đầu mút thần kinh.
+ Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ. Tiền đình bao gồm:
- Màng trinh: là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo, phía
sau thông với âm hộ. Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lá niêm
mạc gấp lại thành một nếp.
- Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh.
- Hành tiền đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo. Cấu tạo giống thể
hổng ở bao dương vật của con đực.
11
Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về
âm vật.
2.1.1.2. Bộ phận sinh dục bên trong
+ Âm đạo (Vagina)
- Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau
thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng
trinh.
- Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối đồng
thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các

- Lớp nội mạc tử cung: Là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp
tế bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhầy tử cung. Nhiều
tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung, khi lông rung động thì gạt những chất
nhầy tiết ra về phía cổ tử cung. Trên niêm mạc có các nếp gấp.
Lớp niêm mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp
phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển
đến ống dẫn trứng. Dưới ảnh hưởng của Estrogen, các tuyến tử cung phát triển
từ lớp màng nhầy xâm nhập vào lớp dưới màng nhầy và cuộn lại. Tuy nhiên, các
tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của Progesterone.
Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ lên giống.
+ Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo. Phễu mỡ
ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc
với buồng trứng khi xuất noãn. Phễu tiếp nối với phần rộng. Phần rộng chiếm
1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có
nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ. Phần eo tiếp nối với sừng tử
cung, nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn.
13
Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi
thụ tinh của ống dẫn trứng (1/3 phía trên của ống dẫn trứng), tiết ra các chất để
nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng,
tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong mấy ngày trước khi phôi đi vào tử cung. Nơi
tiếp giáp giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di chuyển của tinh
trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi vào tử cung. Ở
lợn, sự co thắt của nơi tiếp giáp eo - tử cung tạo thành cái cản đối với tinh trùng
để không có quá trình tinh trùng đi đến phần rộng, nhờ đó tránh được hiện tượng
nhiều tinh trùng xâm nhập noãn.
+ Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm
trong xoang chậu. Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có

noãn nang bậc 2. Noãn nang bậc 2 hoặc nhiều lớp tế bào nang nhưng không có
xoang nang (là khoảng trống chứa dịch nang). Noãn nang có xoang được xem
như noãn nang bậc 3, chứa dịch nang và có thể trở nên trội hẳn để chuẩn bị xuất
noãn (nang Graaf). Noãn nang có xoang bao gồm ba lớp: Lớp bao ngoài, lớp bao
trong và lớp tế bào hạt. Lớp bao ngoài là mô liên kết lỏng lẻo. Lớp bao trong sản
xuất Androgen dưới tác dụng của LH. Lớp tế bào hạt tách rời lớp bao trong bởi
màng đáy mỏng. Tế bào hạt sản xuất nhiều chất sinh học và trên bề mặt tế bào
có thụ thể (receptor) tiếp nhận kích thích tố LH. Những chất quan trọng được
sản xuất bởi tế bào hạt là Estrogen, inhibin và dịch nang.
Khi nang Graaf xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất huyết
tại chỗ. Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết xuất huyết
được gọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều lần. Sau đó
tế bào bao trong và tế bào hạt biệt hoá thành tế bào thể vàng để tạo nên thể vàng.
15
2.1.2. Các thể viêm tử cung
Theo Đặng Đình Tín (1985), bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể:
viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung.
2.1.2.1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)
Theo NguyễnVăn Thanh (1999), viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm
mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản
của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh
của viêm tử cung. Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ
nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử cung bị tổn
thương, tiếp đó là các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E.Coli,
Salmonella, C.Pyogenes, Bruccella, roi trùng Trichomonas Foetus…. Xâm nhập
và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm.
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000), bệnh viêm nội mạc
tử cung có thể chia 2 loại….
- Viêm nội mạc tử cung thể Cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở
niêm mạc tử cung.

đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm. Gia súc biểu hiện trạng
thái đau đớn, rặn liên tục. Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu
đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối. Con
vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mac.
Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau.
Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh.
2.1.2.3. Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperali)
Theo Đặng Đình Tín (1985), viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ
viêm cơ tử cung. Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện
những triệu chứng điển hình và nặng. Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu
17
hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng. Sau đó các tế bào bị
hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết. Nếu bị viêm nặng, nhất là viêm có
mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tình trạng
viêm mô tử cung (thể Perimetritis), thành tử cung dầy lên, có thể kế phát viêm
phúc mạc. Lợn nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: Nhiệt độ tăng cao, mạch
nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn.
Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú. Con vật luôn biểu hiện
trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục. Từ âm hộ thải ra
ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mầu nâu và mùi thối
khắm. Khi kích thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn
nhanh hơn, từ âm hộ dịch chảy ra nhiều hơn. Trường hợp một số vùng của tương
mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái
thay đổi vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai
buồng trứng. Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêm mãn tính, tương
mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau
sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh. Thể viêm này thường kế phát
bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ.
2.2 Chẩn đoán viêm tử cung.
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ

phần hoặc
hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn
toàn
Như vậy, chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thường
xuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi bị viêm tử
cung nhưng không sinh mủ.
III. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng
Đàn lợn nái thuần Yorkshire, Landrace và nái lai đang trong giai đoạn
sinh sản.
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Khảo sát tình hình chăn nuôi lợn
− Tình hình chăn nuôi lợn ở trại từ năm 2009 đến năm 2011.
− Công tác thú y ở trại Thái Dương - Tản lĩnh - Ba Vì - Hà Nội.
3.2.2. Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn ở trại Thái Dương - Tản Lĩnh - Ba
Vì - Hà Nội.
3.2.3. Khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung từ tháng 12/2011 – 29/2/2012.
− Tỷ lệ nái mắc bệnh viêm tử cung.
3.2.4. Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung
19
− Tỷ lệ khỏi (%)
− Thời gian khỏi trung bình (ngày)
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp điều tra cơ bản
- Tiến hành tra cứu trên sổ sách, thẻ nái và hỏi trực tiếp cán bộ kỹ thuật
phụ trách trại để biết được các thông tin cần thiết.
- Điều tra trực tiếp tại trại.
3.3.2. Phương pháp chẩn đoán bệnh viêm tử cung

thống nước uống tự động, máng ăn bán tự động bằng inox, có chuồng úm lợn
con bằng sắt và hệ thống chuồng sàn dự phòng cho lợn sau cai sữa.
Khu chuồng sau cai sữa và khu chuồng thịt: hai khu chuồng này có kiểu
thiết kế như nhau, mỗi khu chuồng có 2 dãy, mỗi dãy gồm 10 ô chuồng, mỗi ô
chuồng có diện tích 40 m
2
, Trong mỗi ô đều có bể tắm cho lợn, máng ăn tự động
bằng xi măng.
Mái chuồng được lợp bằng tôn chống nóng, xung quanh chuồng là các
cửa sổ bằng kính và hệ thống đèn điện chiếu sáng, đèn sưởi ấm. Mỗi khu chuồng
đều có hệ thống dàn mát và hệ thống quạt thông gió đảm bảo thông thoáng và
nhiệt độ phù hợp.
Trại được bao bọc bởi hệ thống tường bao cao 1,8 m, xung quanh trại
được trồng cây xanh. Trại xây dựng theo hướng đông nam, mát về mùa hè, ấm
về mùa đông. Nước uống và hệ thống làm mát sử dụng nước giếng khoan đã qua
bể lọc, theo đường ống dẫn tới từng ô chuồng.
Công nhân được bố trí ở khu nhà xây dựng đầu hướng gió, sạch sẽ thoáng
mát, đảm bảo cho toàn bộ công nhân nghỉ ngơi ngay trong trại.
21
4.2. Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi và công tác thú y tại trại
4.2.1. Tình hình chăn nuôi
Trại lợn Thái Dương – Tản Lĩnh – Ba Vì là một trại chăn nuôi lợn khép
kín, cung cấp lợn giống và lợn thịt trong và ngoài thành phố. Để đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao về lợn thịt và con giống trại đã không ngừng mở rộng quy mô
cả về số lượng và chất lượng. Để thấy được xu hướng ngày càng phát triển của
trại chúng tôi đã tiến hành điều tra cơ cấu đàn lợn tại trại trong vòng 3 năm, kết
quả được thể hiện ở bảng 4.1.
Bảng 4.1: Cơ cấu đàn lợn tại trại từ năm 2009 đến tháng 12/2011
Thời gian
Loại lợn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status