Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản tại Công ty cổ phần Phát triển Bình Minh, xã Phù Lưu Tế Mỹ Đức Hà Nội và thử nghiệm hai phác đồ điều trị bệnh - Pdf 35

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÈNG VĂN HỮU
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN BÌNH MINH, XÃ PHÙ LƢU TẾ
MỸ ĐỨC - HÀ NỘI VÀ THỬ NGHIỆM HAI PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Sƣ phạm kỹ thuật nông nghiệp
Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khoá học: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015


ii

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÈNG VĂN HỮU
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN BÌNH MINH, XÃ PHÙ LƢU TẾ
MỸ ĐỨC - HÀ NỘI VÀ THỬ NGHIỆM HAI PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH

khỏe, hạnh phúc, thành công trong cuộc sống cũng như trong công việc.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 03 tháng 06 năm 2015
Sinh viên

Lèng Văn Hữu


ii

DANH MỤC NHŨNG TỪ VIẾT TẮT
CS

: Cộng sự

LMLM

: Lở mồm long móng

NXB

: Nhà xuất bản

TT

: Thể trọng

VTM

: Vitamin

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................ 3
2.1.1. Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái ...................................... 3
2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái .................................................. 5
2.1.3. Bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản (Metritis).................................. 9
2.1.4. Một số vi khuẩn thường gặp trong dịch tiết đường sinh dục của lợn 17
2.1.5. Hiện tượng kháng thuốc ở vi khuẩn ................................................... 23
2.1.6. Hiểu biết về một số loại thuốc sử dụng trong viêm tử cung ở lợn ..... 24
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................... 26
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ....................................................... 26
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ..................................................... 28
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.. 30
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 30
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................ 30
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 30
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................. 30
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi ........................................................................... 30
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 30
Phần 4: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC.................................................................. 34


v

4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ........................................................ 34
4.1.1. Công tác phòng bệnh .......................................................................... 34
4.1.2. Công tác trị bệnh ................................................................................ 35
4.1.3. Công tác khác ..................................................................................... 38
4.2. Kết quả nghiên cứu................................................................................ 39
4.2.1. Tình hình bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái qua 3 tháng (tháng 3 đến
tháng 5) ......................................................................................................... 39

thức ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi… thì một trong những yếu tố hết sức
quan trọng cần được đảm bảo là phải có đàn giống tốt. Điều này phụ thuộc rất
lớn vào năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại.
Tuy nhiên một trong những bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản của
đàn lợn nái là các bệnh về sinh sản đặc biệt là bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ
cao. Bệnh này không những làm ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản
của lợn mẹ mà còn là một trong những nguyên nhân làm tăng cao tỷ lệ mắc
bệnh tiêu chảy ở đàn lợn con đang trong thời gian theo mẹ, do đó chất lượng
của đàn giống bị ảnh hưởng. Nếu không điều trị kịp thời có thể kế phát viêm
vú, mất sữa, nặng có thể dẫn tới rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm
phúc mạc…và có thể chết.
Vậy để khắc phục hậu quả do bệnh viêm tử cung gây ra trên đàn lợn nái
sinh sản nuôi tại Công ty cổ phần Phát triển Bình Minh, xã Phù lưu Tế - Mỹ Đức
- Hà Nội chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Tình hình mắc bệnh viêm tử
cung ở đàn lợn nái sinh sản tại Công ty cổ phần Phát triển Bình Minh, xã
Phù Lưu Tế - Mỹ Đức - Hà Nội và thử nghiệm hai phác đồ điều trị bệnh’’


2

1.2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái.
- Thử nghiệm và đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh.
- Xác định hiệu lực và độ an toàn của hai phác đồ điều trị.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
- Đánh giá được sự ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng
sinh sản của lợn mẹ.

mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết. Trên buồng trứng
có từ 70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là
những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào
thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng.
* Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống dẫn trứng (vòi Fallop) được treo bởi màng trao ống dẫn trứng, đó
là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng. Căn cứ
vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:


4

+ Tua điểm: Có hình giống như tua liềm.
+ Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng.
+ Phồng ống dẫn trứng: Đoạn ống giãn rộng ra xa tâm.
+ Eo: Đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung.
* Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và
niệu đạo trong xoang chậu, hai sừng tử cung ở phía trước xoang chậu. Tử
cung được giữ lại tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ
bởi các dây chằng. Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng
thông với một thân và cổ tử cung: Sừng tử cung dài 50 - 100cm, hình ruột
non, thông với ống dẫn trứng. Thân tử cung dài 3 - 5cm. Cổ tử cung dài 10 18cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều cài răng lược,
thông với âm đạo. Vách tử cung gồm 3 lớp được cấu tạo từ ngoài vào trong:
lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc.
* Âm đạo (Vagina)
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và Đặng Đình Tín (1986) [16] cho rằng:
âm đạo lợn có chiều dài 10 -12cm. Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu
trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có
nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh. Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan

Các giống lợn khác nhau có độ tuổi thành thục về tính khác nhau.
Theo Phạm Hữu Danh (1985) [2] cho rằng: Các giống lợn nội có tuổi
thành thục về tính vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi). Trong khi đó
tuổi động dục ở lợn ngoại là từ 6 - 8 tháng tuổi, ở lợn lai F1 (nội x ngoại)
thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi.
- Điều kiện nuôi dưỡng quản lý
Chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý tốt thì gia súc sẽ sớm thành thục về
tính và ngược lại.


6

- Điều kiện ngoại cảnh
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái
hậu bị. Theo một số tác giả nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2
lần/ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn cái (trên 90kg) động dục ở 165
ngày tuổi. Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường
sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc. Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát
triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ
sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt khối lượng nhất định tùy theo giống.
* Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
- Chu kỳ tính
Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn
ra liên tục và có tính chu kỳ. Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn
dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf. Khi nang
Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng. Mỗi lần trứng rụng con cái có
những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục. Do trứng rụng có tính chất chu
kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ. Một chu kỳ tính của lợn giao động trong
khoảng từ 18 - 22 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước động dục

- 48 giờ. Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực.
Đối với lợn nái ngoại, lợn lai thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện
tượng chịu đực 6 - 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ tư
kể từ khi bắt đầu động dục. Đối với lợn nái nội nên phối giống vào cuối ngày thứ
2 và sáng ngày thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn, cần cho phối 2 lần (phối
lặp) ở giai đoạn chịu đực hay “chặn đầu khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng.
* Qúa trình mang thai và đẻ
Thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử hay nói
cụ thể hơn là quá trình đồng hóa giữa trứng và tinh trùng. Đó là sự tái tổ hợp


8

gen giữa hai nguồn gen khác nhau (Nguyễn Xuân Tịnh , 1996) [20] đến lúc
đẻ. Thời gian lợn mang thai trung bình là 114 ngày (113 - 115 ngày). Khi
mang thai thì thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố Progesterol ức chế sự phát
triển của bào noãn. Do đó con vật có chửa sẽ không động dục.
- Giai đoạn tiết sữa và nuôi con: Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là một
chỉ tiêu nói lên đặc điểm của giống. Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa
khác nhau, sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích
thích của bầu vú gây ra, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và
chuyển dần từ trước ra sau. Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết
sữa, khi lợn con thúc bú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não
lại truyền xuống vùng Hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào
tuyến yên, tuyến yên tiết ra kích tố Oxytocin, kích tố Oxytocin tác động đến
tuyến bào kích thích làm cho lợn nái tiết sữa, vú trước tiết sữa nhiều hơn nên
cố định đầu vú cho lợn sơ sinh có khối lượng thấp. Trong chu kỳ tiết sữa, lợn
con bú vú sau được 32 - 39 kg thì bú vú trước cho 35 - 49 kg vì Oxytocin theo
máu đến tuyến vú đến phía trước nhiều hơn, kéo dài hơn nên vú trước nhiều
sữa hơn (Trương Lăng, 1996) [12].

Do lứa trước bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến dạng nên
nhau không ra hết hoàn toàn gây sót nhau, thối rữa, tạo điều kiện cho vi
khuẩn phát triển mạnh.
Nái ngoại nhập dễ bị mắc do chưa thích nghi với điều kiện môi trường
và khả năng sinh sản nhiều con/1 lứa.
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [17], thì lợn nái sinh sản tất cả đều
mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở
chất dịch tích tụ lại tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập từ bên ngoài vào
phát triển.
Do lợn đực nhảy trực tiếp mà niệu quản và dương vật bị viêm truyền
sang cho lợn nái.


10

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11], thì viêm tử cung còn do dụng cụ
thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát và tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo tử
cung. Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa
các vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục lợn cái. Chuồng trại và
môi trường sống của lợn nái bị ô nhiễm.
Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2004) [5], thì viêm tử cung
âm đạo chủ yếu do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết
(Streptococcus hemolitica) và các loại vi khuẩn Proteus vulgaris, Klebsiella,
E.coli dung huyết gây ra. Ngoài ra còn do trùng roi (Trichomonas fortus) và
nấm (Candida albicans).
+ Ngoài những nguyên nhân kể trên bệnh viêm tử cung còn do biến
chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian
động đực (lúc cổ tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật.
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [13], do trong quá
trình có thai lợn nái ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc nhiễm một số

tìm ra biện pháp phòng và điều trị bệnh hiệu quả mang lại hiệu quả kinh tế
trong chăn nuôi lợn sinh sản.
* Triệu chứng: Các triệu chứng lâm sàng chung khi lợn nái bị bệnh
sau khi đẻ 1-7 ngày lợn ăn ít, sốt cao 40-410C sốt theo quy luật lên xuống
(buổi sáng sốt nhẹ 39-39,50C, buổi chiều sốt cao 40-410C) có dịch âm hộ
chảy ra màu trắng đục, hôi tanh.
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và Đặng Đình Tín (1986) [16] thì viêm tử
cung ở lợn nái được chia thành các thể sau:
- Viêm nội mặc tử cung: Là viêm nội mạc tử cung thể cấp tính có mủ.
Khi niêm mạc tử cung và âm đạo bị tổn thương, bị xây sát và bị nhiễm khuẩn
thì gia súc có một số biểu hiện triệu chứng chủ yếu: Thân nhiệt hơi cao, ăn
uống giảm, lượng sữa giảm, con vật có biểu hiện đau đớn nhẹ, dôi khi cong
lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh. Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch,
niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết. Khi con


12

vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài nhiều hơn. Xung quanh âm môn, gốc đuôi,
hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vảy
khô, màu trắng xám. Kiểm tra qua âm đạo niêm dịch và dịch viêm thải ra
ngoài nhiều. Cổ tử cung hơi mở có mủ chảy qua cổ tử cung, niêm mạc âm đạo
bình thường.
- Viêm cơ tử cung: Thường gặp là viêm nội mạc tử cung thể màng giả.
Ở thể viêm này niêm mạc tử cung thường bị hoại tử, những vết thương đã ăn
sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử. Trường hợp này xuất
hiện triệu chứng toàn thân rõ. Thân nhiệt cao ăn uống và lượng sữa giảm, có
khi mất sữa hoàn toàn, kế phát viêm vú. Con vật thể hiện trạng thái đau đớn
luôn rặn lưng và cong đuôi lên, từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch:
Dịch viêm, máu, mủ và lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử và niêm dịch,

Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và các tổ chức hoại tử, có
mùi thối khắm. Thể viêm này thường dẫn đến kế phát viêm phúc mạc, bại
huyết, huyết nhiễm mủ. Nếu không kịp thời điều trị dẫn đến mất khả năng
sinh đẻ lần sau.
* Chẩn đoán viêm tử cung
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ
ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái. Nếu sức khỏe nái
giảm sút, bệnh không được can thiệp sớm, vi trùng có thể vào máu đến tuyến
vú gây viêm toàn bộ tuyến vú hoặc gây nhiễm trùng máu tạo nên thể điển
hình của hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (M.M.A). Để hạn chế tối
thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể
viêm từ đó đưa ra phác đồ điều trị có hiệu quả cao nhất, thời gian điều trị
ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất. Để chẩn đoán người ta dựa vào những
triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân. Có
thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng sau:


14

Bảng 2.1. Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung
Viêm nội mạc tử
cung

Viêm cơ tử
cung

Sốt nhẹ

Sốt cao


Dịch
viêm

Viêm tƣơng
mạc tử cung

3

Phản ứng đau

Đau nhẹ

Đau rõ

Rất đau

4

Phản ứng co
cơ tử cung

Phản ứng co giảm

Phản ứng co
rất yếu

Phản ứng co
mất hẳn

5

sinh sạch sẽ.
- Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ thụ tinh đúng quy định và không để
nhiễm khuẩn.
- Không sử dụng lợn đực bị bệnh đường sinh dục để nhảy trực tiếp
hoặc lấy tinh.
- Sau khi đẻ xong nhau ra hết phải thụt rửa tử cung bằng nước đun sôi
để nguội pha thuốc sát trùng Bioxit 0,1% sau đó bơm kháng sinh vào.
- Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis…bằng cách
dùng vắcxin đúng quy trình, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản, tránh những
trường hợp bị sốt đột ngột gây sảy thai.
* Điều trị
Nguyên tắc chung trong việc điều trị bệnh: Bệnh do vi khuẩn gây ra
nên việc đầu tiên trong quá trình điều trị bệnh là phải tiêu diệt sớm và kịp thời
tránh sự lây lan của vi khuẩn. Để có hiệu quả cao, điều quan trong nhất là
phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh, sự mẫn cảm của chúng với
kháng sinh và hóa dược trong điều trị.
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và Đặng Đình Tín (1986) [16], hạn chế quá
trình viêm lan rộng, kích thích tử cung co bóp thải hết dịch viêm mủ ra ngoài
và để phòng hiện tượng nhiễm trùng cho cơ thể.
Để thải hết dịch viêm, mủ, niêm dịch và các chất bẩn trong tử cung ra
ngoài, thụt rửa tử cung bằng các loại thuốc sát trùng: Dung dịch Rivanol
0,1%, Acid boric 3%, thuốc tím 0,1%...


16

Trường hợp bệnh nặng, đồng thời với điều trị cục bộ người ta có thể điề
trị toàn thân như: Sau khi thụt rửa xong người ta có thể tiêm bằng các loại
kháng sinh cho con vật kết hợp với việc chăm sóc, nuôi dưỡng vệ sinh tốt.
Theo Lê Văn Năm (1997) [14], điều trị viêm tử cung cần đạt 2 mục đích

thể dùng 50g tỏi ta bóc vỏ, rửa sạch, giã nhuyễn cho vào 500ml nước đun sôi
để nguội, khuấy đều, lọc ra lấy nước bơm vào tử cung, âm đạo 1 lần/ngày,
dùng liên tục tử 3 đến 5 ngày.
Bài 3:
Vỏ rễ cây dâm bụt rửa sạch tráng qua nước muối loãng cho thêm nước
đun sôi rồi chắt lấy nước để rửa tử cung, âm đạo cho lợn, sau khi thụt rửa tiến
hành lau khô, sạch, mỗi ngày nên rửa 2 lần.
2.1.4. Một số vi khuẩn thường gặp trong dịch tiết đường sinh dục của lợn
Trong dịch tiết đường sinh dục của lợn cả trong điều kiện sinh lý và
bệnh lý luôn có hệ vi sinh vật cư trú. Số lượng và chủng loại các loài vi khuẩn
không ổn định mà thường xuyên thay đổi theo mức độ vệ sinh, theo mùa và
theo từng cá thể khác nhau.
Theo Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [4] cho biết: viêm tử cung, âm
đạo ở lợn chủ yếu do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus, liên cầu dung huyết
(Streptococcus hemolitica) và các loại vi khuẩn: E.coli, Proteus, Krebsiella…
gây ra từ các mẫu sữa, dịch âm đạo của lợn nái mắc hội chứng M.M.A
Theo Lê Minh Chí và Nguyễn Thị Pho (1985) [1] thì: Tại khu vực TP
Hồ Chí Minh cácl oại vi trùng như: E.coli, Staphylococcus aureus,
Streptococcus spp, Proteus mirabilis và Pseudomonas là nguyên nhân gây lên
bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái và chúng là những vi khuẩn cơ hội thường
xuyên có mặt trong chuồng trại, lợi dụng khi lợn sinh sản cổ tử cung mở chứa
nhiều sản dịch, bị xây sát chúng sẽ xâm nhập và tấn công hệ thống niêm mạc
sinh dục và gây lên các hiện tượng nhiễm trùng.


18

• Nhóm vi khuẩn cố định
* Staphylococcus (Tụ cầu khuẩn)
- Đặc điểm hình thái và tính chất bắt màu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status