LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian dài phấn đấu, học tập và rèn luyện tại trường Lương
Thế Vinh và thực tập tốt nghiệp tại trang trại Đồng Tâm Xanh – Xã Đồng
Tâm – Huyện Mỹ Đức – Hà Nội. Được sự dạy dỗ, chỉ bảo tận tình của các
thầy cô giáo, nhất là các thầy cô trong Khoa KTNN cùng các bác, cô, chú và
các anh chị trong trang trại đã giúp tôi tích lũy được những kiến thức cơ bản
trong nghề nghiệp cũng như đạo đức, tư cách của người cán bộ khoa học kỹ
thuật. Đến nay, tôi đã hoàn thành báo cáo tốt nghiệp. Nhân dịp này, tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Ban Giám hiệu nhà trường, Khoa KTNN cùng toàn thể các thầy cô
giáo trường Đại học Lương Thế Vinh .
- Đặc biệt là: Thầy TS. Nguyễn Bá Tiếp, Bộ môn Tổ chức giải phẫu -
Khoa Thú y - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
- BSTY. Bùi Đình Trận, Khoa KTNN - Trường ĐH Lương Thế Vinh.
Ban lãnh đạo trang trại Đồng Tâm Xanh – Xã Đồng Tâm – Huyện Mỹ Đức –
Hà Nội.
- Cùng toàn thể các bác, cô, chú và anh chị trong trang trại Đồng Tâm
Xanh – Xã Đồng Tâm – Huyện Mỹ Đức – Hà Nội.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn bên cạnh động viên và
ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Nam Định, ngày 30 tháng 11 năm 2011
SINH VIÊN
Hoàng Thị Hoa
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Trong những năm gần đây nhu cầu về thực phẩm không ngừng tăng cao
đặc biệt là nhu cầu về thịt lợn. Để đáp ứng nhu cầu của thị trường, chăn nuôi
lợn đã và đang được đầu tư và phát triển mạnh.
Để năng suất chăn nuôi được nâng cao người chăn nuôi đã ứng dụng
− Thử nghiệm một số phác đồ phòng và trị bệnh viêm tử cung trên đàn
lợn nái và bệnh tiêu chảy trên đàn lợn con.
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ BỆNH VIÊM TỬ
CUNG VÀ BỆNH TIÊU CHẢY Ở LỢN CON.
2.1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIÊM TỬ CUNG.
3
2.1.1. Nguyên nhân bệnh.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002), viêm tử cung là một quá bệnh lý
thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm phá hủy các tế
bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc
cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo tác giả Đào Trọng Đạt và cs (2000), bệnh viêm tử cung ở lợn nái
thường do các nguyên nhân sau: (1) công tác phối giống không đúng kĩ thuật,
nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc
tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể vi
khuẩn từ ngoài vào trong tử cung lợn nái gây viêm; (2) lợn nái phối giống
trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ
những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn
khỏe; (3) lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm
mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát; (4)
lợn nái sau khi đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung;
(5) do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó
thương hàn, bệnh lao gây viêm và (6) do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ
phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ trong thời gian đẻ cổ tử
cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm .
Ngoài các nguyên nhân kể trên, viêm tử cung còn có thể là biến
chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian
động đực (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo
đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung
(Lê Văn Năm và cs, 1997).
tử, tổn thương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và trở thành viêm hoại
tử .
• Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ (Endomestritis
Puerperalis). Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm.
Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không
yên tĩnh. Từ âm hộ chảy ra hỗn dịch, niêm mạc lẫn với dịch viêm, mủ, lợn
5
cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm xuống, dịch viêm thải ra
ngày càng nhiều hơn. Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính
nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vảy màu trắng xám. Kiểm
tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều. Cổ tử cung hơi mở và
có mủ chảy qua cổ tử cung, niêm mạc âm đạo bình thường.
• Viêm nội mạc tử cung thể màng giả
Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thương bị hoại tử. Những vết
thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử. Lợn nái
mắc bệnh này thường xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao,
lượng sữa giảm có khi mất sữa hoàn toàn, kế phát viêm vú, ăn uống giảm.
Con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên. Từ cơ quan sinh dục luôn
thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại
tử, niêm dịch
2.1.3.2. Viêm cơ tử cung (Myomestritis Pureperalis).
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000), viêm cơ tử cung
thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả, niêm mạc tử cung bị
thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm
niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba
quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử. Nếu
bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn đến nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm
trùng hoặc huyết nhiễm mủ. Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung
bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to.
Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân
7
2.2. SƠ LƯỢC VỀ BỆNH TIÊU CHẢY LỢN CON.
2.2.1. Khái niệm tiêu chảy.
Tiêu chảy là triệu chứng lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ở đường
tiêu chảy. Hiện tượng lâm sàng này tùy theo đặc điểm, tính chất, độ tuổi mắc
bệnh, tùy theo yếu tố nào được xem là yếu tố chính và nó được gọi với những
tên khác nhau: Bệnh phân trắng lợn con, hội chứng khó tiêu, tiêu chảy sau cai
sữa, hội chứng rối loạn tiêu hóa Tiêu chảy là triệu chứng thường gặp ở
nhiều bệnh kí sinh trùng, bệnh do virut , bệnh do vi khuẩn
Bệnh phân trắng lợn con là một trong những bệnh khá phổ biến ở lợn con
từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (lợn con theo mẹ ), tỷ lệ cao nhất có thể chiếm
100% (Đào Trọng Đạt, 1996 ), các hộ chăn nuôi cũng có tỷ lệ mắc từ 34,4 –
66% (Tạ Thị Vịnh, 1996). Giai đoạn này tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn các giai
đoạn khác.
Theo Đào Trọng Đạt và cộng sự (1996) đều cho rằng: Bệnh xảy ra quanh
năm, đặc biệt là vào vụ đông xuân khi thời tiết thay đổi đột ngột và vào những
giai đoạn chuyển mùa trong năm. Vào những tháng mưa nhiều thì số lợn con
mắc bệnh tăng lên rõ rệt, có khi tới 90 – 100 % toàn đàn.
Ở các trại nuôi tập trung bệnh xảy ra nhiều. Nếu lợn con mắc bệnh ngay
từ những ngày đầu mới sinh thì tỷ lệ chết thường là 25 – 50 %, có khi lên đến
100% số con bị bệnh. Lợn con sau khi khỏi bệnh thì còi cọc, tốc độ sinh
trưởng và phát dục thường chậm hơn so với những lợn khoẻ mạnh từ 26 –
40% (Đào Trọng Đạt, 1996) và rất dễ nhiễm các bệnh khác.
Mặc dù đã có nhiều vấn đề xung quanh bệnh phân trắng lợn con đang
được làm sáng tỏ, xong những bàn luận xung quanh nó vẫn chưa được chấm
dứt. Nguyên nhân, cơ chế sinh bệnh, biện pháp phòng trị bệnh vẫn được
nghiên cứu để đưa ra phác đồ phòng và trị bệnh hữu hiệu nhất để hạn chế
những thiệt hại do bệnh gây ra.
8
2.2.2. Nguyên nhân.
Khi còn nằm trong bụng mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai do thân
nhiệt của cơ thể mẹ quy định. Sau khi sinh ra cơ thể lợn con chưa bù đắp được
lượng nhiệt mất đi do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Lúc này, các yếu
tố bất lợi của ngoại cảnh như nóng, lạnh, mưa gió, ẩm ướt, thời tiết thay đổi
đột ngột sẽ tác động đến sức đề kháng của cơ thể, lập tức con vật biến đổi
theo, tạo điều kiện cho bệnh phát sinh và phát triển. Trong những yếu tố về
khí hậu thì nhiệt độ và độ ẩm là quan trọng nhất. Nhiệt độ từ 28 – 30
o
C, độ
ẩm từ 75 – 80% là thích hợp cho lợn con nhất. Vì vậy, những tháng giao mùa,
những tháng mưa nhiều, độ ẩm cao từ 86 – 90%, nhiệt độ thay đổi thất thường
thì lợn con ở những nơi ẩm ướt, thoáng gió có sự thải nhiệt bằng truyền nhiệt,
khuyếch tán nhiệt càng mạnh, con vật mất càng nhiều nhiệt, làm cho cơ thể bị
nhiễm lạnh, gây rối loạn tiêu hoá, dẫn đến bệnh phân trắng lợn con, có khi tỷ
lệ bệnh phân trắng lợn con trong đàn là 90 – 100% (Đào Trọng Đạt và cộng
sự, 1996 ).
Nhiều tác giả cho rằng, nguyên nhân của bệnh phân trắng lợn con được
xem như không đặc hiệu và mang tính tổng hợp, trong đó các yếu tố lạnh ẩm
được đánh giá là yếu tố hàng đầu của bệnh. Khi môi trường ngoài ẩm làm hệ
thống điều hoà nhiệt bị rối loạn, dẫn đến làm rối loạn trao đổi chất của các cơ
quan, các mô bào và các tế bào của cơ thể làm cho sức đề kháng của cơ thể
giảm sút, tạo điều kiện cho virus, vi khuẩn có sẵn trong đường ruột hay từ
ngoài vào có cơ hội phát triển tăng nhanh về số lượng và tăng cường độc lực
gây bệnh.
10
Bệnh phân trắng lợn con có liên quan đến trạng thái stress. Trong đó
stress lạnh ẩm làm cho lợn con không giữ được mối cân bằng hoạt động của
hệ thống: Hạ khâu não - tuyến yên – tuyến thượng thận làm biên đổi hàm
lượng Fe
2+
bị tiêu chảy năm 1885, ( Nguyễn Vĩnh Phước, 1970).
Khi nghiên cứu về cơ chế sinh bệnh do E.coli gây ra thường chú ý đến
độc tố đường ruột của E.coli và được chia làm hai lớp độc tố đường ruột chủ
yếu là độc tố chịu nhiệt ST (heat – stable – toxin) chia làm hai nhóm STa,
STb và độc tố không chịu nhiệt LT (heat – labile – toxin) gồm hai tiểu phần A
và B trong đó tiểu phần B gồm 5 phần nhỏ có khả năng bám dính trên bề mặt
tế bào biểu mô ruột và tiểu phần A có hoạt tính sinh học cao.
Nhiều nghiên cứu còn quan tâm đến yếu tố bám dính, yếu tố gây dung
huyết, khả năng gây xâm nhập của vi khuẩn, khả năng kháng thuốc của
E.coli. E.coli bám dính được vào các tế bào biểu mồ ruột nhờ các yếu tố bám
dính ở bề mặt vi khuẩn như F
4
(K
88
), K
5
(K
99
), F
6
(K
987p
) và F
41
, F
71
, F
18
hoặc
một số yếu tố bám dính khác mà cho đến nay cấu trúc của chúng vẫn chưa
khác, E.coli thường xuyên có mặt trong đường tiêu hoá với số lượng lớn, bình
thường chúng ít có khả năng gây bệnh nhưng khi các điều kiện nuôi dưỡng,
khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y kém đều làm cho sức chống đỡ bệnh tật của
con vật yếu thi E.coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh ( Nguyễn
Như Thanh và cộng sự, 1997).
Bệnh phân trắng lợn con tiêu chảy dưới 30 ngày tuổi ở các cơ sở chăn
nuôi lợn sinh sản đã phân lập được 75 chủng E.coli thuộc 13 serotyp kháng
nguyên là: O
11
, O
86
, O
26
, O
149
, O
1
, O
55
, O
142
,
Đào Trọng Đạt và cộng sự (1996) đã xác định được số lượng E.coli ở
lợn bệnh lớn hơn lợn khoẻ. Theo tác giả, E.coli là nguyên nhân gây bệnh giữ
vai trò thứ phát.
Với những lợn khỏe mạnh, E.coli chỉ cư trú ở ruột già và phần cuối của
ruột non. Vi khuẩn sinh axit lactic có ngay từ khi cơ thể mới sinh ra, chúng
phát triển và tăng về số lượng khống chế sự phát triển của E.coli và vi khuẩn
gây thối, đồng thời ngăn chặn sự phát triển của các bệnh khác. Ngược lại, các
loại vi khuẩn sinh axit phát triển kém làm giảm số lượng và phá vỡ cân bằng
gây hại.
Nếu lợn mẹ không được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng thì bào
thai phát triển không bình thường hay phát triển kém. Khi đó lợn con sinh ra
sẽ yếu, dễ bị mắc bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá, hô hấp, tuần hoàn.
Lợn con sau khi sinh không ngừng sử dụng protein để xây dựng các mô
bào mới trong quá trình phát triển, đồng thời khôi phục và tu bổ lại các mô
bào cũ. Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng chủ yếu và đầu tiên mà lợn con tiếp xúc.
Vì vậy, nếu khẩu phần ăn của lợn mẹ không đủ protein, thiếu khoáng đa
14
lượng, vi lượng, dẫn đến làm lợn mẹ thiếu chất dinh dưỡng, kéo theo là số
lượng sữa giảm, chất lượng sữa xấu, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe lợn con.
Mặt khác, ở gian đoạn lợn sơ sinh, lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh
về giải phẫu và sinh lý nên quá trình tiêu hoá và hấp thu kém, điều hoà nhiệt
kém, hệ thống miễn dịch chưa hoạt động, nên việc tạo sữa tốt cho lợn con bú
là rất quan trọng và sự tạo sữa của lợn mẹ ở các giai đoạn khác nhau là khác
nhau, giai đoạn mới sinh từ 1 – 3 ngày đầu có quá trình tiết sữa đầu có hàm
lượng protein rất cao 18 – 19%, protein huyết thanh là 34 – 38% protein tổng
số. Do đó, phải có quá trình tập ăn thích hợp cho lợn con.
So với các lứa tuổi khác thì lợn con có quá trình trao đổi chất và năng
lượng cao. Khi lợn con sinh ra, nguồn năng lượng từ mẹ bị mất đột ngột, thân
nhiệt lợn con giảm nhanh. Thân nhiệt của lợn mới sinh là 38,9 – 39,1
0
C,
nhưng sau 30 phút giảm xuống còn 36,7 – 37,1
0
C. Trong vòng 1 giờ sau khi
sinh, nếu lợn con được bú sữa đầu thì sau 8 – 12 giờ thân nhiệt lợn con sẽ
được ổn định trở lại, còn nếu lợn con không được bú sữa đầu thì sự mất nhiệt
sẽ là nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con.
Trong sữa đầu hàm lượng các vitamin A, D, B
không bổ sung kịp thời chất dinh dưỡng cho gia súc non, thì sẽ gây còi cọc,
chậm lớn, dễ nhiễm bệnh, điển hình trong giai đoạn theo mẹ là bệnh phân
trắng lợn con.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất trong các nguyên nhân gây
bệnh đường tiêu hoá là do thiếu sắt. Khi còn là bào thai lượng thai chưa được
cung cấp đầy đủ. Khi ra ngoài môi trường sống, thì lượng sữa mẹ chỉ cung
cấp được 1/6 Fe mà cơ thể non yêu cầu. Nhiều thực nghiệm đã chứng minh
trong cơ thể sơ sinh phải có 40 – 50mgFe/ngày, nhưng lợn con chỉ nhận được
lượng sắt ít nhất là 1mgFe/ngày thông qua sữa mẹ. Vì vậy, cần bổ sung thêm
lượng sắt ít nhất là 200 – 250mg/con để lợn con tránh thiếu máu. Trong sữa
mẹ không chỉ thiếu Fe mà còn thiếu Coban, vitamin B
12
tham gia vào quá
16
trình tạo máu, tổng hợp và hoạt hoá một số enzim. Do đó, lợn con dễ sinh
bầm huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm, lợn con dễ mắc bệnh ỉa phân
trắng.
2.2.2.5. Do virus.
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vai trò của virus.
Lecce.J.G và cộng sự (1976) , Bolh E.H và cộng sự (1979): Khi nghiên cứu
về hội chứng về hội chứng viêm ruột ỉa chảy ở lợn con đã tìm thấy Rotavirus.
Năm 1990 đã phân lập được Rotavirus trong niêm mạc ruột lợn bệnh
lợn con phân trắng.
2.2.3. Cơ chế sinh bệnh.
Lợn con theo mẹ (dưới 21 ngày tuổi) có sự mâu thuẫn gay gắt giữa quy
luật sinh trưởng và tăng trọng (nhất là giống lợn ngoại và lợn lai) do sự chưa
hoàn thiện của các cơ quan bộ phận trong cơ thể, đặc biệt là bộ máy tiêu hoá,
thần kinh. Lợn con ở những ngày đầu mới sinh hàm lượng HCl tự do trong dạ
dày hầu như không có, dẫn tới khả năng tiêu hoá sữa mẹ của lợn con kém
(Trần Cừ, 1987), làm giảm khả năng phòng bệnh của lợn con. Khi lợn con
phát triển mạnh, làm cho quá trình bệnh càng thêm trầm trọng.
Như vậy, quá trình sinh bệnh của bệnh phân trắng lợn con đã đưa lợn
vào ba trạng thái rối loạn:
− Rối loạn chức năng tiêu hoá – hấp thu.
− Rối loạn cân bằng muối, nước và các chất điện giải.
− Rối loạn cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột.
2.2.4. Triệu chứng - bệnh tích.
2.2.4.1. Triệu chứng.
Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt không tăng, nếu tăng thì sau 2 – 3
ngày là hạ xuống bình thường cũng có con thì thân nhiệt hạ xuống do ỉa chảy
mất nước nhiều. Lợn con mắc bệnh, trong 1 – 2 ngày đầu vẫn bú và chạy nhảy
như thường. Sau đó con vật ít bú sữa hay bỏ bú, gầy tóp nhanh chóng, lông
xù, đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân sau run rẩy và dúm lại, đuôi và
khoeo dính đầy phân. Khi con vật đi ỉa rặn nhiều làm lưng uốn cong, bụng tóp
lại, thể trạng đờ đẫn, nằm nhiều hơn. Có con ỉa chảy mất nước nhiều thì hố
mắt trũng xuống, niêm mạc mắt, mũi, miệng nhợt nhạt, chân lạnh. Thần kinh
co giật từng cơn, cảm giác ở da bị mất. Vật bị bệnh nếu không cứu chữa kịp
thời thì sau 5 – 7 ngày cơ thể quá kiệt sức dẫn đến chết. Nếu gia súc qua khỏi
thì còi cọc chậm lớn.
Ngoài việc chẩn đoán dựa vào các triệu chứng trên thì bệnh còn được
xác định chủ yếu dựa vào trạng thái thay đổi của phân qua các giai đoạn bệnh:
− Giai đoạn đầu kể từ 12 – 24 giờ trước khi bị bệnh lợn con đi ỉa khó
khăn, phân táo vón, đen nhỏ như hạt đỗ đen.
18
− Giai đoạn tiếp theo, phân táo vón chuyển sang sền sệt, màu vàng, sau 2 – 3 ngày
chuyển thành màu vàng trắng hay trắng xám, sau có thể là vàng xanh. Phân
ngày một lỏng hơn, số lần ỉa chảy cũng ngày một nhiều, có khi 15 – 20
lần/ngày, có mùi tanh khắm, trong phân có những hạt sữa chưa tiêu lổn nhổn
như vôi hay có lẫn nhiều bọt khí. Có trường hợp mới mắc bệnh đến ngày thứ
3 phân đã loãng như nước tháo ra tung toé, lúc này lợn mất nước nặng, lợn rơi
Huyện Mỹ Đức – Hà Nội.
− Đàn lợn con được sinh ra từ những lợn mẹ tại trang trại Đồng Tâm Xanh.
20
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
– Khảo sát tình hình chăn nuôi thú y tại cơ sở.
– Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản tại trang trại.
− Một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái mắc bệnh viêm tử cung.
− Tỷ lệ lợn con theo mẹ bị tiêu chảy trên đàn lợn mẹ bị viêm tử cung tại
trang trại Đồng Tâm Xanh.
− Một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn con theo mẹ bị tiêu chảy tại trang trại
Đồng Tâm Xanh.
− Xác định mối liên hệ giữa bệnh viêm tử cung bệnh tiêu chảy lợn con.
− Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn
nái và theo dõi thời gian khỏi bệnh, tỷ lệ khỏi.
− Thử nghiệm điều trị tiêu chảy ở lợn con, kết hợp điều trị bệnh viêm tử
cung ở lợn mẹ.
3.3. NGUYÊN LIỆU.
+ Thuốc sử dụng để điều trị bệnh: Vetrimocin, Oxytocin,
Dexamethason , Nor 100, Ampisure, Bcomplex, nước muối sinh lý do công
ty thuốc thú y Minh Dũng sản xuất.
+ Dụng cụ thú y: kim tiêm, bơm tiêm, pank, kéo, kẹp
+ Sổ ghi chép, sổ theo dõi của trại.
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu.
− Số liệu được thu thập từ sổ sách của chủ trại, cán bộ kỹ thuật bao gồm
các số liệu về thức ăn, chuồng trại và quản lý bệnh dịch.
− Theo dõi và ghi chép trực tiếp.
3.4.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu lâm sàng.
Để xác định một số chỉ tiêu lâm sàng chính như: Thân nhiệt, màu sắc
dịch viêm, mức độ thu nhận thức ăn chúng tôi đã sử dụng những phương
∑
X
i
: Số ngày điều trị khỏi (i = 1, 2, 3, 4)
n
i
: Số con điều trị khỏi bệnh
n: Tổng số con điều trị khỏi
22
- Số trung bình (
Χ
):
Χ
=
n
X
n
i
i
∑
=1
- Độ lệch chuẩn S
x
nếu n < 30 thì
nếu n > 30 thì
Trong đó :
n : dung lượng mẫu
X
i
m
x
= S
x
n
23
điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Trại được xây dựng
trên mặt bằng thuận lợi với quy mô công nghiệp, có các phía tiếp giáp sau:
− Phía Đông giáp với xã Phúc Lâm – Mỹ Đức – Hà Nội.
− Phía Nam giáp với Thượng Lâm - Mỹ Đức - Hà Nội
− Phía Tây giáp với thị trấn Miếu Môn – Chương Mỹ – Hà Nội.
− Phía Bắc giáp với Chương Mỹ – Hà Nội.
Với vị trí địa lý xa khu dân cư, xa trường học, xa chợ, thuận đường giao
thông… thì đây là điều kiện thuận lợi cho công tác phát triển chăn nuôi. Trại
được xây dựng với quy mô nước thải hợp lý, có bể chứa biogas, đảm bảo an
toàn phòng dịch và vệ sinh thú y.
4.1.1. Quy mô trại.
Tổng diện tích đất tự nhiên của trại là 7ha, trong đó:
− Diện tích mặt bằng chuồng nuôi là 6000m
2
gồm:
+ 2 chuồng bầu
+ 4 chuồng đẻ
+ 1 chuồng cách ly
− Diện tích vườn sinh thái là 2ha
− Diện tích khu xử lý chất thải là 3600m
2
− Diện tích ao nuôi cá là 4500m
đực Pietrain, đực Duroc, cái Landrace, cái Yorkishire
Với tính chất chăn nuôi sản xuất lợn con dùng trong chăn nuôi lợn thịt,
cơ cấu đàn lợn của trại được thể hiện qua bảng 4.1.
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn của trang trại từ năm 2008 – 2011.
STT Loại lợn Số lượng
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
T10 năm
2011
25