ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
NGUYỄN THỊ THƢƠNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG
TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN NGÔ HỒNG GẤMHUYỆN LƢƠNG SƠN-HÒA BÌNH VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2015
Thái Nguyên - 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
NGUYỄN THỊ THƢƠNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG
TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN NGÔ HỒNG GẤMHUYỆN LƢƠNG SƠN-HÒA BÌNH VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Tác giả
Nguyễn Thị Thƣơng
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1:
Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung .......................... 29
Bảng 4.1.
Lịch phòng bệnh ở trại lợn nái ................................................... 35
Bảng 4.2.
Kết quả công tác phục vụ sản xuất ............................................ 39
Bảng 4.3.
Tổng đàn lợn nái của trại trong ba năm ...................................... 39
Bảng 4.4.
Tỷ lệ viêm tử cung theo từng lứa đẻ........................................... 40
Bảng 4.5.
Hình 4.4. Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng trong năm .. 45
Hình 4.5. Kết quả điều trị viêm tử cung........................................................ 48
Hình 4.6. Biểu đồ mối tương quan giữa bệnh viêm tử cung ở lợn mẹ và hội
chứng tiêu chảy ở lợn con ............................................................. 50
Hình 4.7. Kết quả điều trị lợn con tiêu chảy trên lợn mẹ bị viêm tử cung và
lợn mẹ bình thường ....................................................................... 51
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- DNA:
Deoxyribonucleic acid
- E. coli: Escherichia coli
- Gr (-): Gram âm
- Gr (+): Gram dương
- GSH:
Gonado Stimulin Hormone
- FSH :
Folliculo Stimulin Hormone
- LH:
Luteinizing Hormone
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 3
2.2.1 Cấu tạo cơ quan sinh sản của lợn nái ....................................................... 3
2.2.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn .......................................................... 5
2.2.3. Bệnh viêm tử cung ở lợn nái .................................................................. 9
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 25
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 25
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 26
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..... 28
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 28
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 28
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 28
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................... 28
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 28
3.4.2. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi .................................................. 29
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 30
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................ 31
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 31
4.1.1. Nội dung phục vụ sản xuất .................................................................... 31
vi
4.1.2. Kết quả phục vụ sản xuất ...................................................................... 31
4.1.3. Kết quả công tác điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm ............................. 36
4.1.4. Điều tra tổng đàn lợn nái của trại. ......................................................... 39
4.1.5. Các hoạt động khác tại cơ sở................................................................. 40
4.2. Kết quả nghiên cứu .................................................................................. 40
4.2.1. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo từng lứa đẻ......................... 40
4.2.2. Tỷ lệ mắc viêm tử cung theo từng giai đoạn......................................... 42
4.2.3. Tỷ lệ mắc theo các tháng trong năm ..................................................... 44
cấp lãnh đạo, các nhà khoa học cũng như người chăn nuôi.
Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân gây cản trở đối với phong trào
phát triển chăn nuôi lợn nái sinh sản theo hình thức trang trại là các bệnh sản khoa
xuất hiện phổ biến, làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chăn nuôi gây thiệt hại
lớn về kinh tế trong đó phải đề cập tới bệnh viêm tử cung.
Bệnh viêm tử cung không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng
sinh sản của lợn mẹ mà còn gây mất sữa, gây tiêu chảy ở đàn lợn con theo mẹ
và là một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ sống sót sau cai sữa giảm
thấp. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn
tới các bệnh kế phát như: viêm vú, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh.
Những vấn đề trên chỉ ra rằng, việc nghiên cứu bệnh viêm tử cung ở đàn lợn
nái sinh sản để từ đó đề ra các biện pháp phòng trị bệnh một cách hiệu quả là
việc làm cần thiết.
Với mục đích nâng cao năng suất sinh sản, đồng thời bổ sung vào các tài
liệu nghiên cứu về bệnh sinh sản ở lợn nái, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại
trại lợn Ngô Hồng Gấm-huyện Lương Sơn-Hòa Bình và biện pháp phòng trị”.
2
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Chẩn đoán bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái.
- Xác định được tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái.
- Đề ra được biện pháp phòng trị bệnh thích hợp.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái tại trại
lợn Ngô Hồng Gấm-huyện Lương Sơn-Hòa Bình.
- Tiến hành điều trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn mắc bệnh và xác
định hiệu quả điều trị.
hormone: Estrogen, Progesterone, Oxytocine, Relaxin và Inhibin. Ở lợn,
Relaxin do thể vàng tiết ra để gây giãn nở xương chậu, làm giãn và mềm cơ tử
cung, do đó mở rộng đường sinh dục khi gần sinh. Inhibin có tác dụng ức chế
sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triến nang
noãn theo chu kỳ (Trần Thị Dân, 2004) [4].
Ở bề mặt ngoài của buồng trứng có một lớp liên kết được bao bọc bởi
lớp biểu mô hình lập phương. Bên dưới lớp này là lớp vỏ chứa các noãn nang,
thể vàng, thể trắng (thể vàng thoái hóa). Trên buồng trứng có từ 70.000100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn
bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang
sinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng (Khuất Văn
Dũng, 2005) [2]. Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: noãn nang nguyên thủy,
noãn nang bậc một, noãn nang bậc hai, noãn nang bậc ba. Những chất quan trọng
được sản xuất bởi tế bào hạt là Estrogen, Inhibin và dịch nang (Nguyễn Xuân Tịnh
và cs, 2002) [37].
4
Khi nang Graaf xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất
huyết tại chỗ. Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết
xuất huyết được gọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều
lần. Sau đó tế bào bao trong và tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng để
tạo nên thể vàng (Nguyễn Như Pho, 2014) [21].
2.2.1.2. Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo. Vai trò
cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh
trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng
noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng.
2.2.1.3. Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và
Âm vật có cấu tạo như dương vật nhưng thu nhỏ lại và là tạng cương
của đường sinh dục cái, được dính vào phần trên khớp bán động ngồi, bị bao
xung quanh bởi cơ ngồi hổng.
2.2.1.7. Âm hộ (Vulva)
Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn và ngăn cách với nó bởi
vùng hồi âm. Bên ngoài có 2 môi đính với nhau ở mép trên và mép dưới. Môi âm
hộ có sắc tố đen, tuyến mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn trong và hơi dính.
2.2.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng
đặc trưng cho loài chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: ngoại cảnh, điều
kiện nuôi dưỡng chăm sóc, sử dụng... Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục
của lợn nái người ta thường tập trung nghiên cứu các chỉ tiêu sau đây:
2.2.2.1. Sự thành thục về tính
Theo Xuxoep A. A. và cs (1985) [40] sự thành thục về tính được đánh
dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Lúc này
tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo, đã phát triển
hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản. Đồng thời với sự
phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng
xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục.
6
Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính
biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng.
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [5], tuổi thành thục về tính của
lợn cái ngoại và lợn cái lai muộn hơn lợn cái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái,
Mường Khương,...). Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục vào
4-5 tháng tuổi (121-158 ngày tuổi). Lợn ngoại là 6-8 tháng tuổi, lợn lai F1
(ngoại x nội) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi. Sự kích thích của
có đường kính 10-12mm (VietDVM team, 2005) [47]. Hệ thống tuyến, âm
đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm cổ tử cung hé mở.
* Giai đoạn động dục
Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2-3 ngày, tính từ khi tế
bào trứng tách khỏi noãn bao. Giai đoạn này các biến đổi của cơ quan sinh
dục rõ nét nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang
màu mận chín, niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âm
đạo tăng từ 0,3-0,70C, pH hạ hơn trước. Con vật biểu hiện tính hưng phấn cao
độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng, ăn uống giảm, hoặc bỏ ăn, kêu rống
trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác
nhảy lên lưng mình (Phùng Thị Vân, 2004) [38].
* Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng hai ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ
quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường.
* Giai đoạn nghỉ ngơi
Giai đoạn này kéo dài từ 10-12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi
rụng trứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ.
* Cơ chế động dục
Chu kỳ động dục của lợn cái được điều khiển bởi 2 yếu tố thần kinh và
thể dịch. Khi các nhân tố ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực...
tác động và kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố
tác động lên tuyến yên, kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH và LH. FSH
kích thích noãn bao phát triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành
thục, chín và rụng trứng. Khi hàm lượng hormone Oestrogen trong máu đạt
64-112% sẽ kích thích con vật có những biểu hiện động dục.
9
mỗi lần co bóp từ 1,2-2 phút, thời gian giữa hai lần co bóp là 2 phút, nhưng
cường độ lúc này yếu hơn. Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3], lợn sau khi
thai ra hết toàn bộ, khoảng 10-50 phút nhau thai mới ra. Nhau thai của lợn ra
chia thành hai đống, mỗi đống gồm nhau thai của tất cả các thai chứa trong
một sừng tử cung.
2.2.3. Bệnh viêm tử cung ở lợn nái (mestritis)
2.1.3.1 . Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3], viêm tử cung là một quá trình
bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm phá huỷ
các tế bào tố chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia
súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (2000) [8], bệnh viêm tử cung ở lợn nái
thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng
phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn
tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử
cung lợn nái gây viêm.
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật
hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm
đạo truyền sang cho lợn khoẻ.
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm
mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung.
sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều
ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát
triển của lợn con.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3] và Trần Thị Dân (2004) [4] khi
lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai.
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử
cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở
11
buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi
đến thể vàng. Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm
lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực của cơ tử cung
tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sẩy thai.
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai
chết lưu.
- Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung
để giúp phôi thai phát triển. Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung
giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu.
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong
giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy.
Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây ra các rối
loạn chủ yếu sau:
+ Rối loạn chuyển hóa.
Tại ổ viêm quá trình oxy hóa tăng mạnh, nhu cầu oxy tăng nhưng vì có
rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp oxy không đủ, gây rối loạn chuyển
hóa gluxit, lipit và protein làm thay đổi pH, gây tăng độ axit, xeton, lipit,
polypeptit, và các axit amin tại ổ viêm.
+ Tổn thương ở mô bào.
Các tế bào bị thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm
trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại ổ viêm, chúng
tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh học cao và hạ thấp pH tại ổ viêm.
+ Dịch rỉ viêm.
Dịch rỉ viêm được hình thành do tăng áp lực thủy tĩnh trong các mạch
quản tại ổ viêm, tăng áp lực thẩm thấu, tăng tính thấm thành mạch là các yếu
tố quan trọng nhất và các protein bị thoát ra ngoài làm tăng lượng nước ngoại
vi gây phù thũng.
+ Tăng sinh ở mô bào.
Là hiện tượng tăng lên về số lượng, các tế bào này có thể từ máu tới hoặc
các tế bào tại chỗ sinh sản và phát triển ra. Trong quá trình viêm giai đoạn đầu chủ
13
yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính. Sự tăng sinh và phát triển của các loại
tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng phản ứng
của cơ thể (Nguyễn Đình Nhung và cs, 2014) [18].
+ Các tế bào viêm.
Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm,
bao gồm bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm,
bạch cầu đơn nhân lớn.
Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella, C.pyogenes, Bruccella, roi
trùng Trichomonas Foetus... xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây
viêm (Arthur G. H. ,1964) [41].
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [19], bệnh viêm
nội mạc tử cung có thể chia 2 loại:
- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở
niêm mạc tử cung.
- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử,
tổn thương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm
hoại tử.
- Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [19], viêm cơ tử
cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả. Niêm mạc tử
cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức
làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba
quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử. Nếu
bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm
trùng hoặc huyết nhiễm mủ. Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung
bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to.
Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân
nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn.
Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm. Gia súc
biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục. Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra
ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên
có mùi tanh, thối. Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc.
Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần
sau. Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh.
khuẩn: Staphylococcus, Streptococcus, E. coli, Salmonella,...
Staphylococcus
Là loại cầu khuẩn Gram (+), đường kính từ 0,7-1,0µm, không sinh nha
bào và thường không có vỏ, không có lông, không di động. Trong bệnh
16
phẩm, tụ cầu thường xếp thành từng đôi, chụm lại từng đám nhỏ hình
chùm nho. Môi trường lỏng các vi khuẩn đứng riêng lẻ thành từng đám
nhỏ hoặc từng chuỗi ngắn (Nguyễn Như Thanh và cs, 1997 ) [24].
Staphylococcus là loại hiếu khí tuỳ tiện, nhiệt độ thích hợp 32-370C, pH
thích hợp từ 7,2-7,6.
- Trong môi trường nước thịt: Sau khi nuôi cấy 5-6 giờ vi khuẩn đã
làm đục môi trường, sau 24giờ môi trường đục rõ hơn, lắng cặn nhiều,
không có màng.
- Trong môi trường thạch thường: sau khi cấy 24 giờ, vi khuẩn hình
thành khuẩn lạc tương đối to dạng S (Smouth) mặt khuẩn lạc hơi ướt, bờ đều
nhẵn, mặt lồi đường kính từ 2-4mm. Tuỳ vào màu sắc khuẩn lạc mà người ta
chia ra các loại sau:
+ Tụ cầu có khuẩn lạc màu vàng thẫm (Staphylococcus aureus) có khả
năng gây bệnh cho động vật. Màu vàng thẫm là do sự biến màu của chất
Caroten. Màu vàng thẫm thấy rõ nhất trong môi trường có chứa tinh bột hoặc
acid béo bay hơi Nguyễn Như Thanh và cs, (1997 ) [24].
+ Tụ cầu trắng (Staphylococcus albus) và tụ cầu vàng chanh
(Staphylococcus citreus) không có độc lực và không có khả năng gây bệnh.
- Trong môi trường thạch máu: Staphyloccus aureus gây dung huyết
- Trong môi trường thạch thường: khuẩn lạc dạng S, tròn, lồi, bóng,
hơi xám. Khi làm tiêu bản liên cầu xếp thành chuỗi ngắn.
- Trong môi trường thạch máu: khuẩn lạc có đường kính khoảng 1mm,
gây dung huyết bởi các yếu tố:
+ Dung huyết dạng ( a ) : độc lực không cao.
+ Dung huyết dạng (γ): độc lực cao.
+ Dung huyết dạng (p): không có khả năng gây bệnh.
Vi khuẩn Streptococcus đề kháng thấp với nhiệt độ và hoá chất: ở 700C
vi khuẩn bị diệt trong 30-40 phút, ở 1000C bị diệt trong 1 phút, các chất sát
trùng cũng dễ tiêu diệt vi khuẩn.
Salmonella
Vi khuẩn không có nha bào và giáp mô, bắt màu Gram (-). Đa số các
loài Salmonella đều có kh năng di động mạnh. Khi nhuộm vi khuẩn bắt màu
toàn thân hoặc hơi đậm ở hai đầu Nguyễn Như Thanh và cs, (1997 ) [24].
Là vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tuỳ tiện, nhiệt độ thích hợp 370C,
pH= 7,2-7,6.