Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại chăn nuôi Trần Văn Tuyên, xã Đoàn Kết huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình và biện pháp phòng trị. - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG HỮU NGUYỄN

Tên đề tài:

THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG
Ở ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI TRẦN VĂN TUYÊN
XÃ ĐOÀN KẾT, HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÕA BÌNH
VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Thú y

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2011 - 2016

Thái Nguyên, năm 2015



Khóa học:

2011 - 2016

Giảng viên hƣớng dẫn: TS. Phùng Đức Hoàn

Thái Nguyên, năm 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Suốt bốn năm học tập trên giảng đường đại học, thời gian thực tập là
khoảng thời gian mà mỗi sinh viên đều mong đợi. Đây là khoảng thời gian để
cho chúng ta có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế nhà
trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.
Sau gần 6 tháng thực tập tốt nghiệp, tôi đã hoàn thành bài báo cáo kết
quả thực tập. Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn
nhận được sự giúp đỡ tận tình cuả nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình
và bạn bè. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới: Thầy giáo
TS. Phùng Đức Hoàn đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt
quá trình thực tập tốt nghiệp. Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo
trong khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận
tình dạy dỗ và dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời
gian thực tập tốt nghiệp.
Đồng thời cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lý Yên Bình đã tiếp nhận và tạo mọi
điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.


: Đơn vị tính

LMLM

: Lở mồm long móng

NLTĐ

: Năng lượng trao đổi

Nxb

: Nhà xuất bản

STT

: Số thứ tự

TT

: Thể trọng

TNHH MTV : Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
VTM

: Vitamin


iv

1.2.2.Ý nghĩa thực tiễn ....................................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học ............................................................................................ 3
2.1.1. Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái. .............. 3
2.1.2. Một số bệnh sinh sản thường gặp. ......................................................... 7
2.1.3.Phác đồ điều trị....................................................................................... 13
2.1.4. Thuốc sử dụng trong đề tài.................................................................... 13
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ............................................... 15
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ......................................................... 15
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 17
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................. 19
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 19
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 19
3.3. Nội dung nghiên cứuvà các chỉ tiêu theo dõi ........................................... 19


vi

3.3.1. Nội dung ................................................................................................ 19
3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 19
3.4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 20
3.4.1. Phương pháp theo dõi ............................................................................ 20
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 24
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ........................................................................ 24
4.1.1. Công tác chăn nuôi tại cơ sở .................................................................. 24
4.1.2. Công tác phòng và trị bệnh .................................................................... 29
4.2.1. Kết quả điều tra sự biến động về số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của
trại .................................................................................................................. 37

được đẩy mạnh chăn nuôi lợn ngoại. Bởi vì, chăn nuôi lợn ngoại không những
cho năng suất cao, tăng trọng nhanh mà còn đáp ứng được tốt nhất nhu cầu
của người tiêu dùng.
Nắm được yếu tố đó, tại trại lợn của Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết,
huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất có 1.200
con nái. Tuy nhiên, trong quá trình chăn nuôi luôn gặp phải những khó khăn
ngoài các nguyên nhân như các chính sách, chi phí đầu vào... còn phải đối
mặt với dịch bệnh, đặc biệt là bệnh sản khoa. Một trong những bệnh sản khoa
thường gặp là bệnh viêm tử cung ở lợn nái. Bệnh này tuy không xảy ra ồ ạt
như bệnh truyền nhiễm nhưng gây chết thai, lưu thai, sẩy thai - nghiêm trọng
hơn là bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo,
ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và sự phát triển của ngành chăn nuôi


2

lợn. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo
TS. Phùng Đức Hoàn và để có sự hiểu biết sâu sắc về bệnh viêm tử cung, từ
đó tìm ra biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại chăn
nuôi Trần Văn Tuyên, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và
biện pháp phòng trị”
1.1. Mục tiêu của đề tài
Xác định biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm tử trên đàn lợn nái nuôi tại
trại và đưa ra được phác đồ điều trị có hiệu quả cao.
1.2. Ý nghĩa của đề tài
1.2.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm
những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn, là cơ sở khoa học cho những
biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả.

nang chín, các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế
bào có hình hạt (strarum glannulosum). Noãn bao ngày càng phát triển thì các
tế bào nang tiêu tan tạo thành xoang chứa dịch. Các tầng tế bào còn lại phát
triển lồi lên trên tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dầy lên để
chứa trứng (ovum).
- Ống dẫn trứng: Ông dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng,
được chia thành bốn đoạn: Tua diềm, phễu, phòng ống dẫn trứng và eo.


4

- Tử cung (dạ con): Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và
một cổ tử cung.
Ở lợn, tử cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có
độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn. Độ dài này phù hợp cho việc
mang nhiều thai. Cả hai mặt của tử cung được dính vào khung chậu và thành
bụng bằng dây chằng rộng. Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh,
cuộn hoặc hình ống chúng tiết ra dịch và đổ vào bề mặt nội mạc tử cung.
Cổ tử cung là tổ chức sợi mà mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với sự
có mặt của một ít cơ trơn.
- Âm đạo: Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ. Âm đạo lợn dài 10 - 12 cm.
Ở lợn, biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và
thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở
các ngày 4 và 14.
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tính
dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng. Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống
dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá
trình kích thích trước lúc giao phối.
Dịch âm đạo gồm chủ yếu là chất thấm qua thành âm đạo, hỗn hợp với
các chất tiết của âm hộ từ các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi, lẫn với dịch

(6 - 7 tháng) khi đạt 65 - 80 kg.
Trần Văn Phùng và cs (2004) [10] cho biết: Tuỳ theo giống, điều
kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác
nhau. Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) muộn hơn từ 7 8 tháng tuổi.
Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [19]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái
ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 65 70 kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50 - 55 kg.


6

Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ. Lợn cái hậu bị được sinh
vào mùa thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa xuân (Nguyễn Tấn
Anh, Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1].
Theo Lê Xuân Thọ và cs (1979) [18], đối với lợn nái hậu bị và lợn nái
sau cai sữa chậm động dục, tiêm HTNC có thể gây động dục.
+ Tuổi phối giống lần đầu
Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [3] cho rằng: Không nên phối giống ở
lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa
tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh.
Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2
chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống.
Lợn nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng
đạt 40 – 50 kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg,
nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi.
Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn
mẹ. Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến
sinh sản của lợn (Nguyễn Khánh Quắc và cs, 1995) [12].
+ Tuổi đẻ lứa đầu: Theo Lê Hồng Mận và cs (2004) [7], Lợn Ỉ, Móng
Cái cho đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12 tháng tuổi.
+ Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ

Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa/năm. Tuy
nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất
sinh sản của lợn. Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ
tiêu: Số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ
lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm…
2.1.2. Một số bệnh sinh sản thường gặp.
 Bệnh viêm tử cung


8

Nguyễn Hữu Phước (1982) [11], cho biết lợn xảy ra trên cả đàn lợn nội
và ngoại. Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường, đặc
biệt là công tác vệ sinh thú y.
- Nguyên nhân gây bệnh:
Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [2], bệnh thường xảy ra vào thời gian
1 - 10 ngày sau khi đẻ.
Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [4] cho biết: Nguyên nhân gây ra
bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus),
liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vuglgais,
Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng roi (Trichomonas fortus) và
do nấm Candda albicans.
Kết quả phân lập của Nguyễn Hữu Phước (1982) [11] cho thấy tỷ lệ
gây viêm tử cung ở lợn nái như sau:
E.coli chiếm: 26,7 %
Streptococcus chiếm: 34,5 %
Staphylococcus chiếm: 11,2 %
Prosus vulgaris chiếm: 16 %
Klebsielle chiếm: 10,2 %
Các loại khác chiếm: 2 - 7 %

Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có
vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối.
+ Thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt tăng cao
39,5 - 400C. Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn. Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ xanh
vàng sệt, có khi lẫn máu, mùi tanh thối.


10

Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm. Trạng thái này xuất hiện chậm 7 - 8
ngày sau khi lợn đẻ. Bệnh làm ảnh hưởng đến sản lượng sữa.
- Hậu quả:
Lê Thị Tài và cs (2006) [13] cho rằng: Đây là một bệnh khá phổ biến ở
gia súc cái. Nếu không được chữa trị kịp thời hì sẽ ảnh hưởng đến khả năng
thụ thai và sinh sản.
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức
năng của cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở dạ con cản trở sự di chuyển
của tinh trùng tạo độc tố spermiolysin có hại cho tinh trùng. Các loại độc tố
của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh
trùng, nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết
non (Lê Văn Năm và cs 1999) [8].
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý
trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa
niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua
các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào
thai phát triển không bình thường.
- Chẩn đoán:
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng như: Lợn nái luôn ở tư thế như rặn
đái. Kiểm tra đường sinh duc lợn nái bằng mỏ vịt, thấy cổ tử cung mở, từ tử

như: Tetramycin. Trong thời gian dùng kháng sinh nên tiêm kèm theo thuốc
bổ trợ như: Vitamin B1, B - complex, Vitamin B12, Gluconatcanxi để trợ sức,
kích thích lợn nái ăn khỏe để có sữa cho con bú.
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được tiệt trùng trước và
sau khi sử dụng.


12

Không sử dụng lợn đực bị bệnh ở đường sinh dục để thụ tinh trực tiếp
hoặc khai thác tinh nhân tạo.
Phòng các bệnh truyền nhiễm cho lợn nái thông qua công tác tiêm
phòng vaccine theo định kỳ và thực hiện tốt công tác vệ sinh thú y.
Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [15] cho biết có thể phòng bệnh viêm tử
cung cho đàn lợn nái bằng quy trình phòng bệnh tổng hợp có bổ sung chế
phẩm Biomin - pHD vào thức ăn.
- Điều trị:
Việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: Phục hồi nguyên vẹn
niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của tử cung.
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ
thần kinh - thể dịch. Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục
bộ và điều trị toàn thân (Lê Văn Năm và cs, 1999) [8].
Điều trị cục bộ: Thụt rửa tử cung bằng các loại dung dịch nước muối
0,9 %, KMnO4 0,01 % hoặc rivanol 0,1 %, sau đó thụt 1 trong các loại kháng
sinh sau: Penicillin, Streptomycin, Tetramycin…
Điều trị toàn thân: Có thể dùng một số loại kháng sinh tổng hợp như:
Ampisep, Genorfcoli, Gentamycin, Lincomycin, Hanoxylin 10 %, Ampicillin… kết
hợp với thuốc trợ lực: Vitamin C, B - complex.



Vetrimoxin.L.A + Oxytocin+

MD Peni Strep + Oxytocin +

3

Vitamin B1

Vitamin B1 + ADE Bcomplex

Điều trị:
Cục bộ: Tiêm oxytoxin 4 ml/con để đẩy hết dịch viêm ra ngoài, bơm rửa
tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 1 - 1,5 ml nước sôi để nguội + 10 - 15 ml vime Iodine.
Điều trị toàn thân: Tiêm Vetrimoxin.L.A: 1 ml/10 kg TT
Vitamin B1: 1 ml/10 kgTT
Hoặc dùng phác đồ sau:
MD Peni Strep: 1 ml/10 kg TT
Vitamin B1: 1 ml/10 kgTT
ADE-Bcomplex: 1 ml/10 kg TT
2.1.4. Thuốc sử dụng trong đề tài.
 Một số hiểu biết về thuốc sử dụng trong đề tài
Để giảm bớt thiệt hại do bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái gây ra
cho người chăn nuôi, nhiều tác giả đã nghiên cứu sử dụng các loại kháng sinh


14

khác nhau. Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng hai loại thuốc Vetrimoxin.L.A
và MD Peni Strep để điều trị hai bệnh viêm tử cung.
* Vetrimoxin.L.A

hiện trong máu và giữ nồng độ cao trong máu từ 2 - 3 giờ. Khoảng 20 %
lượng thuốc được kết hợp với protein huyết tương. Khoảng 50 % - 90 %
thuốc được bài thải ra ngoài dưới dạng con nguyên hoạt lực.
Streptomycin là kháng sinh thuộc nhóm Aminoglycosid. Thuốc có tác
dụng chủ yếu trên các loại vi khuẩn Gram (-). Thường hay sử dụng thuốc
dưới dạng Streptomycin Sulphate. Thuốc sau khi hấp thu được phân bố hầu
như khắp các dịch tố chức. 1/3 thuốc được kết hợp với protein huyết thanh.
Khi tiêm có khoảng 50 - 60 % lượng thuốc được thải ra ngoài qua nước tiểu
dưới dạng nguyên vẹn sau 24 giờ. Streptomycin có tác dụng tốt trong điều trị
các bệnh viêm nhiễm do vi khuẩn gây ra.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Barbara E. Straw và cs (2006) [20] đã nghiên cứu về vi sinh vâ ̣t trong dich
̣
viêm tử cung gồ m : Escherichia coli, Streptococcus sp, Staphylococcus sp,
Arcanobacterium pyogenes, Proteus, Klebsiella và một số vi khuẩn khác
.
Popkov (Liên Xô cũ) đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào
màng treo cổ tử cung của lợn nái, chữa viêm tử cung đạt kết quả cao.
Streptomycin: 0,25 g
Penicillin: 500.000 UI
Dung dịch MgSO4 1% 40 ml + VTM C
Khi lợn bị viêm âm đạo, âm hộ, N.Mikhailov đã dùng rửa không sâu
(qua ống thông) trong âm đạo bằng dung dịch nước Etacridin 1/1.000.
Diensiviridep dùng Rivanol 1 % để thụt rửa đạt kết quả cao và không
ảnh hưởng đến gia súc.


16


17

Theo Madec (1995), viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt vài giờ khi
đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài
48 đến 72 giờ.
Trong bệnh viêm tử cung thì viêm nội mạc tử cung chiếm tỷ lệ cao.
Kaminski kiểm tra 1.000 lợn nái ở Liên Bang Đức cho kết quả là 16 % bị
viêm nội mạc tử cung.
Theo Madec F (1995) , qua kiểm tra vi thể xứ Brơ-ta-nhơ của miền Tây
Bắc nước Pháp, thấy 26 % số lợn nái có bệnh viêm tử cung. Ngoài ra 2 % số lợn
nái có bệnh tích thoái hóa mô nội mạc tử cung với đặc điểm thành tử cung có
cấu tạo sợi fibrine.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình (1996) [2], cho biết: ở những nái bị
viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ,
chiều sốt nặng).
Lê Văn Năm (1999) [8], cho rằng: khi lợn nái đẻ khó cần áp dụng kỹ
thuật ngoại khoa, khi thực hiện không đúng kỹ thuật sẽ gây niêm mạc đường
sinh dục, có thể bị tổn thương gây viêm tử cung.
Nguyễn Văn Thanh (2007) [14], bệnh viêm tử cung ở gia súc là một
quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác nhau. Đây là
nguyên nhân gây rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản
của gia súc cái.
Viêm tử cung là một trong những tổn thương đường sinh dục trên lợn
nái sau khi sinh. Sau khi sinh có dịch tiết và dịch lẫn mủ là biểu hiện của viêm
tử cung (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [14].
Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [2], bệnh viêm tử cung xảy ra ở những
thời gian khác nhau. Nhưng thường xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ
từ 1 - 10 ngày.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status