ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THÙY LINH
Tên đề tài:
"THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG
TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI TRẠI LỢN CP
HUYỆN MỸ ĐỨC HÀ NỘI VÀ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ"
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp
Khoa:
Chăn nuôi thú y
Khóa học:
2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Thái Nguyên, năm 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành khóa luận của mình, tôi
đã nhận đƣợc sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hƣớng dẫn, sự giúp đỡ của
Trƣờng Đại học Nông Lâm, Khoa Chăn nuôi thú y và trang trại chăn nuôi lợn
gia công của công ty Cổ Phần Charoen Pokphand Việt Nam. Tôi cũng nhận
đƣợc sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ động
viên của ngƣời thân trong gia đình.
Nhân dịp này tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo
TS. Nguyễn Thu Quyên đã rất tận tình và trực tiếp hƣớng dẫn tôi thực
hiện thành công khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trƣờng Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện
thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Công ty Cổ phần chăn nuôi
Charoen Pokphand Việt Nam, chủ trang trại cùng toàn thể anh chị em công
nhân trong trang trại của gia đình ông Nguyễn Sỹ Bình về sự hợp tác giúp đỡ
bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa
luận này.
Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, ngƣời thân cùng
bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành
khóa luận.
Tôi xin cảm ơn tất cả!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thùy Linh
Hình 4.4. Biểu đồ thể hiện hiệu quả các phác đồ điều trị ............................... 44
iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CP
: Charoen Pokphand
Cs
: Cộng sự
MMA
: Mastitis Metritis Agalactia
( Hội chứng viêm vú, viêm tử cung và mất sữa)
LH
: Lutein Hormone
FSH
: Folliculo Stimulin Hormone
PgF2α
3.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu ..................................................................................29
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ...........................................30
4.1. Công tác phục vụ sản xuất .................................................................................30
4.1.1. Công tác vệ sinh, chăm sóc, phòng bệnh cho đàn lợn. ...................................30
4.1.2. Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh ..................................................34
4.1.3. Công tác khác ..................................................................................................36
vi
4.2. Kết quả khảo sát thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản................37
4.2.1. Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ.............................37
4.2.2. Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo từng giai đoạn. ..............39
4.2.3. Mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung ở lợn mẹ với hội chứng tiêu chảy
ở lợn con ....................................................................................................................40
4.2.4. Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn bình thƣờng
và lợn bị viêm tử cung...............................................................................................42
4.2.5. Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản .........43
4.2.6. Kết quả thử nghiệm quy trình phòng bệnh viêm tử cung ở lợn nái ................45
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ..........................................................................47
5.1. Kết luận ..............................................................................................................47
5.2. Đề nghị ...............................................................................................................47
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nƣớc ta đang phát triển mạnh
năng sinh sản của lợn mẹ mà còn là một trong những nguyên nhân làm cho
chất lƣợng của đàn giống bị ảnh hƣởng. Nếu không điều trị kịp thời, có thể kế
phát viêm vú, mất sữa, nặng thì có thể dẫn tới rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô
sinh, viêm phúc mạc... và chết.
Những vấn đề trên cho thấy việc nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân và
đƣa ra biện pháp phòng, trị bệnh viêm tử cung là rất cần thiết để góp phần
nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại đồng thời bổ sung vào các
tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản của đàn lợn nái ngoại. Do vậy chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung
trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn CP, huyện Mỹ Đức – Hà Nội và phác
đồ điều trị”.
1.2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi
theo mô hình trang trại tại huyện Mỹ Đức – Hà Nội.
- Đƣa ra một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
Trong chăn nuôi lợn sinh sản khi lợn mẹ bị bệnh viêm tử cung thƣờng
kém ăn, nhiệt độ tăng, lƣợng sữa giảm, khả năng sinh sản giảm hoặc mất khả
năng chứa đẻ hoàn toàn. Từ những diễn biến của bệnh có khả năng gây thiệt
hại lớn cho chăn nuôi gia súc sinh sản. Do đó việc phòng và điều trị kịp thời
các bệnh về đƣờng sinh dục trong đó có bệnh viêm tử cung có ý nghĩa rất lớn
trong sản xuất.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cấu tạo cơ quan sinh sản và một số đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
2.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh sản của lợn nái
+ Phần sau thon nhỏ có đƣờng kính dài 0,2 – 0,3 cm nối với sừng tử cung.
- Cấu tạo ống dẫn trứng: ngoài cùng là màng tƣơng mạc đến từ dây
chằng rộng. Lớp giữa là cơ gồm 2 lớp: cơ vòng ở trong, lớp cơ thẳng ở ngoài.
Trong là niêm mạc có nhiều nếp gấp chạy dọc.
- Mạch quản, thần kinh:
+ Động mạch là từ động mạch tử cung buồng trứng.
+ Thần kinh đến từ đám rối treo tràng, đám rối chậu.
* Tử cung (Uterus)
Tử cung là nơi cung cấp dinh dƣỡng và phát triển của thai. Tử cung nằm
trong xoang chậu, dƣới trực tràng, trên bóng đái. Tử cung gồm có 3 phần:
sừng, thân, cổ tử cung. Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo nhƣ ruột non, dài 30 –
50 cm. Dây chằng rộng rất dài, nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài
đƣợc. Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân, sừng tử cung là những gấp nếp nhăn
nheo theo chiều dọc. Thai làm tổ ở sừng tử cung. Cổ tử cung không có gấp nếp
hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lƣợc với nhau.
- Cấu tạo tử cung: ngoài cùng là tƣơng mạc đƣợc nối với dây chằng
rộng. Lớp cơ: cơ trơn rất phát triển, dày, khỏe có cấu tạo phức tạp phù hợp với
chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ. Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở
trong. Cơ vòng phát triển mạnh ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt. Lớp niêm mạc
trong cùng có màu hồng nhạt, có nhiều nếp gấp, trong niêm mạc có nhiều
tuyến tiết ra chất nhờn. Niêm mạc đến cổ tử cung co thắt lại tùy thuộc vào loài
gia súc.
- Mạch quản, thần kinh:
5
+ Động mạch đến từ động mạch tử cung – buồng trứng và động mạch tử cung.
+ Thần kinh đến từ đám rối treo tràng sau và đám rối hạ vị.
* Âm đạo (Vagina)
+ Âm vật (Cltoris) là tổ chức cƣơng cứng, có nhiều dây thần kinh nên
tính cảm giác tập trung ở đây cao, tƣơng tự nhƣ qui đầu dƣơng vật.
Âm vật có 2 rễ bám vào vòng cung ngồi, dài 4 – 6 cm tận cùng phía
trong mép dƣới âm môn. Chỉ khi con vật đi tiểu âm vật mới lồi ra ngoài.
Cấu tạo: cấu tạo âm hộ từ ngoài vào có các lớp sau:
+ Ngoài có lớp da mỏng mịn, có nhiều sắc tố.
+ Cơ gồm có cơ thắt và dây treo âm hộ.
+ Niêm mạc có nhiều tuyến tiết dịch nhờn.
Mạch quản thần kinh:
+ Mạch quản: động mạch âm đạo phân phối cho âm đạo, nó đi theo thân
tử cung về phía trƣớc để tiếp hợp với động mạch tử cung.
+ Thần kinh có hai loại: thần kinh động vật: thần kinh thẹn trong và thần
kinh hậu môn. Chi phối cho mô cƣơng cứng và hậu môn. Thần kinh thực vật
đến từ đám rối hạ vị.
2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
Sinh sản là một đặc trƣng quan trọng vào loại bậc nhất của sinh vật
nhằm duy trì nòi giống, đảm bảo sự tiến hóa của loài gia súc nói chung và lợn
nói riêng, sinh sản mang một chức năng quan trọng có ý nghĩa tái sản xuất ra
sản phẩm phục vụ lợi ích của con ngƣời. Chính vì vậy sinh sản đƣợc con ngƣời
hết sức quan tâm nhằm mục đích là làm sao trong một thời gian ngắn nhất gia
súc đẻ đƣợc nhiều nhất, thế hệ sau có nhiều đặc tính tốt hơn thế hệ trƣớc. Trong
đó năng suất sinh sản đƣợc nâng cao thì sẽ mang lại hiệu quả cho ngƣời chăn nuôi.
* Sự thành thục về tính
Sinh sản là một quá trình sinh lý cơ bản và quan trọng nhất của gia súc
trong việc duy trì nòi giống. Ở gia súc khi có sự kết hợp giữa giao tử đực và
7
giao tử cái để tạo thành hợp tử, cũng có nghĩa là tạo thành một cá thể mới.
Dinh dƣỡng có ảnh hƣởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn
nái. Cùng một giống nhƣng nếu đƣợc nuôi dƣỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia
súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngƣợc lại.
- Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hƣởng tới tuổi thành thục về tính của gia
súc. Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thƣờng thành
thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới.
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hƣởng tới sự thành thục của lợn nái
hậu bị. Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những
con nái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng. Theo
Paul Hughes (1996) [27] nếu cho lợn nái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ngày,
với thời gian 15-20 phút thì 83% lợn nái (ngoài 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi.
Lợn nái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài
hơn lợn nuôi chăn thả. Vì lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cƣờng trao
đổi chất, tổng hợp đƣợc sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực, nên có tuổi
động dục lần đầu sớm hơn.
Tuy nhiên, một vấn đề cần lƣu ý là tuổi thành thục về tính thƣờng sớm hơn
tuổi thành thục về thể vóc. Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trƣởng và phát triển bình
thƣờng của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia
súc phối giống khi đã đạt một khối lƣợng nhất định tuỳ theo giống. Ngƣợc lại,
cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hƣởng tới năng suất
sinh sản của một đời nái đồng thời ảnh hƣởng tới thế hệ sau của chúng.
* Chu kỳ tính
Gia súc cái khi thành thục về tính, cứ sau mỗi khoảng thời gian nhất định,
cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi đặc biệt kèm theo đó là sự rụng trứng
và động dục. Hiện tƣợng này lặp đi lặp lại một cách có chu kỳ gọi là chu kỳ
động dục hay chu kỳ tính.
9
10
khác, ăn ít hoặc bỏ ăn, tìm đực một cách vội vã, âm hộ ƣớt và đỏ, dịch nhầy
tiết nhiều. Càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết ra nhiều
keo đặc lại, mắt đờ đẫn.
- Giai đoạn sau động dục: giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, là giai
đoạn phát triển sớm của thể vàng, bắt đầu sau khi kết thúc động dục và kéo
dài một vài giờ. Thời kỳ này ở buồng trứng đã xuất hiện thể vàng tiết
progesteron để ức chế động dục. Sự tăng sinh và tiết dịch của tử cung ngừng
lại, mô màng nhày tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hoá
sừng thải ra ngoài. Biểu hiện về hành vi sinh dục là không muốn gần con đực,
không cho con khác nhảy. Con vật dần trở lại trạng thái bình thƣờng.
- Giai đoạn yên tĩnh: giai đoạn này kéo dài từ 10 – 12 ngày, là giai
đoạn thể vàng hoạt động, thƣờng khởi đầu vào ngày thứ tƣ sau khi rụng trứng
và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ. Cơ quan sinh dục không có biểu hiện rõ
những hoạt động chức năng. Những biểu hiện về hành vi sinh dục không có.
Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để hồi phục lại cấu tạo, chức năng cũng
nhƣ năng lƣợng cho hoạt động của chu kỳ tiếp theo.
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm đƣợc chu kỳ tính và các giai
đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho ngƣời chăn nuôi có chế độ nuôi
dƣỡng, chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó
góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái.
* Cơ chế động dục
Chu kỳ động dục của lợn nái đƣợc điều khiển bởi 2 yếu tố thần kinh và
thể dịch. Khi các nhân tố ngoại cảnh nhƣ: ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực …
tác động và kích thích vùng dƣới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố
tác động lên tuyến yên, kích thích thuỳ trƣớc tuyến yên tiết FSH (Folliculo
Stimulin Hormone) và LH (Lutein Hormone). FSH kích thích noãn bao phát
triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng.
khi bào thai phát triển đầy đủ, dƣới tác động của hệ thống thần kinh, thể dịch,
12
con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm
trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ.
Khi gần đẻ con cái sẽ có các triệu chứng biểu hiện: trƣớc khi đẻ 1 – 2
tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đƣờng sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra
ngoài. Trƣớc khi đẻ 1 – 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những
thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú
căng to, sữa bắt đầu tiết.
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia
súc đẻ:
+ Trƣớc khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nƣớc trong.
+ Trƣớc khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt đƣợc sữa đầu.
+ Trƣớc khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trƣớc vắt đƣợc sữa đầu.
+ Trƣớc khi đẻ 2 – 3h, hàng vú sau vắt đƣợc sữa đầu.
- Cơ chế đẻ: Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa
của cơ chế thần kinh – thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai
đã thành thục.
+ Về mặt cơ giới: Thai trong tử cung cơ thể mẹ sinh trƣởng và phát
triển một cách tối đa. Ở thời kỳ cuối, thai to tiếp giáp với tử cung, thai chèn
ép xoang bụng, đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chặt mạch máu và đám rối
thần kinh hông – khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ƣơng, điều
tiết hormone gây đẻ. Mặt khác, thai chèn ép, co đạp vào tử cung làm kích
thích tử cung co bóp, sự co bóp tăng theo thời gian, kể cả cƣờng độ và tần số,
dẫn đến tử cung mở và thai thoát ra ngoài.
+ Nội tiết: Trong thời gian mang thai, thể vàng và nhau thai cùng tiết ra
Progesterone, hàm lƣợng Progesterone trong máu tăng tạo nên trạng thái an
Progesteron
Sừng tử cung
Prostaglandin
Cơ chế điều khiển quá trình đẻ
14
2.2. Bệnh viêm tử cung ở lợn nái
2.2.1. Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung
Theo Đặng Thanh Tùng (2006) [19], viêm tử cung ở lợn nái là một
trong những tổn thƣơng cơ quan sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hƣởng
rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc,
suy dinh dƣỡng, chậm phát triển. Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ
thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản của lợn nái.
Cũng theo Đặng Thanh Tùng (2006) [19], bệnh viêm tử cung ở lợn nái
thƣờng do các nguyên nhân sau:
- Thiếu sót về dinh dƣỡng quản lý.
+ Khẩu phần thiếu hay thừa protein trƣớc hoặc trong thời kỳ mang thai
ảnh hƣởng đến viêm tử cung.
+ Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột, gây đẻ khó, phải can thiệp bằng
tay gây tổn thƣơng niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng
viêm tử cung kế phát.
+ Ngƣợc lại thiếu dinh dƣỡng, lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng
giảm không chống lại đƣợc sự xâm nhập của vi trùng cũng gây viêm
tử cung.
2.2.2. Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và
đƣợc đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển. Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung
đều ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng sinh sản. Hậu quả của viêm tử cung làm
cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra đƣợc. Theo
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn đến một
số hậu quả sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai: lớp cơ trơn ở thành tử
cung có đặc tính co thắt. Khi gia súc cái mang thai, sự co thắt của cơ tử cung
giảm đi dƣới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chặt
16
vào tử cung. Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc
tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân hủy thể vàng ở
buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hóa các mao quản ở thể vàng nên gảm lƣu lƣợng máu đi
đến thể vàng. Thể vàng bị phá hủy không tiết Progesterone nữa, hàm lƣợng
Progesterone trong máu giảm làm cho tính trƣơng lực cơ của cơ tử cung tăng
lên, do đó gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai.
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết
lƣu. Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để
giúp phôi thai phát triển. Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lƣợng Progesteron
giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó
bào thai nhận đƣợc ít thậm chí không nhận đƣợc dinh dƣỡng từ mẹ nên phát
triển kém hoặc thai chết lƣu.
- Sau khi sinh lợn con giảm sức đề kháng và khả năng sinh trƣởng của
lợn con theo mẹ: khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đƣờng sinh dục
thƣờng có mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế
* Viêm nội mạc tử cung(Endomestritis)
Theo Black W.G. (1983) [24]; Debois.C.H.W. (1989) [25]; Nguyễn Văn
Thanh (1999) [13], viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung,
đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của gia súc cái,
nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh viêm tử cung.
Viêm nội mạc tử cung thƣờng xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong
trƣờng hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử cung bị tổn thƣơng tạo
điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn Streptococcus, E.coli, Staphylococcus,
Salmonella, C.Pyogenes, Brucella, roi trùng Trichomonas Foetus...xâm nhập và tác
động lên lớp niêm mạc gây viêm (Arthur G. H. 1964) [22], Sttergren I. (1986) [28].
Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000) [11], bệnh viêm nội