Khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trang trại chăn nuôi bình minh huyện mỹ đức hà nội và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI
NGOẠI NUÔI TẠI TRANG TRẠI CHĂN NUÔI BÌNH MINH, HUYỆN MỸ
ĐỨC, HÀ NỘI VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính Quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016

THÁI NGUYÊN - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI
NGOẠI NUÔI TẠI TRANG TRẠI CHĂN NUÔI BÌNH MINH, HUYỆN MỸ
ĐỨC, HÀ NỘI VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


cuộc sống sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Thị Phƣơng


ii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1. Lịch sát trùng trại lợn nái ................................................................ 36
Bảng 4.2. Quy trình vắc xin tại trại ................................................................. 37
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 44
Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ............................... 45
Bảng 4.5. Tỷ lệ lợn nái mắ c bê ̣nh viêm tử cung theo tháng theo dõi ............. 47
Bảng 4.6. Tỷ lệ lợn nái mắ c bê ̣nh viêm tử cung theo lứa đẻ .......................... 48
Bảng 4.7. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn ..................... 50
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của hình thức sinh đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung
......................................................................................................................... 51
Bảng 4.9. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo phác đồ điều trị .............. 52
Bảng 4.10. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị............... 54


iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LH:

Lutein Hormone

Nxb:

Nhà xuất bản

Cs:

Cộng sự


iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................0
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................... iii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iv
Phần 1: MỞ ĐẦU ......................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................................1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài .............................................................................2
1.3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học ..............................................................................................2
13.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ......................................................................................2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................3
2.1. Cơ sở khoa học .....................................................................................................3
2.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh sản của lợn cái ................................................................3
2.1.1.1. Bộ phận sinh dục bên ngoài ...........................................................................3
2.1.1.2. Bộ phận sinh dục bên trong............................................................................5
2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái..............................................................8
2.1.2.1. Sự thành thục về tính......................................................................................8
2.1.2.2. Chu kỳ động dục (chu kỳ tính) .......................................................................9
2.1.2.3. Sinh lý quá trình mang thai ..........................................................................12

4.2.2. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm ửt cung theo tháng ...............................................46
4.2.3. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ .......................................................48
4.2.4.Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm t ử cung theo giống lợn ......................................50
4.2.5. Ảnh hưởng của hình thức sinh đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ..............50
4.2.6. Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung ....................51
4.2.7. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị .................................54
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................................55
5.1. Kết luận ..............................................................................................................55
5.2. Đề nghị ...............................................................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................57


1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ,
chất lượng và nhu cầu cuộc sống tăng lên không ngừng, kéo theo đó nhu cầu về số
lượng và chất lượng thịt cũng tăng cao. Để đáp ứng nhu cầu đó, ngành chăn nuôi
lợn đang phát triển mạnh, sản phẩm của ngành không những phục vụ cho nhu cầu
trong nước mà còn mở rộng xuất khẩu.
Trước đây, năng suất chăn nuôi thấp là do người chăn nuôi quen với tập quán
nuôi lợn nội và tận dụng các phụ phẩm trong nông nghiệp để nuôi. Hiện nay, năng
suất chăn nuôi cao hơn rất nhiều lần do người chăn nuôi đã biết nuôi lợn ngoại theo
hình thức nuôi công nghiệp. Để chăn nuôi lợn ngoại đạt hiệu quả cao, bên cạnh các
yếu tố về thức ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi… thì yếu tố đầu tiên cần được
đảm bảo là có đàn giống tốt, điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suất sinh sản của
đàn lợn nái ngoại. Đối với đàn lợn nái ngoại nuôi theo phương thức nuôi công
nghiệp thì bệnh sinh sản rất phổ biến và là nguyên nhân chính làm giảm năng suất
sinh sản, trong số đó bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ khá cao. Bệnh viêm tử cung

3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh sản của lợn cái
Cơ quan sinh sản của lợn cái bao gồm hai bộ phận: Bộ phận sinh dục bên
ngoài và bộ phận sinh dục bên trong.
2.1.1.1. Bộ phận sinh dục bên ngoài
Âm hộ (Vulva)
Bộ phận sinh dục ngoài của con cái nằm dưới hậu môn. Phía ngoài âm hộ có
hai môi (Labia vulva) nối liền hai môi bằng hai mép (Bimavulva), trên hai môi của
âm môn có sắc tố đen và nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến tiết mồ hôi.
Âm vật (Clitoris)
Âm vật của con cái giống như dương vật của con đực thu nhỏ lại, bên trong
có thể hổng. Trên âm vật có các nếp da tạo ra mũ âm vật (Praeputium clitoridis), ở
giữa âm vật xuống là chỗ tập trung của nhiều đầu mút thần kinh.
Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ. Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này
xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật. Tiền đình gồm màng trinh, lỗ niệu đạo
và hành tiền đình. Màng trinh là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm
đạo, phía sau thông với âm hộ. Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lá
niêm mạc gấp lại thành một nếp. Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh. Hành tiền
đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo. Cấu tạo giống thể hổng ở bao dương vật
của con đực.
Tuyến vú
Tuyến vú có hình chùm nho phức tạp và có nguồn gốc từ da.
- Núm vú ở lợn có nhiều đôi vú từ vùng ngực đến vùng bẹn (thường có từ 5
đến 8 đôi). Mỗi núm vú có 2 tuyến sữa, đầu núm vú có 2 - 3 ống dẫn thông với các
ống dẫn sữa lớn. Đầu núm vú là thụ quan ngoài quan trọng góp phần điều hoà phản
xạ tiết sữa.



5
2.1.1.2. Bộ phận sinh dục bên trong
Âm đạo (Vagina)
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối đồng thời
là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ
tử cung. Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau
thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh.
Âm đạo có cấu tạo gồm lớp liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn có cơ dọc bên ngoài,
cơ vòng bên trong và các lớp cơ âm đạo liên kết với các cơ ở cổ tử cung và lớp
niêm mạc âm đạo, trên bề mặt có nhiều thượng bì gấp nếp dọc. Âm đạo là cơ quan
giao cấu, nơi tinh dịch được phóng ra và đọng lại ở đó. Âm đạo lợn dài 10 – 12cm.
Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo
trong xoang chậu, 2 sừng tử cung ở phần trước xoang chậu. Tử cung được giữ tại
chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng.
Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với 1 thân và cổ
tử cung. Sừng tử cung dài 50-100cm, hình ruột non, thông với ống dẫn trứng. Thân
tử cung dài 3-5cm, nằm phía trong cổ tử cung và có rãnh giữa tử cung. Cổ tử cung
dài 10-18cm, có thành dầy, hình trụ, có các cột thịt xếp theo kiểu cài răng lược,
thông với âm đạo.
Cấu tạo tử cung gồm 3 lớp: Tương mạc, cơ trơn và nội mạc sắp xếp lần lượt
từ ngoài vào trong. Lớp tương mạc là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung
và nối tiếp vào các hệ thống các dây chằng. Lớp cơ trơn gồm cơ vòng rất dày ở
trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài. Giữa hai tầng cơ trơn chứa tổ chức liên kết sợi đàn
hồi và mạch quản, đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn. Ngoài ra, các bó sợi cơ trơn đan
vào nhau theo mọi hướng làm thành mạng vừa dày vừa chắc.
Lớp nội mạc tử cung là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp tế bào
biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhầy tử cung. Nhiều tế bào

Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo ra giao tử cái và tiết các
hormone: Oestrogen, progesterone, oxytoxin, relaxin và inhibin. Các hormone này
tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn nái. Oestrogen cần thiết cho sự
phát triển của tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú. Progesterone do thể vàng


7
tiết ra giúp duy trì sự mang thai do nó kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi
dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú.
Oxytoxin được tiết chủ yếu của phần sau của tuyến yên nhưng cũng đươc tiết bởi
thể vàng của buồng trứng khi thú gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc đẻ và
cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa. Relaxin do thể vàng tiết ra để gây dãn
nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử cung, do đó mở rộng đường sinh dục khi gần
sinh. Inhibin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó
ức chế sự phát triển nang noãn theo chu kỳ.
Ở bề mặt ngoài của buồng trứng có một tổ chức liên kết được bao bọc bởi
lớp biểu mô hình lập phương. Bên dưới lớp này là lớp vỏ chứa các noãn nang, thể
vàng, thể trắng (thể vàng thoái hoá). Phần tuỷ của buồng trứng nằm ở giữa, gồm có
mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết. Miền vỏ có tác dụng về
sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng. Trên buồng trứng có từ
70.000 – 100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những
noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang
sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng.
Có bốn loại noãn nang trong buồng trứng: Noãn nang nguyên thuỷ, noãn
nang bậc 1, noãn nang bậc 2, noãn nang bậc 3. Noãn nang nguyên thuỷ nhỏ nhất và
được bao bọc bởi một lớp tế bào vảy. Noãn nang nguyên thuỷ phát triển thành noãn
nang bậc một, nó được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô hình lập phương (tế bào
nang). Khi cơ thể mới được sinh ra, buồng trứng đã có sẵn hai loại noãn nang này.
Noãn nang bậc một có thể bị thoái hoá hoặc phát triển thành noãn nang bậc 2. Noãn
nang bậc 2 hoặc nhiều lớp tế bào nang nhưng không có xoang nang (là khoảng

Tuy nhiên, không nên cho lợn phối giống quá muộn vì nó ảnh hưởng đến thế hệ sau
của chúng. Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2000) [6], tuổi phối giống lần đầu cho lợn
cái tốt nhất là lúc 8 tháng tuổi và khối lượng là ≥ 70 kg hoặc ở 9 tháng tuổi với
khối lượng là 80 – 90 kg.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục tính:
* Giống: Các giống gia súc khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác
nhau, sự thành thục về tính ở những gia súc có tầm vóc nhỏ thường sớm hơn gia súc


9
có tầm vóc lớn. Các giống lợn nội tuổi thành thục về tính là 4 – 5 tháng, các giống
lợn Landrace, Yorkshire tuổi thành thục về tính là 6-7 tháng.
Theo Phạm Hữu Doanh (1985) [5], tuổi thành thục tính ở lợn lai muộn hơn
lợn cái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái) thường ở tháng thứ 4, thứ 5 (120 – 150 ngày
tuổi). Lợn F1 thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi, lợn ngoại 6 – 8 tháng tuổi.
* Dinh dưỡng và cách thức nuôi dưỡng:
Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn Duy Hoan (1998) [1] cho biết, kinh nghiệm từ
thực tiễn chăn nuôi Hoa Kỳ, để duy trì năng suất sinh sản cao thì cần chú ý tới nhu cầu
dinh dưỡng và cách thức nuôi dưỡng. Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80-90 kg,
sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (ở chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3).
Hoặc có thể điều chỉnh để khối lượng cơ thể đạt 120 – 140 kg ở chu kỳ động
dục thứ 3 và cho phối giống. Trước phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục,
tăng lượng thức ăn từ 1 – 1,5 kg, có bổ sung khoáng và sinh tố chỉ trong 14 ngày, sẽ
giúp lợn nái ăn được nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2 – 2,1 trứng/lần động
dục/nái.
* Sự kích thích của con đực ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của lợn
cái hậu bị:
Cách ly lợn cái hậu bị (ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn đực sẽ dẫn đến làm chậm trễ
sự thành thục so với những lợn cái hậu bị cùng độ tuổi được tiếp xúc với con đực.
2.1.2.2. Chu kỳ động dục (chu kỳ tính)

không yên tĩnh, ăn uống giảm rõ, kêu rống, phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên
lưng con khác hay để con khác nhảy lên lưng, đái rắt, thích gần con đực, xuất hiện
các tư thế phản xạ giao phối. Sau đó, khoảng 20h thì trứng bắt đầu rụng. Thời gian
rụng trứng kéo dài từ 4 đến 6 giờ, số trứng rụng mỗi lần từ 8 đến 25 trứng hoặc hơn.
Giai đoạn này nếu tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng và được
thụ thai thì chu kỳ sinh dục sẽ ngừng lại, gia súc cái ở giai đoạn có thai và đến một
thời gian sau khi sinh đẻ xong chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại. Trường hợp tế bào
trứng không được thụ thai thì nó sẽ chuyển sang giai đoạn sau của chu kỳ.
c. Giai đoạn sau động dục (metoestrus)
Được tính từ khi kết thúc động dục, thường kéo dài từ 3 – 4 ngày, hoạt động
sinh lý bắt đầu lắng xuống, con vật dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường, rồi


11
chuyển sang giai đoạn yên tĩnh làm giảm tiết oestrogen, từ đó làm giảm hưng phấn
thần kinh, ức chế sự tăng và tiết thể dịch, làm cho con vật trở nên bình thường,
chuyển sang giai đoạn yên tĩnh.
d. Giai đoạn yên tĩnh (dioestrus)
Là giai đoạn dài nhất chiếm phần lớn chu kỳ động dục, bắt đầu từ ngày thứ 4
sau khi trứng rụng và không được thụ tinh, kết thúc sau khi thể vàng tiêu hủy không
còn biểu hiện gì về hành vi sinh dục. Đây là giai đoạn chuyển giao giữa hai lần
động dục. Trong quá trình động dục, nếu trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại
suốt 2/3 thời gian mang thai và tiết ra progesteron có tác dụng an thai, ức chế quá
trình rụng trứng, kích thích tuyến vú phát triển. Thời kỳ yên tĩnh lúc này chính là
giai đoạn mang thai và thời kỳ sau đẻ. Ở giai đoạn nuôi con dưới tác dụng của
prolactin, oxytoxin, progesteron,… làm cho quá trình rụng trứng bị đình trệ, hiện
tượng động dục không xảy ra. Thường sau khi cai sữa thì chu kỳ tính dần được khôi
phục và xuất hiện trở lại sau cai sữa 4 – 8 ngày.
Nếu trong quá trình động dục, trứng rụng không được thụ tinh thì thể vàng
chỉ tồn tại được 3 – 10 ngày, sau đó teo đi làm ngừng tiết progesteron. Do đó, trứng

Có thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó được bắt đầu từ
khi trứng được thụ tinh cho đến khi sinh đẻ xong.
Thời gian có thai
Trong thực tế, sự có thai của gia súc được tính ngay từ ngày phối giống lần
cuối. Thời gian có thai phụ thuộc vào những điều kiện và các yếu tố khác nhau. Nó
dài hay ngắn tùy theo loài, giống gia súc, tuổi gia súc mẹ, lứa sinh sản, trạng thái
dinh dưỡng, sức khỏe…
Theo Đặng Đình Tín (1986) [19], Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], ở lợn
thời gian có thai xê dịch trung bình là 110 – 118 ngày, thời gian có thai trung
bình là 114 ngày.
Quá trình phát triển của phôi thai
Quá trình phát triển của bào thai có thể chia ra làm ba thời kỳ:
* Thời kỳ thứ nhất – thời kỳ trứng: Thời kỳ này bắt đầu từ khi tế bào trứng
được thụ tinh đến khi hình thành nang phôi – túi phôi.


13
* Thời kỳ thứ hai – thời kỳ phôi thai là thời kỳ hình thành nhau thai, hình thành
các tế bào và các cơ quan hệ thống của cơ thể. Ở gia súc lớn từ ngày thứ 11 – 40.
* Thời kỳ thứ ba – thời kỳ bào thai là thời kỳ cuối phôi thai cho đến khi sinh
đẻ. Là giai đoạn phân hóa những kết cấu cực tiểu của tế bào và cơ quan, là thời kỳ
bào thai phát triển nhanh.
Sự điều hòa thần kinh – thể dịch ở thời kỳ mang thai
Điều hòa sự phát triển của bào thai và đảm bảo sự thống nhất trong các hoạt
động chức năng giữa cơ thể mẹ và bào thai là một quá trình phức tạp do sự điều tiết
thần kinh – thể dịch.
Điều tiết thần kinh: Bắt đầu từ lúc thụ thai thì trong vỏ não xuất hiện vùng
hưng phấn trội để tiếp nhận những biến đổi hóa học và cơ học từ các điểm thụ cảm
ở tử cung, do đó đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của phôi
thai như: niêm mạc tử cung phát triển, mạch máu đến nhiều, tiết dịch tăng. Hưng

và có khi còn biểu hiện trạng thái thở dốc. Dưới tác dụng chèn ép cơ học của bào
thai kỳ cuối làm thay đổi tuần hoàn vùng xoang chậu nên gây hiện tượng phù thũng
ở hai chân sau. Mặt khác số lần đại tiểu tiện của gia súc mẹ tăng lên nhưng số lượng
mỗi lần ít.
* Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục
Khi gia súc có thai, hai buồng trứng to nhỏ không đều nhau. Buồng trứng
phía sừng tử cung có thai thường lớn hơn buồng trứng bên kia. Trên mặt ngoài
buồng trứng xuất hiện thể vàng.
Với tử cung, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi về cấu tạo, tính chất,
vị trí, khối lượng, thể tích,…dây chằng tử cung dài ra nên đầu mút sừng tử cung và
buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới, xa vị trí cũ. Hệ tuần hoàn ở cơ
quan sinh dục được tăng cường, lượng máu đến cung cấp cho niêm mạc tử cung rất
nhiều nên niêm mạc được phát triển và dày lên. Các tuyến tử cung cũng được phát
triển mạnh mạnh và tăng cường tiết niêm dịch. Niêm mạc tử cung hình thành nhau
mẹ. Nghiên cứu của tác giả Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7] cho thấy, ở lợn mức độ
phát triển và tăng sinh của tử cung phụ thuộc vào số lượng của bào thai và thường là
phát triển ở cả hai sừng. Cuối thời kỳ có thai, khối lượng tử cung (không kể thai)


15
nặng tới 2,5 – 6kg, còn tử cung bình thường không có thai nặng 0,2 – 0,5kg, khi có
thai tử cung lợn mẹ nặng tới 3 – 4kg.
* Những thay đổi hormone sinh dục
Bào thai được phát triển bình thường dưới tác dụng điều hòa của các
hormone buồng trứng, nhau thai và tuyến yên. Nửa thời kỳ đầu có thai nhau thai
được hình thành và phát triển, tiết ra prolan B. Chất này có tính chất giống như LH
của thùy trước tuyến yên. Nó kích thích thể vàng phát triển và tăng tiết progesteron,
làm cho niêm mạc tử cung phát triển và dày thêm. Nhau thai ngoài việc tiết ra
prolan B, còn tiết ra progesteron và folliculin. Nửa thời kỳ sau có thai hàm lượng
progesteron giảm dần trong máu. Ngược lại, follicilin tăng dần đến mức tối đa.

Khi đẻ gia súc mẹ phải dùng sức đẩy thai cùng với các khí quan trong đường
sinh dục để đưa thai ra ngoài. Sức rặn căn bản là do sự co bóp của tử cung, sự co
bóp này bắt đầu từ sừng tử cung đến thân tử cung, đến cổ tử cung, kết quả làm mở
rộng cổ tử cung.
Nhưng chỉ nhờ vào sức co bóp của tử cung thì không đủ đẩy thai ra ngoài mà
phải nhờ vào sự co bóp của cơ ở bụng, hoành cách mô và toàn thân. Đó mới là
“rặn” đẻ, mặt khác còn dựa vào sự co bóp của cơ âm đạo, chậu hông, sức. Khi có
triệu chứng đẻ thì tử cung bắt đầu co bóp, ban đầu yếu sau mạnh dần.
Quá trình sinh đẻ
Quá trình sinh đẻ của gia súc cái do sự co bóp của tử cung, cơ thành bụng,
sức rặn toàn thân, thai, màng nhau thai cùng với nước thai được tống ra ngoài. Quá
trình sinh đẻ được chia ra làm 3 thời kỳ:
* Thời kỳ mở cổ tử cung
Thời kỳ này bắt đầu từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử cung
mở ra hoàn toàn. Tùy từng giống mà biểu hiện bên ngoài không giống nhau. Ở lợn
thường hay đứng nằm không yên, đi đi lại lại trong chuồng và có triệu chứng cắn ổ.
Động lực thúc đẩy cho quá trình sinh đẻ là sự co bóp của cơ quan sinh dục
được tiến hành từ mút sừng tử cung đến thân tử cung, đến cổ tử cung và đến âm
đạo, thời gian co bóp có những khoảng cách nên gọi là những cơn rặn.


17
Con vật xuất hiện cơn rặn đầu tiên trong thời kỳ 1 nhưng nói chung cơn rặn
này yếu về cường độ, thời gian cơn rặn ngắn, thời gian nghỉ giữa hai cơn rặn lại dài
từ 20 – 30 phút, mỗi cơn rặn thường từ 2 – 3 giây. Nếu con mẹ rặn liên tục thì mạch
máu của bào thai chèn ép, tuần hoàn đình trệ, dưỡng khí cung cấp cho thai thiếu,
thai ra chậm có thể bị ngạt.
Cường độ co bóp chuyển từ sừng tử cung xuống thân tử cung, đến cổ tử cung
ra ngoài âm đạo. Nước ở trong tử cung và màng thai dồn ép ra ngoài, cổ tử cung lúc
này đã mở, màng thai đã một phần lọt ra ngoài. Cùng với sức co bóp của tử cung

bóp từ 1,5 – 2 phút, thời gian giữa hai lần co bóp là 2 phút, nhưng cường độ lúc này
yếu hơn.
Sau khi sổ thai khoảng 2 – 3h tử cung co nhỏ lại, thành tử cung dày, trên bề
mặt có nhiều nếp nhăn, bên trong tử cung có nhiều núm nhau. Cơn rặn lúc này của
gia súc cái chủ yếu là đưa nhau thai ra ngoài.
Trong thời gian này tuần hoàn của núm nhau mẹ và núm nhau con đã giảm
nên nhau thai có thể tách ra được. Các nhung mao teo lại, tách núm nhau mẹ ra
khỏi nhau thai. Trong thời gian này tử cung tiếp tục co bóp và thu nhỏ lại dần thể
tích, nhưng màng niệu và màng nhung mao thì không co lại được nên tử cung
đẩy ra ngoài.
Trong quá trình đẩy màng nhau thai ra ngoài, do đặc tính của tử cung co bóp
từ mút sừng tử cung tới thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ được lộn trái,
phần ở mút sừng tử cung ra trước, sau đó bong dần xuống sừng tử cung, thân tử
cung và ra ngoài.
Thời gian bong nhau thai của gia súc có khác nhau do đặc điểm cấu tạo của
núm nhau con và núm nhau mẹ trên niêm mạc tử cung.
Lợn nái đẻ sau khi thai ra hết toàn bộ, khoảng 10 – 50 phút nhau thai mới ra.
Nhau thai của lợn ra chia thành hai đống, mỗi đống gồm nhau thai của tất cả các
thai chứa trong một sừng tử cung (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [7].
Trong sừng tử cung lợn có ít thai thì nhau thai không dính lại như vậy, mà ra từng
cái một, thai sau có thể đẩy nhau thai của thai trước ra. Nếu trong sừng tử cung lợn có
xen kẽ nhiều thai bình thường và thai bị chết khô thì nhau thai cũng ra thành nhiều đống.
Thường những thai chết khô trong sừng tử cung sẽ ra cùng với nhau thai.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status