Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại sinh sản tại trại trần văn tuyên – huyện yên thủy – tỉnh hòa bình và biện pháp phòng trị - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ VÂN ANH
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI
NGOẠI SINH SẢN TẠI TRẠI TRẦN VĂN TUYÊN – HUYỆN YÊN
THỦY – TỈNH HÕA BÌNH VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú Y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ VÂN ANH
ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN BỆNH VIÊM ĐƢỜNG
SINH DỤC Ở LỢN NÁI NGOẠI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN ANH TRẦN
VĂN TUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ BỆNH
VIÊM TỬ CUNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú Y
Khoa: Chăn nuôi Thú y


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung.............................................. 23
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 35
Bảng 4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 45
Bảng 4.2: Cơ cấu đàn lợn của trại từ năm 2014 – 24/11/2015 ....................... 46
Bảng 4.3: Tỷ lệ viêm tử cung ở đàn lợn nái từ năm 2014- 24/11/2015. ......... 47
Bảng 4.4: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo tháng ............. 48
Bảng 4.5. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái theo điều kiện đẻ....... 49
Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn ................................. 50
Bảng 4.7: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ ...................................... 51
Bảng 4.8. Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung bằng các phác đồ điều
trị sử dụng trong đề tài. ................................................................................... 53
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của phác đồ điều trị đến thời gian động dục và kết quả
phối giống sau điều trị ..................................................................................... 54


iii

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1.Sơ đồ cấu tạo đường sinh dục lợn nái ................................................ 3


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


: Số thứ tự

TSH

: Thyromin stimulin hormone


v

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC HÌNH ......................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. iv
MỤC LỤC ......................................................................................................... v
Phần 1. MỞ ĐẦU ......................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................................1
1.2. Mục tiêu của đề tài ...............................................................................................2
1.3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học ..............................................................................................2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ...............................................................................................2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................3
2.1. Cơ sở khoa học .....................................................................................................3
2.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái. ...............................................................3
2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái...............................................................6
2.1.3.Bệnh viêm đường sinh dục ở lợn nái ...............................................................12
2.1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở lợn nái. ...........................24
2.1.5. Thuốc kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh viêm tử cung trên lợn nái sinh
sản..............................................................................................................................26
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................................27

1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Từ bao đời nay, nhân dân ta đã có tập quán chăn nuôi lợn, con lợn luôn
giữ vị trí hàng đầu về tỷ trọng và giá trị trong các loài vật nuôi. Với chức năng
vừa là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho tiêu dùng trong nước và xuất
khẩu, vừa là nguồn cung cấp phân bón, tạo điều kiện cho ngành trồng trọt
phát triển, chăn nuôi lợn đã góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập, cải
thiện và năng cao đời sống của người nông dân. Đặc biệt từ những năm 60
của thế kỷ XX đến nay, do việc nhập ngoại các giống lợn cao sản, đã giúp cho
chăn nuôi lợn phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, nhiều hộ nông
dân đã nuôi hàng chục con lợn, nhiều trang trại nuôi từ hàng trăm đến hàng
nghìn con lợn, phương thức chăn nuôi lợn truyền thống, nhỏ lẻ, phân tán, tận
dụng các phụ phẩm nông nghiệp đã dần được thay thế bằng phương thức chăn
nuôi tập trung, theo hình thức và quy mô công nghiệp. Cùng với sự phát triển
của chăn nuôi lợn thịt, chăn nuôi lợn nái sinh sản cũng không ngừng tăng
trưởng, đặc biệt nhiều trang trại đã nuôi hàng trăm lợn nái ngoại để sản xuất
con giống, đây thực sự là một cuộc cách mạng về giống lợn ở nước ta, góp
phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của
chăn nuôi lợn trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, một trong những trở ngại
lớn nhất của việc phát triển chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra còn
phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong trang trại
cũng như nuôi ở gia đình. Một trong những bệnh làm ảnh hưởng đến khả
năng sinh sản của lợn nái ngoại đang nuôi hiện nay là bệnh viêm đường sinh
dục. Bệnh viêm đường sinh dục không những ảnh hưởng trực tiếp tới khả
năng sinh sản của lợn mẹ mà còn là một trong những nguyên nhân làm cho tỷ
lệ mắc bệnh ở đàn lợn con đang trong thời gian theo mẹ tăng cao do thành


Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái.
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [8], cơ quan sinh dục của lợn nái
được chia thành 2 bộ phận gồm bộ phận sinh dục bên trong và bộ phận sinh
dục bên ngoài.

Hình 2.1.Sơ đồ cấu tạo đƣờng sinh dục lợn nái
+ Bộ phận sinh dục bên trong gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử
cung, âm đạo
+ Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: Âm môn, âm vật, tiền đình.
- Bộ phận sinh dục bên trong.
* Buồng trứng (ovaruim)
Buồng trứng lợn nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp, thực
hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormone
sinh dục cái). Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai.


4

Cấu tạo: phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên
kết sợi, chắc như màng dịch hoàn. Phía trong buồng trứng được chia làm hai
miền là miền vỏ và miền tuỷ. Miền tuỷ có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết
dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ. Miền vỏ đảm bảo quá trình
phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng. Miền vỏ gồm ba thành phần:
Tế bào trứng nguyên thuỷ, thể vàng và tế bào hình hạt. Tế bào trứng nguyên
thuỷ hay còn gọi là trứng non nằm dưới lớp màng của buồng trứng. Khi noãn
bao chín các tế bào nang bao quanh tế bào trứng và phân chia thành nhiều
tầng tế bào có hình hạt. Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào bao nang

niệu đạo trong xoang chậu. Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2
sừng thông với một thân và cổ tử cung. Sừng tử cung dài 40-65cm. Thân tử
cung dài 5cm. Cổ tử cung dài 10cm có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp
theo chiều dài răng lược thông với âm đạo.
Chức năng của tử cung: Tử cung có nhiều chức năng. Nội mạc tử cung
và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sinh sản. Gồm:
- Chuyển vận tinh trùng.
- Làm tổ, chửa và đẻ.
* Âm đạo (Vagina)
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4]: Âm đạo lợn dài 10-12cm. Âm
đạo là một ống tròn, trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh.
Âm đạo được cấu tạo bởi 3 lớp:
+ Lớp liên kết bên ngoài.
+ Lớp cơ trơn: Bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, chúng liên
kết với các cơ tử cung.
+ Lớp niêm mạc: Trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc.
Ngoài âm đạo ra còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh ra và là
ống thải các chất dịch từ bên trong tử cung.


6

Bộ phận sinh dục bên ngoài: là những phần ta có thể nhìn thấy, sờ thấy
và quan sát được, gồm: âm môn, âm vật và tiền đình.
* Âm môn
Âm môn hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn. Phía
ngoài âm môn có hai môi (labia pudendi). Hai môi được nối với nhau bằng
hai mép (rima vulvae).
Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như
tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi)

- Giống: Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác
nhau. Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những
giống có thể vóc lớn.
- Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý: Cùng một giống nhưng nếu được nuôi
dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính
sớm hơn và ngược lại.
- Điều kiện ngoại cảnh: Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi
thành thục về tính của gia súc. Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới
nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí
hậu ôn đới và hàn đới.
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái
hậu bị. Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những
con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng.
Tuy nhiên, tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về
thể vóc. Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn
mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối
giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống. Ngược lại, cũng
không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh
sản của một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng.


8

* Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
- Chu kỳ tính
Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn
ra liên tục và có tính chu kỳ. Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn
dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf. Khi nang
Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng. Mỗi lần trứng rụng con cái có
những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục. Do trứng rụng có tính chu kỳ

Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ
tinh tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở vào giai
đoạn có thai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tuỳ loài gia súc thì chu
kỳ sinh dục mới lại bắt đầu. Nếu không xảy ra quá trình trên thì lợn cái sẽ
chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính.
+ Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn
bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý
bình thường. Con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu khó ăn uống
hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh
dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại.
+ Giai đoạn nghỉ ngơi: Giai đoạn này kéo dài từ 10 - 12 ngày, bắt đầu
từ ngày thứ tư sau khi rụng trứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể
vàng tiêu huỷ. Đây là giai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục
hoạt động trở lại trạng thái sinh lý bình thường.
- Thời điểm phối giống thích hợp
Thời gian tinh trùng lợn đực giống sống trong tử cung lợn nái khoảng
45 - 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu
quả là rất ngắn, cho nên phải tiến hành phối giống đúng lúc. Thời điểm phối
giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực.
Đối với lợn nái ngoại, lợn lai, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi
có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang


10

ngày thứ 4 kể từ lúc bắt đầu động dục (thường theo kinh nghiệm lợn nái ngoại
và lợn nái lai thời điểm phối giống thích hợp: Nếu lợn nái chịu đực trước 5
ngày sau cai sữa thì buổi sáng chịu đực thì buổi chiều phối, buổi chiều chịu
đực thì sáng hôm sau phối, còn lợn nái sau khi cai sữa 5 ngày trở lên chịu đực
lúc nào thì phối lúc đó).

căng to, sữa bắt đầu tiết.
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia
súc đẻ:
+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong.
+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu.
+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu.
+ Trước khi đẻ 2 - 3h, hàng vú sau vắt được sữa đầu.
Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ 2 - 6h,
nó được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài.
* Sinh lý tiết sữa của lợn nái
Quá trình tiết sữa của lợn nái đựơc chia làm hai giai đoạn:
- Quá trình tổng hợp sữa:
Quá trình tổng hợp sữa được điều tiết theo cơ chế thần kinh và thể
dịch. Dưới tác động của FSH và LH các tế bào thượng bì tuyến vú, tế
bào mạch quản tổ chức phát triển mạnh.
Prolactin- Hormone thuỳ trước tuyến yên kích thích tế bào nang
tuyến tổng hợp sữa từ những nguyên liệu lấy trong máu. Các nguyên liệu
lấy trong máu nhờ vai trò của các hormone: STH, TSH, glucagons,
ACTH… STH kích thích quá trình trao đổi Lactoza, Cazein, MgSO 4,
kháng thể…. Cazein trong sữa được tổng hợp được từ Glucoza, Fructoza
ở huyết tương. Mỡ sữa được tổng hợp từ Glycerin và axit béo.
- Quá trình thải sữa:
Quá trình thải sữa cũng nhờ cơ chế thần kinh thể dịch. Khi lợn con


12

bú tạo cảm giác truyền về thần kinh trung ương đến vùng dưới đồi kích
thích tuyến yên tiết Oxytocine. Oxytocine kích thích hệ cơ trơn đầu vú
co bóp đẩy sữa ra ngoài.

để dẫn đến viêm lan sang âm môn, tiền đình, âm đạo.
- Ngoài ra còn do kế phát một số bệnh như: sảy thai, thai chết lưu và
thối rữa trong tử cung, sát nhau, âm đạo lộn ra ngoài.
Khi mới bị viêm niêm mạc của các bộ phận này thấy xung huyết nhẹ,
kiểm tra âm đạo bằng dụng cụ chuyên dụng, con vật có phản ứng đau cục bộ,
đái rắt, có nhiều dịch chảy ra từ âm hộ. Thể nhẹ thì niêm dịch trong không
mùi, khi bệnh nặng thì dịch chảy ra nhiều, mùi tanh, đặc và đục, dịch có lẫn tổ
chức hoại tử trắng. Niêm mạc âm đạo xung huyết, đỏ từng đám, không có
hình thái cố định, có những trường hợp viêm nặng, niêm mạc sưng dày lên.
Có trường hợp viêm màng giả: trên niêm mạc được phủ một lớp màng
mỏng,có tổ chức hoại tử màu trắng hoặc màu vàng xám, phía dưới có những
vết loét nằm phân tán hoặc tập trung thành một mảng lớn trên niêm mạc.
Viêm màng giả có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết. Sau quá trình viêm màng
giả, tế bào của âm đạo tăng sinh, niêm mạc trở nên sẹo hóa, lòng âm đạo trở
nên hẹp lại làm ảnh hưởng đến quá trình sinh sản lần sau.
2.1.3.2. Viêm tử cung
* Nguyên nhân
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường xảy ra ở lợn nái sau khi đẻ, có thể
xảy ra ở lợn nái sau khi phối giống và ít xảy ra ở lợn nái hậu bị, thời gian hay
xảy ra nhất là sau khi đẻ 1-10 ngày và sau khi phối giống.
Bệnh xảy ra ở mẹ do nguyên nhân sau:
- Từ bản thân lợn mẹ


14

Lợn là loại động vật đa thai, khả năng sinh sản cao thời gian mang thai
ngắn, thời gian sinh sản kéo dài… Làm cho bộ phận sinh dục hoạt động nhiều
tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển trong bộ phận sinh dục.
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt (2004) [14], cơ quan sinh dục của lợn nái

- Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột gây khó đẻ, gây ra viêm tử cung do
xây xát. Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng
giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập, gây viêm tử cung.
- Thiếu khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung. Thiếu VTM
A gây sừng, niêm mạc, sót nhau (Lê Hồng Mận, 2004) [11].
+ Do chăm sóc quản lý:
- Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục của lợn nái trước
khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh.
- Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm
cho lợn nái bị viêm tử cung. Vì vậy chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp với
lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung.
* Các thể viêm tử cung
Theo Đặng Đình Tín (1986) [22], bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể:
* Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Nguyễn Văn Thanh (2007) [19], cho rằng: viêm nội mạc tử cung là
viêm lớp niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm
khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ
cao trong các bệnh của viêm tử cung. Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra
sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm
niêm mạc tử cung bị tổn thương, tiếp đó các vi khuẩn Streptococcus,
Staphylococcus, E.coli, Salmonella, C.pyogenes, Bruccella, roi trùng
Trichomonas Foetus…Xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm.


16

Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002) [13], bệnh viêm nội mạc tử cung
có thể chia 2 loại:
- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở
niêm mạc tử cung.

biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục. Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra
ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên
có mùi tanh, thối. Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc.
Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần
sau. Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh.
* Viêm tương mạc tử cung
Theo Đặng Đình Tín (1986) [22], viêm tương mạc tử cung thường kế
phát từ viêm cơ tử cung. Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất
hiện những triệu chứng điển hình và nặng. Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có
màu hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng. Sau đó các tế
bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết. Nếu bị viêm nặng, nhất là
viêm có mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ chức xung quanh gây nên
tình trạng viêm mô tử cung (thể Paramestritis), thành tử cung dày lên, có thể
kế phát viêm phúc mạc.
Lợn nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh,
con vật ủ rũ, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn. Lượng sữa rất ít
hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú. Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau
đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục. Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều
hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm. Khi kích
thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ âm
hộ dịch chảy ra nhiều hơn.
* Bệnh tích:
Theo Trekaxova A.V (1983) [24], bệnh tích viêm tử cung dựa theo các
thể viêm tử cung. Có các thể viêm như sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status