ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỒNG TÚ QUYÊN
Tên đề tài:
"TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN
NÁI NGOẠI NUÔI TẠI TRẠI LỢN BÌNH MINH, HUYỆN MỸ
ĐỨC, HÀ NỘI VÀ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ"
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Thú y
Khoa
: Chăn nuôi Thú y
Khóa học
: 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
i
Thái Nguyên, năm 2015
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành khóa luận của mình,
em đã nhận đƣợc sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hƣớng dẫn, sự giúp đỡ của
trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Chăn nuôi thú y và trang trại
chăn nuôi lợn gia công của công ty Cổ Phần Charoen Pokphand Việt Nam.
Em cũng nhận đƣợc sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp
đỡ, cổ vũ động viên của ngƣời thân trong gia đình.
Nhân dịp này em xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS.
PHAN THỊ HỒNG PHÚC đã rất tận tình và trực tiếp hƣớng dẫn em thực
hiện thành công khóa luận này.
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu Trƣờng Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện
thuận lợi và cho phép em thực hiện khóa luận này.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Công ty Cổ phần Chăn nuôi
Charoen Pokphand Việt Nam, chủ trang trại cùng toàn thể anh chị em công
nhân trong trang trại của gia đình ông Nguyễn Sỹ Bình về sự hợp tác giúp đỡ
bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa
luận này.
Em xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, ngƣời thân cùng
bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên em trong suốt thời gian hoàn thành
khóa luận.
Em xin cảm ơn tất cả!
Thái Nguyên, ngày 24 tháng 12 năm 2015
Sinh viên
3.3. Nội dung nghiên cứu..........................................................................................27
3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi....................................................27
iv
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi........................................................................................27
3.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................27
3.4.3. Phƣơng pháp điều trị .......................................................................................29
3.4.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu...............................................................................30
3.4.5. Phƣơng pháp bố trí thí ngiệm..........................................................................31
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN..................................................................32
4.1. Kết quả công tác phục vụ sản suất .....................................................................32
4.1.1. Công tác phòng bệnh ......................................................................................32
4.1.2. Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh ..................................................37
4.1.3. Công tác khác ..................................................................................................39
4.2. Kết quả nghiên cứu ............................................................................................41
4.2.1. Quy mô đàn lợn nái 3 năm trở lại đây của cơ sở ...........................................41
4.2.3. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ...............................43
4.2.4. Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung theo tháng trong năm ...................................45
4.2.5. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm bệnh viêm tử cung theo giống lợn .........................46
4.2.6. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo phác đồ điều trị ...............................48
4.2.7. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi
khỏi bệnh ...................................................................................................................50
4.2.8. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị..................................51
Phần 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................53
5.1. Kết luận ..............................................................................................................53
5.2. Tồn tại ................................................................................................................53
5.3. Đề nghị ...............................................................................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 55
vii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs
: Cộng sự
Nxb : Nhà xuất bản
P
: Thể trọng
STT : Số thứ tự
TT
: Thể trọng
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống, thịt lợn chiếm 70% tổng các loại
thịt. Chăn nuôi lợn đã mang lại lợi ích đáng kể cho ngƣời chăn nuôi, tuy
nhiên dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp và việc điều trị cũng khó
khăn hơn trong đó có bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản sau khi sinh.
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái gây tổn thƣơng đƣờng sinh dục sau khi
sinh, ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Cấu tạo giải phẫu, sinh lý cơ quan sinh dục cái
Quá trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng và
cơ bản, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống. Cấu tạo
gồm bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong.
Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ
thấy và quan sát đƣợc. Bao gồm: âm môn, âm vật và tiền đình. Bộ phận sinh
dục bên trong không nhìn thấy đƣợc nhƣng bằng phƣơng pháp gián tiếp ngƣời
ta có thể quan sát, hoặc sờ thấy bao gồm: âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng,
buồng trứng. Mỗi bộ phận này đều đảm nhiệm một chức năng khác nhau và
giữ một vai trò quan trọng khác nhau.
* Âm môn (vulva):
Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dƣới hậu môn. Bên ngoài có hai
môi, bờ trên của hai môi có sắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và
tuyến tiết mồ hôi.
* Âm vật (clitoris):
Âm vật của con cái đƣợc cấu tạo giống nhƣ dƣơng vật của con đực
đƣợc thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng. Trên âm vật có các nếp da tạo ra
mũ âm, ở giữa âm vật gấp xuống dƣới là chỗ tập trung các đầu mút các dây
thần kinh.
* Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism):
Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có màng
trinh, phía trƣớc là âm đạo. Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm
mạc gấp lại tạo thành một nếp. Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo,
hƣớng quay về âm vật.
mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấy trứng. Trứng đƣợc vận
5
chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra quá trình thụ tinh
và phân chia của phôi. Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng
từ 3 - 10 ngày. Trên đƣờng di hành, tế bào trứng có thể ở lại các đoạn khác
nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng.
Có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn chức năng: đoạn tua điểm,
đoạn phễu, phồng của ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng.
* Buồng trứng:
Buồng trứng lợn dài 1,5 - 2,5cm, khối lƣợng khoảng 3 - 5g (Đặng
Quang Nam và cs, (2002) [13]).
Cấu tạo: phía ngoài đƣợc bao bọc bởi một lớp màng bằng tổ chức liên
kết sợi, bên trong buồng trứng chia làm hai miền. Miền vỏ và miền tủy đều
đƣợc cấu tạo bằng tổ chức liên kết sợi xốp và tạo cho buồng trứng một lớp
đệm (Stromaovaris). Ở miền tủy có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá
trình trứng chín và rụng trứng. Trên buồng trứng của một lợn cái 10 ngày tuổi
đã có khoảng 60.000 trứng non. Theo thời gian, buồng trứng này phát triển
qua các giai đoạn khác nhau. Tầng ngoài là những noãn bào sơ cấp phân bố
tƣơng đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trƣởng, khi
noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng.
Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là noãn bào, noãn bào lúc
đầu có hình dẹt sau có hình trụ. Noãn bào thứ cấp do noãn bào tăng sinh và
hình thành xoang noãn bào ép trứng về một phía, khi noãn bào chín là quá
trình sinh trƣởng đã hình thành. Noãn bào nổi lên trên bề mặt buồng trứng,
đến một giai đoạn nhất định sẽ vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn bào vào loa
kèn rồi đi vào ống trứng, nơi noãn bào vỡ sẽ hình thành thể vàng.
Theo Nguyễn Hữu Nam (2005) [14], thể vàng tiết ra progesteron, khối
buồng trứng. Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng
7
trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục. Do
trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ.
Sở dĩ trứng rụng có tính chu kì: dƣới sự điều khiển của thần kinh trung
ƣơng, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát
triển, trong khi đó LH làm trứng chín, khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi
đó rụng trứng, hình thành thể vàng. Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu
gia súc đƣợc thụ thai, nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không đƣợc thụ
tinh, sau đó nó teo đi dƣới tác dụng của PGF2α làm co mạch máu ngoại vi
nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không đƣợc cung cấp chất
dinh dƣỡng và bị tiêu hủy trong vòng 24h giờ, kết quả làm hàm lƣợng
progesteron giảm, lúc này FSH và LH đƣợc giải phóng làm trứng phát triển
và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo.
Một chu kỳ động dục đƣợc tính từ lần thải trứng trƣớc đến lần thải trứng sau.
Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác nhau. Ở lợn thời
gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động trong phạm vi từ 18 25 ngày. Khi tiến hành phối giống lợn có chửa thì lợn không động dục lại. Thời
gian có chửa của lợn là 114 ngày, thời gian động dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa,
dao động từ 5 - 12 ngày (Paul Hughes (1996) [27]).
* Khoảng cách giữa các lứa đẻ:
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng
sinh sản của gia súc cái. Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên
bao gồm thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai
lứa sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hƣởng đến số con cai sữa/nái/năm.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao
động không đáng kể, từ 113 - 115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi.
Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời
ƣu chƣơng đều có thể gây sốt.
9
* Tần số hô hấp:
Tần số hô hấp là số lần thở trên phút, nó phụ thuộc vào cƣờng độ
trao đổi chất, tuổi, tầm vóc. Gia súc non có cƣờng độ trao đổi chất mạnh
nên tần số hô hấp tăng hơn. Động vật nhỏ cũng có tần số hô hấp cao hơn so
với động vật có thể vóc lớn. Ngoài ra trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ
môi trƣờng cũng ảnh hƣởng đến nhịp thở. Tần số hô hấp bình thƣờng dao
động trong khoảng 8 - 18 lần/phút.
2.1.4. Quá trình viêm tử cung
Viêm là phản ứng toàn thân chống lại các tác nhân gây bệnh, thƣờng
biểu hiện ở cục bộ, quá trình viêm xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi
giai đoạn có những biểu hiện khác nhau. Tại ổ viêm thƣờng xảy ra các biểu
hiện sƣng, nóng, đỏ, đau. Xét trên mặt tích cực, viêm là phản ứng nhằm ổn
định các hằng số nội môi trong cơ thể, giúp cơ thể chống lại các tác nhân
gây bệnh.
Theo Hồ Văn Nam và cs, (1997) [12], sau khi quan sát hiện tƣợng di
động và nuốt các dị vật của bạch cầu đa nhân trung tính cho rằng, trung
tâm của phản ứng viêm là sự hoạt động của những tế bào thoát mạch và
chống lại các vật kích thích viêm mà ông gọi là hiện tƣợng thực bào
(phagocytosis).
Viêm gây tổn thƣơng các mạch quản, tổ chức liên kết và hệ thần kinh
đối với tính phản ứng của cơ thể.
Theo Vũ Triệu An và cs, (1990) [1], thì viêm là một phản ứng của cơ
thể mà nền tảng của nó là phản ứng của tế bào. Phản ứng này hình thành và
phát triển trong quá trình tiến hóa của sinh vật.
Theo Nguyễn Hữu Nam (2005) [14], viêm là phản ứng toàn thân
bao gồm bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm,
bạch cầu đơn nhân lớn.
11
2.1.5. Các bệnh thường gặp về viêm tử cung
2.1.5.1. Viêm cổ tử cung (Cervitis)
Theo Phùng Thị Vân (2004) [19], cổ tử cung lợn có những u thịt xen kẽ
khép lại với nhau theo lối cài răng lƣợc.
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4], cho biết, cổ tử cung lợn dài 10
- 18cm, tròn không có nếp gấp nên dễ thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò.
Cổ tử cung luôn đóng chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ.
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4], bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc
thƣờng là hậu quả của những sai sót về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác
đỡ đẻ nhất là các trƣờng hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ
không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị xây sát. Ngoài ra, viêm cổ tử cung
còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung
Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục
niêm dịch không thoát ra ngoài đƣợc. Khi ta dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua âm
đạo thấy cổ tử cung mở đƣờng kính từ 1 - 2cm thấy niêm mạc xung huyết hoặc
phù rõ, cá biệt có vết loét dính mủ (Nguyễn Văn Thanh (2003) [17]).
2.1.5.2. Viêm tử cung
Theo Bane.A. (1986) [23]; Nguyễn Văn Thanh (2003) [17]; Yao - Ac
(1989) [29] tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ
đƣợc đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển. Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung
đều ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng sinh sản.
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4], viêm tử cung chia làm 3 thể:
viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tƣơng mạc tử cung.
*Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình
thành từng đám vẩy, màu trắng xám. Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch
viêm thải ra nhiều. Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung. Niêm
mạc âm đạo bình thƣờng.
Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện đƣợc một hay cả hai sừng tử
cung sƣng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau. Thành tử cung dày và
13
mềm hơn bình thƣờng. Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng
co nhỏ lại của chúng yếu ớt. Trƣờng hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm,
nhiều mủ thì có thể phát hiện đƣợc trạng thái chuyển động sóng.
- Viêm nội mạc tử cung màng giả:
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thƣờng bị hoại tử. Những vết
thƣơng đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử.
Trƣờng hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân
nhiệt lên cao, ăn uống và lƣợng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa. Con
vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lƣng và đuôi cong lên. Từ cơ
quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn còn
những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch (Phạm Sỹ Lăng và cs, (2003) [9]).
* Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)
Theo Sttergren I. (2006) [28], viêm cơ tử cung thƣờng kế phát từ viêm
nội mạc tử cung thể màng giả. Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm suất, vi
khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối
rữa gây tổn thƣơng mạch quản và lâm ba quản. Từ đó làm cho các lớp cơ và
một ít lớp tƣơng mạc tử cung bị hoại tử. Trƣờng hợp này có thể dẫn đến hiện
tƣợng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ, có khi
vì lớp cơ và lớp tƣơng mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị
thủng hay hoại tử từng đám (Nguyễn Văn Thanh, (2002) [16]).
xung quanh thì có thể phát hiện đƣợc trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng
của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2011) [10], thể viêm này thƣờng dẫn đến kế
phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ.
2.1.6. Một số nguyên nhân gây viêm tử cung
Theo Nguyễn Hữu Phƣớc (1982) [14], lợn nái sinh sản đều mang khuẩn
trong âm đạo nhƣng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết dịch tụ
lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển.
15
Theo Nguyễn Đức Lƣu và cs, (2004) [11], trong quá trình có thai, lợn
nái ăn uống nhiều chất dinh dƣỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh
truyền nhiễm nhƣ: bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số bệnh
nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết lƣu
và viêm tử cung. Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
* Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý:
Khẩu phần ăn thừa hay thiếu Protein trƣớc, trong thời kỳ mang thai có
ảnh hƣởng đến viêm tử cung.
Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm tử cung do
xây sát.
Ngƣợc lại thiếu chất dinh dƣỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng
giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung.
Khoáng chất, vitamin ảnh hƣởng đến viêm tử cung. Thiếu Vitamin A
gây sƣng niêm mạc, sót nhau.
* Chăm sóc quản lý vệ sinh:
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trƣớc khi đẻ
không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh. Do quá trình can thiệp khi lợn
đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thƣơng
tiền đình và âm đạo ở lợn là những sai sót kỹ thuật khi đỡ đẻ. Khi gia súc đẻ
khó, phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không phù hợp, không đảm bảo vô
trùng, gây tổn thƣơng niêm mạc âm môn, tiền đình, âm đạo hoặc sử dụng các
thuốc điều trị bệnh ở tử cung, âm đạo kích thích quá mạnh làm niêm mạc âm
đạo, âm môn, tiền đình bị viêm.
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4], trong quá trình sinh đẻ, niêm
mạc âm môn, tiền đình và âm đạo bị xây sát, tổn thƣơng do bào thai hay do
can thiệp các trƣờng hợp đẻ khó. Do trong quá trình đỡ đẻ thao tác kỹ thuật
không đúng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng gây tổn thƣơng các bộ phận sinh
dục bên ngoài. Ngoài ra, bệnh có thể kế phát từ hiện tƣợng sảy thai, thai thối
rữa trong tử cung hoặc từ bệnh sát nhau.
17
Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm
xuất. Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có
triệu chứng toàn thân. Con vật rặn vặt, đi đái rắt. Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức
hoại tử màu trắng chảy ra ngoài.
Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo mãn tính, niêm mạc trở nên khô
cứng, màu sắc nhợt nhạt, trên bề mặt niêm mạc có chỗ trắng, đỏ không đều.
Khi kiểm tra âm đạo, con vật đau đớn. Những con viêm mãn tính thì ủ rũ, uể
oải, kém ăn, lƣợng sữa giảm. Gia súc luôn rặn, khi rặn từ cơ quan sinh dục
thải ra ngoài hỗn dịch rỉ viêm gồm mủ lẫn mảnh tổ chức hoại tử màu vàng
nâu, mùi tanh, dính vào gốc đuôi, hai bên mông.
Viêm màng giả trên niêm mạc đƣợc phủ một màng mỏng, tổ chức hoại
tử màu trắng, nâu hoặc vàng xám. Phía dƣới lớp màng có những vết loét nằm
rải rác hay tập trung lại thành từng đám lớn trên niêm mạc. Con vật đau đớn
rõ rệt, khi kiểm tra âm đạo, con vật luôn cong đuôi rặn, dịch rỉ viêm, máu, mủ
lẫn tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh thối chảy ra. Viêm màng giả rất