ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
LA VĂN NGỌC
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI
NGOẠI SINH SẢN VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI
TRẠI BÙI HUY HẠNH XÃ TÁI SƠN, HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Lớp: 43A - Thú y
Khoa: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2011 - 2015
Giảng viên hƣớng dẫn: TS. Bùi Thị Thơm
Thái Nguyên - năm 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tại trường, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình của các thầy cô trong trường, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Chăn
nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đến nay tôi đã hoàn
thành chương trình học tập và thực tập tốt nghiệp.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời cảm ơn sâu
sắc tới Nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y. Đặc biệt tôi
STT : Số thứ tự
TT
: Thể trọng
ĐD
: Động dục
ml
: Mililít
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung .......................................20
Bảng 3.2: Sơ đồ thử nghiệm hai phác đồ điều trị ......................................................21
Bảng 4.1: Lịch sát trùng trại lợn nái ...........................................................................24
Bảng 4.2: Lịch tiêm phòng vắc xin trong trại ............................................................25
Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất............................................................34
Bảng 4.4: Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung trong
2 năm (từ 2014 - 2015).....35
Bảng 4.5: Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn
..............................36
Bảng 4.6: Tỷ lệ lợn nái mắc bệnhviêm tử cung theo lứa đẻ ...................................37
Bảng 4.7: Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng trong năm ...........39
Bảng 4.8: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo hai phác đồ điều trị.................41
3.4. Phương pháp tiến hành nghiên cứu............................................................ 19
3.4.1. Phương pháp theo dõi thu thập thông tin ……………………………. .. 20
3.4.2. Phương pháp chẩn đoán lâm sàng .........................................................19
3.4.3. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................20
v
3.4.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định các chỉ tiêu .........................22
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...............................................................23
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 23
4.2. Kết quả nghiên cứu ................................................................................... 35
4.2.1. Điều tra lợn nái mắc bệnh tại trại Chăn nuôi Bùi Huy Hạnh. .................35
4.2.2. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn
.....................................36
4.2.3. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ
....................................36
4.2.4. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng trong năm ..................39
4.3. So sánh hiệu lực điều trị bệnh viêm tử cung của hai phác đồ điều trị..............40
4.3.1. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo hai phác đồ điều trị........................40
4.3.2. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi
khỏi bệnh.......................................................................................................................42
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ....................................................................44
5.1. Kết luận .................................................................................................... 44
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................45
1
quyết phù hợp , góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh viêm tử cung ở
lợn nái sinh sản , chúng tôi đã tiế n hành nghiên cứu đề tài : “Đánh giá tình
hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại sinh sản và thử nghiệm
một số phác đồ điều trị tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ,
tỉnh Hải Dương”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra tình hình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại.
- Xác định được tỷ lệ lợn nái mắ c bê ̣nh viêm tử cung tại trại chăn nuôi
xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị viêm tử cung và rút ra phác đồ
điều trị tốt hơn.
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp thêm tư liệu về tình hình mắc bệnh viêm tử cung tại trại
chăn nuôi xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Xây dựng được phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung đạt hiệu quả tốt hơn.
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học góp phần phục vụ
cho các nghiên cứu tiếp theo của trại và làm tư liệu nghiên cứu về bệnh viêm
tử cung ở đàn lợn nái sinh sản tại trại.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Qua điề u tra tình hình bê ̣nh viêm tử cung trên lơ ̣n nái của tra ̣i và đánh
giá được hiệu lực của thuốc sử dụng, góp phần kiểm soát và khống chế tình
trạng viêm tử cung trên đàn lợn nái.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để
xâm nhập vào gây viêm.
Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
* Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý
Khẩu phần ăn thừa hay hiếu protein trước và trong thời kỳ mang thai có
ảnh hưởng đến viêm tử cung. Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ,
gây viêm tử cung do xây sát.
Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng
giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung.
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung. Thiếu vitamin A
gây sưng niêm mạc, sót nhau.
* Chăm sóc nuôi dưỡng
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ
không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh. Do quá trình can thiệp khi lợn
đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương
niêm mạc. Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng
đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái. Do lợn
đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn nái.
Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng. Vệ sinh trang trại, cơ sở
chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt sẽ làm giảm tỷ lệ viêm.
* Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ, dễ làm cho
lợn nái bị viêm tử cung. Vì vậy, chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối
với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung.
5
* Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe
* Tổn thương mô bào
Các tế bào tổn thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm
trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại vùng viêm, chúng
tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh lý cao và hạ thấp độ pH của ổ viêm.
Như vậy ngoài tính chất bảo vệ thì tổn thương mô bào còn tạo ra nhiều
chất có hại tham gia vào thành phần của dịch rỉ viêm, chính các chất này đã góp
phần hình thành và phát triển vòng xoắn bệnh lý trong viêm. (Nguyễn Hữu Nam
2005) [ 8].
* Dịch rỉ viêm
Dịch rỉ viêm là sản phẩm được bài tiết ra tại ổ viêm bao gồm có thành
phần hữu hình và các chất hòa tan như nước, muối, albumin, fibrinogen, globulin
bạch cầu hồng cầu, tiểu cầu có tác dụng tạo vành đai ngăn cản viêm lan. Đăc biệt
là các chất có hoạt tính sinh lý như: Histamim, serotonin axetincholin có tác
dụng làm dãn mạch và tăng tính thấm thành mạch gây đau.
* Tăng sinh mô bào
Là hiện tương tăng lên về số lượng các tế bào trong ổ viêm các tế bào
này có thể từ trong máu tới hoặc các tế bào tại chố sản sinh ra.
Trong quá trình viêm giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân
trung tính. Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ
tổn thương của ổ viêm cung như tình trạng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu và Lê
Thị Ngọc Diệp 1997 [5]).
* Các tế bào viêm
Các tế bào tăng sinh ở trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm,
bao gồm: Bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch
cầu đa nhân lớn. Chúng có chức năng thực bào, ẩm bào hay tạo ra những kích
thích ở ổ viêm và giữ vai trò quan trọng giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của
các tác nhân lạ từ môi trường.
7
2.1.3.2. Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ
được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển. Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung
đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2003 [12]).
Chính vì vậy, bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3] thì viêm tử cung chia làm 3 thể: viêm
nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung.
a. Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Nguyên nhân: Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ
khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn
thương, vi khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella,
Brucella, roi trùng xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung. Mặt
khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn,
bệnh lao… thường gây ra viêm nội mạc tử cung. Căn cứ vào tính chất, trạng
thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại:
Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ.
Viêm nội mạc tử cung có màng giả.
* Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperalis
Catarhalis purulenta acuta)
Nguyên nhân: Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở bò,
trâu và lợn. Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương,
xây sát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp.
Triệu chứng: Thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm. Con vật
có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh. Từ cơ
quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, những
mảnh tổ chức chết…
Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn. Xung quanh
âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình
thành từng đám vẩy, màu trắng xám. Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch
10
b. Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)
Nguyên nhân: Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử
cung thể màng giả. Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm suất, vi khuẩn xâm
nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây
tổn thương mạch quản và lâm ba quản. Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít
lớp tương mạc tử cung bị hoại tử. Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng
nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ, có khi vì lớp
cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay
hoại tử từng đám (trích Nguyễn Văn Thanh (2002) [11]).
Triệu chứng toàn thân: Thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống
giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn. Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn,
rặn liên tục. Từ đó cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu
lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối.
Bệnh tích: Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn
dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn.
Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to
nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng. Khi kích thích lên tử
cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong
tử cung càng thải ra nhiều.
Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau.
Điều trị: Vetrimoxin 1 ml/10 kg TT/ 2 ngày, tiêm bắp, điều trị trong 6 ngày
liên tục.
Dùng ống thụ tinh nhân tạo thụt rửa âm đạo và tử cung bằng dung dịch
nước sinh lý ngày một lần trong 2 - 3 ngày.
Chú ý: Trong trường hợp bị viêm nặng dịch chảy ra có máu không được thụt
rửa, tránh trường hợp viêm ngược và tắc ống dẫn trứng. Trong trường hợp này
có thể dùng PG-F2α hoặc oxytoxin tiêm, giúp đẩy dịch viêm ra ngoài.
12
ấm, phun sát trùng bằng dung dịch Famsafe pha với tỷ lệ 1/3000 lên mình gia
súc. Tay người đỡ phải được sát trùng kỹ bằng cồn hoặc rượu.
+ Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay, tay được sát trùng kỹ bằng dung
dịch sát trùng Omnicide, Gel bôi trơn. Sau khi lợn đẻ xong phải bơm rửa bằng
nước đun sôi để nguội pha thuốc tím 1/1000 hay nước muối sinh lý 9/1000 hay
Han Iodine 10 ml/lit nước. Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh penicillin 1
triệu UI, tetramycin hay sulfanilamid 1g vào tử cung để chống viêm. Trước khi
cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch
sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực lẫn lợn nái. Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra
dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch...
Trong trường hợp phải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải
được vô trùng, nếu can thiệp bằng tay cần cắt móng tay sát trùng và bôi trơn
bằng Gel. Các thao tác đúng kỹ thuật, nhịp nhàng.
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được vô trùng trước và
sau khi sử dụng
+ Sau khi lợn đẻ xong tiêm Oxytocine liều 2 - 4 ml để kích thích đẩy
hết sản dịch và nhau thai ra ngoài. Tiêm một mũi kháng sinh phòng viêm tử
cung.
Thường xuyên tắm và lau sạch bầu vú cho lợn. Bấm nanh lợn con ngay
sau khi đẻ để tránh làm tổn thương bầu vú.
Theo dõi quá trình đẻ để kiểm tra sót nhau, sau khi nhau đã ra hết, nên
thụt rửa tử cung bằng nước muối 0,9% hoặc dung dịch thuốc tím 0,1% sau đó
tiêm kháng sinh phòng nhiễm trùng kế phát.
Nếu lợn nái ít sữa hay mất sữa cần điều trị ngay.
Khi đẻ lợn nái thường bị mất sức nhiều do mất nước, mất máu và ăn
kém nên sức đề kháng rất yếu nên sau khi đẻ xong ta nên tiêm kháng sinh
Anagine - C. Lưu ý khi pha thuốc tiêm vitamin C không dùng
chung với kháng sinh penicilline, sulfamid và thuốc khác....
14
+ Tiêm thuốc tạo sữa
Thyroxin ngày 1 - 2 ống, liên tiếp 2 - 3 ngày, chỉ dùng khi
nhiệt độ cơ thể hạ xuống bình thường.
* Một số loại thuốc sử dụng tại trại
Phác đồ I: Vetrimoxin L.A tiêm bắ p 1 ml/10 kg TT/2 ngày
Tiêm Oxytocin 5 ml/con vào mép âm môn
Thụt 1 triệu UI Penicillin + 1g streptomycine
Liệu trình 2 ngày 1 lần, trong 3 - 6 ngày.
Phác đồ II: NOR 100 : Tiêm bắp thịt 1 ml /15 - 20 kg TT/ngày.
Tiêm Oxytocin 5 ml/con vào mép âm môn.
Thụt 1 triệu UI Penicillin + 1g Streptomycine
Liệu trình ngày 1 lần, trong 3 - 6 ngày.
Ngoài sử dụng kháng sinh và thuốc bổ, kết hợp thụt rửa tử cung bằng
dung dịch thuốc sát trùng Omnicide (pha 1 ml với 100 ml nước sạch) mỗi lần
dùng cho 1 con từ 2000 - 2500 ml dung dịch đã pha. Bơm dung dịch đã pha
vào tử cung của lợn và chờ khoảng 30 phút cho dung dịch và dịch viêm ra hết.
Sau đó dùng hỗn hợp kháng sinh.
Penicillin 1 triệu UI
Streptomycin 1g
Nước cất 50 ml
Hòa tan hỗn hợp bơm trực tiếp vào tử cung
2.1.5 Một số loại thuốc kháng sinh và hóa dƣợc sử dụng điều trị bệnh viêm
tử cung
Vetrimoxin L.A
- Ngưng thuốc trước khi giết mổ thịt 08 ngày.
- Kết hợp sử dụng một số thuốc có tác dụng giảm đau hạ sốt, trợ sức
trợ lực… làm tăng hiệu quả điều trị của thuốc kháng sinh.
16
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y cũng đã có những nghiên cứu tổng
kết về bệnh viêm tử cung. Song những tư liệu nghiên cứu về bệnh viêm tử cung ở
lợn nái cũng còn rất ít.
Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [7], điều trị bệnh viêm tử
cung bằng cách dùng Benzil penicillin (Procain) 1.000.000 UI tiêm bắp. Dùng
Gentamycin Sulfate 200.000 UI tiêm bắp. Điều trị 5 - 7 ngày.
Nguyễn Văn Thanh (2002) [11], lợn nái sau khi sinh bị viêm tử cung
chiếm tỷ lệ 42,40%. Viêm tử cung trên nhóm thuần chiếm 25,48%, trên nhóm
lai chiếm 50,84%. Viêm tử cung xảy ra cao nhất ở lứa 1 và lứa 2. Tỷ lệ chậm
động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao hơn nhiều so với nhóm lợn không
bị viêm tử cung.
Viêm tử cung là một trong nhiều tổn thương đường sinh dục ở lợn nái
sau khi sinh. Khi có dịch tiết và dịch lẫn mủ mùi tanh thối, con vật sốt, bỏ ăn
hay ăn ít, có phản xạ đau chính là biểu hiện của bệnh viêm tử cung. Có nhiều
nguyên nhân gây viêm tử cung như: Dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khoẻ
chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi... Nhưng nguyên nhân chính
luôn hiện diện trong tất cả các trường hợp là do vi sinh vật, các nguyên nhân khác
sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập
và phát triển gây bệnh (Nguyễn Văn Thanh, 2002 [11]).
Theo Nguyễn Văn Thanh (2003) [12], tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở
đàn lợn nái ngoại hướng nạc đang được nuôi tại các địa phương vùng đồng
số con trên một lứa đẻ và số lứa đẻ của một nái trên một năm. Do vậy ưu tiên
hàng đầu và liên tục trong chăn nuôi lợn sinh sản là tạo ra nhiều lợn con sinh
ra và sống sót sau cai sữa và đồng thời giảm chí phí trong sản xuất nhất là do
18
không thụ thai. Mục tiêu trên, đòi hỏi sự làm việc cường độ cao ở lợn nái và
nhất là cơ quan sinh sản. Do vậy các cơ quan sinh sản đóng vai trò quan trọng
trong chăn nuôi, quyết định đến năng suất chăn nuôi. Những bất thường trong
cơ quan sinh sản, nói rõ hơn là các kiểu rối loạn như viêm tử cung, làm năng
suất chăn nuôi lợn nái bị ảnh hưởng (Madec và Neva, 1995) [19].
Madec và Neva (1995) [19], viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt vài
giờ khi đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường
kéo dài 48 đến 72 giờ.
Trong bệnh viêm tử cung thì viêm nội mạc tử cung chiếm tỷ lệ cao.
Kaminski kiểm tra 1.000 lợn nái ở Liên Bang Đức cho kết quả là 16% bị viêm
nội mạc tử cung.
Madec và Neva (1995) [19], qua kiểm tra vi thể xứ Brơ-ta-nhơ của
miền Tây Bắc nước Pháp, thấy 26% số lợn nái có bệnh viêm tử cung. Ngoài
ra 2% số lợn nái có bệnh tích thoái hóa mô nội mạc tử cung với đặc điểm
thành tử cung có cấu tạo sợi fibrine.
Madec và Neva (1995) [19]: Tỷ lệ bệnh tích đường tiết niệu đường sinh
dục ở đàn nái loại thải tăng theo số lứa đẻ.
Madec khi tiến hành nghiên cứu bệnh lý sinh đẻ vào năm 1991 trên đàn
lợn xứ Brơ- ta nhơ (Pháp) cho thấy 15% số lợn nái bị viêm tử cung.
19