MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Có thể khẳng định rằng, mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh” đó là khát vọng của mọi người dân Việt Nam. Song, để đạt
được mục tiêu đó đòi hỏi trong xã hội phải luôn có sự đồng thuận, sự thống
nhất cả về nhận thức lẫn hành động. Kiên định, khẳng định chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành
động của Đảng và nhân dân ta, là cơ sở lý luận và phương pháp luận để từ đó
đề ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với nguyện vọng của
nhân dân và quy luật phát triển của lịch sử. Quan điểm về mâu thuẫn của chủ
nghĩa Mác - Lênin giúp chúng ta nhận thức được nguồn gốc và động lực của sự
phát triển, mà điều cốt yếu là nhận thức đúng đắn, phân tích, phản ánh quá trình
đấu tranh, giải quyết mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng tùy vào những điều kiện
cụ thể nhất định.
Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến, Do đó, trong công
cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay tất yếu gặp nhiều mâu thuẫn trong tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội,. Trước những yêu cầu mới của thời đại, nhiệm vụ
đặt ra cho chúng ta là phải nắm bắt và giải quyết tốt những mâu thuẫn nhằm tạo
động lực cho sự phát triển. Bởi những mâu thuẫn đó đang ảnh hưởng không nhỏ
đến sự phát triển chung của đất nước. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các
mặt đối lập là quy luật cơ bản và là hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Việc
nhận thức đúng đắn, khoa học về quy luật này là cơ sở quan trọng để lựa chọn
các phương pháp giải quyết mâu thuẫn một cách có hiệu quả, tạo nền tảng để đến
năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thúc đẩy
sự phát triển của đất nước.
Công nghiệp hóa theo hướng hiện đại mở ra một giai đoạn phát triển mới
với những bước đột phá nhằm chuyển một nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu
1
sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại, góp phần tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tất yếu nảy
thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội, từ
đó xác định những giải pháp nhằm giải quyết có hiệu qủa chúng để đưa đất nước
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Các tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn
trong công trình “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, lý luận và thực
tiễn” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) đã phân tích tính tất yếu, khách
quan của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Các tác giả
nhấn mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt nam là một quá trình
giải quyết những mâu thuẫn không ngừng nảy sinh để vượt qua thách thức và
chớp lấy cơ hội.
“Mâu thuẫn - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS. Nguyễn Tấn
Hùng (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005) làm rõ nội dung cơ bản về mâu
thuẫn, đồng thời chỉ ra một số mâu thuẫn quan trọng và phương pháp giải quyết
mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Đề tài luận văn thạc sĩ có các công trình nghiên cứu như: Nguyễn Thái
Sơn (2002) “Quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết học và sự vận dụng vào công
tác tuyên truyền ở Thừa Thiên Huế”; Nguyễn Thị Hiền (2008) “Lý luận về mâu
thuẫn và sự vận dụng của Đảng Cộng Sản Việt Nam giai đoạn 1930-1945”;
Nguyễn Thị Kim Oanh (2008) “Vấn đề giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng
miền Nam giai đoạn 1954-1975”. Trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử
và chủ nghĩa duy vật biện chứng, các tác giả đã khái quát và vận dụng quy luật
mâu thuẫn để giải quyết một số vấn đề trong thực tiễn xã hội.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí Triết học cũng
liên quan đến đề tài: “Phát triển vì con người trong quan niệm của Mác và sự
3
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu phát triển con người ở
nước ta hiện nay” Đặng Hữu Toàn (Số 1, 2-1997); “Bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Bùi Văn Dũng (Số 3,
hóa, hiện đại hóa ở Quảng Bình, trên cơ sở đó đề ra một số kiến nghị và giải
pháp phù hợp nhằm thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Quảng
Bình hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quan niệm về mâu
thuẫn và giải quyết mâu thuẫn trong triết học Mác - Lênin, vận dụng lý luận để
làm rõ những mâu thuẫn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Quảng
Bình và đưa ra các giải pháp phù hợp.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn; vận dụng để thúc đẩy quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Bình hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận: Thực hiện trên cơ sở các nguyên lý, quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn; các quan điểm của Đảng
cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Phương pháp nghiên cứu trong luận văn là phương pháp biện chứng duy
vật. Trong đó sử dụng các phương pháp chủ yếu như logic - lịch sử, phân tích -
tổng hợp, đối chiếu - so sánh và các phương pháp điều tra thực tế.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn sẽ làm rõ quy luật mâu thuẫn và sự vận dụng trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Bình hiện nay, thông qua đó chỉ rõ
và đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết những mâu thuẫn trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Quảng Bình. Luận văn sẽ làm tài liệu tham khảo cho
những ai quan tâm đến vấn đề này.
5
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng, biểu và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn còn có 2 chương, 6 tiết.
nhất, là cơ sở, điều kiện tồn tại, chuyển hóa lẫn nhau không thể tách rời, nó được
gắn kết với nhau bằng hình thức cái nọ gắn kết trong cái kia nhưng cũng là hai
yếu tố đối lập của cùng một sự vật hiện tượng như: Quân tử - tiểu nhân, mạnh -
yếu, nhiều - ít, thông minh - ngu dốt, sáng - tối, thiện - ác, thịnh - suy, nam -
nữ… “Dương” là phạm trù đối lập với “Âm” và ngược lại. Dù đối lập nhưng
chúng không loại trừ nhau một cách tuyệt đối. Âm – Dương tồn tại, bao trùm
trong bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội. Là phát minh đầu tiên của người
Trung Hoa khi khám phá vũ trụ, nó vừa vô hình, vừa hữu hình, vừa là năng lực
vô tận của vũ trụ và cũng là nền tảng để nuôi sống vạn vật trên trái đất này. Như
vậy Âm - Dương vừa tương khắc, vừa tương sinh. Như nước với lửa, nước dùng
để dập lửa nhưng nước lại phải nhờ lửa để hóa thành hơi, giúp ích cho sự sống
và cho thiên nhiên.
Quan niệm về mâu thuẫn trong học thuyết Âm - Dương còn được thể hiện
sâu sắc trong Kinh Dịch, đó là quyển kinh cổ nhất, gồm 64 quẻ, mỗi quẻ được
cấu tạo bởi sáu hào Âm Dương, các hào Âm Dương được dùng để tượng trưng
cho hai khí căn bản trong vũ trụ. Và đây cũng là một công trình tư tưởng vĩ đại
của nhân dân Trung Hoa đối với lịch sử văn hóa nhân loại, dù còn ở trình độ sơ
khai, chất phác nhưng đã thể hiện được tư tưởng duy vật và biện chứng về tự
nhiên, về con người và xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ.
Trong Kinh Dịch thì bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái cực là nguyên
nhân đầu tiên, là lý của muôn vật: “Dịch có thái cực sinh ra lưỡng nghi, lưỡng
nghi sinh ra tứ tượng, tứ tượng sinh ra bát quái, bát quái sinh ra vạn vật”. Như
vậy, tác giả của Kinh Dịch đã quan niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động.
Trong thái cực, thiếu dương vận động đến thái dương thì trong lòng thái dương
lại nảy sinh thiếu âm, thiếu âm vận động đến thái âm thì trong lòng thái âm lại
nảy sinh thiếu dương. Cứ như thế, Âm Dương biến hoá liên tục, tạo thành vòng
biến hóa không bao giờ ngừng nghỉ. Vì thế, các nhà làm Dịch mới gọi tác phẩm
của mình là Kinh Dịch. Ở Kinh Dịch, Âm Dương được quan niệm là những mặt,
8
quy luật phát triển của giới tự nhiên, là cơ sở để giải quyết một số mâu thuẫn và
vận dụng để giải quyết một số vấn đề trong xã hội.
Sự đối lập giữa Âm và Dương phần nào đã thể hiện những mâu thuẫn cơ
bản trong sự vật, hiện tượng. Sự đối lập đó còn được thể hiện ở chỗ: Dương
thăng mà Âm giáng. Thăng có nghĩa là đi lên, trưởng thành tốt đẹp, giống như
khi ta đốt lửa thì ngọn lửa lúc nào cũng có xu hướng bốc lên cao khỏi mặt đất,
điều này giải thích cho sự tạo thành “Trời”. Giáng là từ trên đi xuống, là yếu đi.
Âm giáng nghĩa là khí âm luôn đi từ trên xuống dưới, như nước thì luôn chảy từ
trên cao xuống thấp, tính chất này thể hiện sự hình thành “Đất”. Hai khí Âm -
Dương gắn kết, hội tụ với nhau như Trời với Đất, tạo ra năng lực nuôi sống con
người và vạn vật.
Cùng với thuyết Âm Dương, thuyết Ngũ Hành cũng là thuyết quan trọng
trong tư tưởng triết học Trung Hoa, sự xuất hiện của thuyết Ngũ Hành đã đánh
dấu bước tiến trong tư duy khoa học của người Trung Hoa. Ngũ Hành thể hiện
khả năng biến đổi, tương tác của sự vật, hiện tượng và dùng để giải thích sự sinh
trưởng của vạn vật trong vũ trụ. Nó thể hiện thông qua tính năng của năm loại
vật chất: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Các yếu tố vật chất đó không ở trạng thái
tĩnh mà động, không phải cô lập với nhau mà lại có quan hệ biện chứng với
nhau, cái này chuyển hóa thành cái kia theo chu trình có tính tuần hoàn hay qua
các quy luật của ngũ hành.
Ngũ hành tương sinh: sinh có nghĩa là tương tác, nuôi dưỡng, giúp đỡ.
Giữa các hành trong ngũ hành đều có quan hệ nuôi dưỡng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn
nhau cùng phát sinh và phát triển. Quan hệ tương sinh của ngũ hành là Thổ sinh
Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ,…đó là chu
trình bất diệt.
Ngoài quan hệ tương sinh còn có quan hệ tương khắc. "Khắc" có nghĩa là
chế ước, ngăn trở, hủy diệt. Quá trình ngũ hành tương khắc là Thổ khắc Thủy,
10
Thủy khắc Hỏa, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ,…đây cũng là
Hoa cổ đại. Ông đã đưa ra nhiều tư tưởng có giá trị, trong đó tư tưởng mâu thuẫn
biện chứng đã đạt đến trình độ sâu sắc và trở thành vấn đề cốt lõi trong phép
biện chứng của ông. Toàn bộ những quan niệm về mâu thuẫn được ông trình bày
khá vẹn toàn trong học thuyết về “Đạo”.
Lão Tử cho rằng, khởi nguyên và động lực của vạn vật trong vũ trụ đó
chính là do sự chi phối của “Đạo”. Đạo không phải là một sự vật hiện hữu cụ
thể, nhưng nó tồn tại trong tất cả mọi sự vật, không bao giờ mất đi, nó là cái
nguyên sơ tự nhiên, mộc mạc, là bản nguyên, sáng tạo ra vạn vật, vạn vật sinh ra
theo trình tự “đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật”, “vạn
vật đều cõng âm mà ôm dương, điều hòa bằng khí trùng hư” [24, tr.13]. Tư
tưởng về phép biện chứng của Lão Tử đã chỉ rõ con đường vận động, biến đổi
của vạn vật trong thế giới khách quan thông qua hai quy luật của “Đạo”, là luật
“quân bình” và luật “phản phục”. Trong Kinh Dịch, luật “phản phục” được
tượng trưng bằng quẻ Phục. Quẻ này gồm năm hào Âm ở trên và một hào Dương
ở dưới. Khi khí âm đã phát triển đến cực điểm thì một hào dương xuất hiện ở
dưới, nghĩa là khí dương bắt đầu sinh trở lại. Do đó mà quẻ có tên là Phục (trở
lại). Luật phản phục dùng để chỉ sự quay trở lại phương hướng cũ sau khi sự
vật, hiện tượng đã phát triển đến cực điểm. Như vậy, muốn cho một vật nào đó
suy tàn thì trước hết hãy làm cho nó hưng thịnh lên đến điểm tận cùng nó sẽ
chuyển sang mặt đối lập tức là suy tàn. Quân bình ở đây là quân bình âm dương,
quân bình đề giữ cho vạn vật cân bằng theo lẽ tự nhiên, không có cái gì thái quá
mà cũng không có cái gì bất cập. Phần lớn tư tưởng của Lão Tử là lấy đạo quân
bình làm căn bản. Luật bình quân và phản phục thể hiện sự mâu thuẫn, phản ánh
khuynh hướng trái ngược trong chính quá trình sinh tồn và phát triển của vũ trụ.
Theo Lão Tử, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều luôn
vận động và biến đổi không ngừng, mỗi sự vật là thể thống nhất giữa hai mặt đối
lập, chúng đối lập nhưng lại liên hệ, ràng buộc, là điều kiện tồn tại của nhau,
12
trong cái này đã có cái kia. Song, Lão Tử mới chỉ thấy được sự gắn bó, xâm
trong vũ trụ, thừa nhận vạn vật trong vũ trụ là sự thống nhất giữa các mặt đối
lập, chúng vừa đứng im vừa vận động, vừa trong trạng thái cân bằng, ổn định,
vừa trong trạng thái không cân bằng, không ổn định, vừa bất biến, lại vừa trong
trạng thái biến đổi không ngừng.
Trong triết học Ấn Độ, triết học Phật giáo được xem là một trong những
trường phái triết học lớn. Triết học Phật giáo thể hiện tính duy vật và biện chứng
sâu sắc, cho rằng, ngay trong nhận thức của con người cũng đã sinh ra những
mâu thuẫn và đây là yếu tố làm cho con người khổ. Trong Phật giáo, con người
và vạn vật vốn là vô ngã. Vô ngã là không có cái tôi bất biến, từ đây triết học
Phật giáo đưa ra nguyên lý về mối liên hệ nhất định: Không có cái nào là biệt lập
tuyệt đối so với tồn tại khác, tất cả đều hòa đồng nhau, vậy nên không có cái gì
là của ta. Vô thường là nói đến sự biến đổi không ngừng của vạn vật, không có
cái gì là đứng im. Nhưng do vô minh nên con người đã nhầm lẫn mà cho rằng nó
là của ta và chúng tồn tại vĩnh viễn. Vì vậy, con người đã cố giành lấy cho riêng
mình. Song, đó chính là những thứ mà con người không thể làm được bởi con
người không thể làm trái quy luật khách quan. Chính điều này đã đưa con người
rơi vào mâu thuẫn, thất vọng, rồi đau khổ.
Trong Phật giáo, thế giới tự nhiên và nhân sinh đều được nhìn nhận theo
quan niệm về quy luật nhân - quả. Quy luật nhân - quả cho rằng, sự tồn tại đa
dạng và phong phú của thế giới đều có nguyên nhân tự thân, đó là quy luật
nhân quả, một định lý tất định và phổ biến dù đó là vũ trụ hay nhân sinh. Như
vậy, triết học Phật giáo cũng đã tìm thấy sự đối lập của các mặt trong sự đồng
nhất, vạch ra được những mâu thuẫn nội tại như giữa ý thức và vô thức, niết
bàn và vô minh.
Tóm lại, triết học Ấn Độ là một trong những cái nôi vĩ đại của nhân loại
thời kì cổ đại. Nó chứa đựng những yếu tố duy vật, vô thần, manh nha hình
thành tư tưởng biện chứng sơ khai. Từ nhiều góc độ khác nhau, triết học Ấn Độ
14
đã đề cập đến mâu thuẫn của sự vật hiện tượng trong vũ trụ. Tuy nhiên, vai trò
nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, hiện tượng trái ngược nhau.
Chính các cuộc đấu tranh đó đã làm cho sự vật, hiện tượng cũ mất đi và thay vào
đó là sự vật, hiện tượng mới. Điều này làm cho sự vật hiện tượng trong vũ trụ
luôn thay đổi và phát triển không ngừng.
Hêraclit cho rằng, đấu tranh giữa các mặt đối lập là hiện tượng phổ biến
trong vũ trụ, là quy luật phát triển của vũ trụ. Không có đấu tranh sẽ không có
bất cứ sự hài hòa nào và ngược lại, khi đấu tranh không còn thì mọi cái cũng
biến mất. Đấu tranh của các mặt đối lập chính là sự đối lập trong cái thống
nhất, làm phá vỡ sự thống nhất cũ, thiết lập sự thống nhất mới cao hơn, hoàn
thiện hơn. Từ đây, làm cho các mặt đối lập trong mỗi sự vật không ngừng tự
hoàn thiện, điều chỉnh mình để phù hợp, thống nhất với mặt còn lại, tạo bước
tiến cao hơn. Ông khẳng định, đấu tranh sẽ tạo ra một trật tự hài hòa về sự thống
nhất. Ở đâu không có sự khác biệt thì ở đó không có sự thống nhất. Đấu tranh là
nguồn gốc của mọi cái đang hiện hữu, là khởi nguyên sáng tạo của sự sống và
tồn tại. Điều đó cho thấy đấu tranh giữa các mặt đối lập là tất yếu, là quy luật
tất yếu của vũ trụ.
Ông được mọi người biết đến nhiều bởi học thuyết “Dòng chảy”. Ông
cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại và đồng thời lại không
tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, chảy đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi
vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong. Dựa vào trải nghiệm của mình, ông
khẳng định rằng: “Chúng ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông” [4,
tr.49]. Với ông, mọi vật đều luôn biến đổi, vận động và phát triển không ngừng,
nó thay đổi thường xuyên và liên tục bởi không có gì tồn tại mà đứng yên tuyệt
đối, đứng yên chỉ là tạm thời, tương đối mà thôi. Đứng yên và vận động chính là
sự thống nhất của các mặt đối lập, cũng như đấu tranh và hài hòa, chúng tồn tại
không thể tách rời nhau. Chính sự vận động biến đổi liên tục của thực tiễn đã
chứng minh “vạn vật không ngừng sinh ra và mất đi, giống như ngọn lửa không
16
ngừng bùng cháy rồi lụi tàn”. Với quan điểm này Hêraclit đã nắm được đúng
Song, tư tưởng biện chứng của ông vẫn còn một số hạn chế nhất định, đó là ông
chưa thấy được sự thống nhất giữa các sự vật trong mối liên hệ cụ thể, những
luận giải mới dừng lại ở phỏng đoán chứ chưa được luận chứng về mặt khoa học.
Nếu như Hêraclit đã xây dựng được học thuyết về “dòng chảy”, xây dựng
được một số phạm trù của phép biện chứng như “logos” để luận bàn về những
phép biện chứng thì sau ông phép biện chứng Hy Lạp cổ đại tiếp tục hoàn thiện
và phát triển với nhiều nội dung phong phú, gắn với tên tuổi của các triết gia nổi
tiếng khác. Đó là Đêmôcrit (460 – 370 TCN) - đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa
duy vật cổ đại. Nổi bật trong triết học duy vật của ông là thuyết nguyên tử.
Đêmôcrit cho rằng, tất cả mọi sự vật đều hình thành từ những nguyên tử.
Nguyên tử là hạt vật chất bé nhỏ không thể phân chia được nữa, chúng không
khác nhau về chất mà khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế. Bởi có vô vàn
hình dạng nên tính đa dạng của nguyên tử làm nên tính đa dạng của thế giới các
sự vật hiện tượng. Theo ông, vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, ông giải thích
vận động của nguyên tử là tự nó vận động, chúng va chạm và di chuyển về mọi
phía. Dù ông đã không lí giải được nguồn gốc của sự vận động nhưng ông đã
gắn vận động với nguyên tử, nó cũng là vô cùng, vô tận như nguyên tử và vận
động không tách rời khỏi vật chất.
Trong quan niệm về mâu thuẫn, Đêmôcrit cho rằng, vũ trụ được cấu thành
từ hai thực thể đầu tiên là nguyên tử (tồn tại) và chân không (không tồn tại) là
những bản nguyên đầu tiên và chúng luôn đối lập nhau, trong đó nguyên tử là
những hạt vật chất cực nhỏ, chúng tồn tại vĩnh viễn và vận động không ngừng,
sự vận động đó xảy ra trong chân không, tuân theo quy luật khách quan và theo
các hướng phân ly và tích hợp, tạo nên sự đa dạng phong phú trong vũ trụ. Linh
hồn của con người, theo Đêmôcrit, cũng là một dạng vật chất, được tạo nên từ
các nguyên tử đặc biệt, khi người ta chết, linh hồn sẽ không còn, chúng rời thể
xác và tồn tại như những nguyên tử khác. Chân không là khoảng không gian
18
trống rỗng. Với Đêmôcrit, chân không cũng cần thiết như nguyên tử, nhờ nó mà
Brunô đã xây dựng học thuyết về sự thống nhất của cực tiểu và cực đại,
cái tối thiểu và cái tối đa, giữa cái vô hạn và hữu hạn. Đó là những mặt đối lập
nhau nhưng trong một sự vật thì chúng luôn vận động và chuyển hóa lẫn
nhau. Tư tưởng biện chứng của Brunô đã vượt xa hơn so với các nhà triết học
Hy Lạp cổ đại bởi triết học của ông đã dựa trên các thành tựu khoa học của
thời đại mình.
Triết học cổ điển Đức là nền triết học được hình thành nên từ cuối thế kỷ
XVIII - đầu thế kỷ XIX. Ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã
hội đặc thù – vừa bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, ý thức hệ của xã
hội phong kiến đang mục rỗng, vừa bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng cấp tiến
trong thời kỳ đầu phát triển của chủ nghĩa tư bản, đã làm cho triết học cổ điển
Đức có những nét riêng. Tiếp thu những tư tưởng biện chứng từ thời cổ đại, các
nhà triết học thời kì này đã hình thành phép biện chứng duy tâm trong việc
nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Nếu phép biện chứng cổ
đại chủ yếu được đúc rút từ kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày, thì phép biện
chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã trở thành một hệ thống lý luận
tương đối hoàn chỉnh và đã trở thành một phương pháp tư duy triết học phổ biến.
Dù còn nhiều hạn chế, nhưng “hạt nhân” hợp lý được mang lại từ nền triết này
cũng cho chúng ta khẳng định đây là giai đoạn phát triển rực rỡ trong nền văn
minh triết học của Tây Âu.
Lênin cho rằng, phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã
tạo ra bước quá độ chuyển biến về lập trường từ chủ nghĩa duy vật siêu hình
sang thế giới quan khoa học duy vật biện chứng. Có thể khẳng định, phép biện
chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã hoàn thành cuộc cách mạng về
phương pháp.
20
Tuy đứng trên lập trường duy tâm nhưng các nhà triết học cổ điển Đức đã
xây nên một hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng, logic
biện chứng, học thuyết về các quá trình phát triển, mà thành quả lớn nhất trong
antinomia; ông xem các antinomia như là những mâu thuẫn không bao giờ giải
quyết được. Việc tìm ra và giải quyết các antinomia của Cantơ càng khẳng định
luận điểm của ông rằng "vật tự nó" là bất khả tri. Đó là một nghịch lý khách
quan mà nhận thức con người buộc phải chấp nhận. Xưa nay người ta vẫn ngộ
nhận tưởng rằng mình có thể nhận thức được "vật tự nó", nhưng trên thực tế, con
người đang phải chấp nhận nghịch lý trên.
Ông đưa ra 4 antinomia, mỗi antinomia (mâu thuẫn) cơ bản của lí tính
được tạo nên từ hai luận đề đối lập nhau đó là chính đề và phản đề. Đây là những
mâu thuẫn mà không thể khắc phục được, bởi nó nằm ngay trong bản thân lí tính
của con người. Dẫn chứng điều này, ông viết: Vũ trụ có khởi đầu hay không có
khởi đầu trong thời gian, có hạn hay vô hạn trong không gian là một trong những
antinomia mà Cantơ nêu ra nhưng ông không thể giải quyết được, vì theo ông,
không bao giờ có thể xác định được phán đoán nào chân thực hay giả dối. Xét về
toàn bộ thì vũ trụ là vô hạn, nhưng xét về từng sự vật hiện tượng cụ thể thì nó có
giới hạn, thuộc tính có hạn hay vô hạn đều được xét ở cùng một khía cạnh, như
một chỉnh thể toàn vẹn. Nếu tìm ra cách chứng minh nó là có hạn thì sẽ dẫn đến
sự phi lý và rơi vào kết luận ngược lại, còn nếu giả định nó là vô hạn thì cũng sẽ
rơi vào sự phi lý không hơn không kém.
Như vậy, học thuyết của Cantơ về các antinomia còn nhiều hạn chế. Ông
quy những mâu thuẫn vào mâu thuẫn của lí tính (tư tưởng) chứ chưa thấy rằng
đó là những mâu thuẫn của thế giới hiện thực (giới tự nhiên); theo ông, các
antinomia đó cũng chưa hoàn toàn là những mâu thuẫn biện chứng vì giữa các
chính đề và phản đề chưa có sự thống nhất và chuyển hoá lẫn nhau; khi đề cập
đến mâu thuẫn Cantơ cũng chỉ dừng lại ở việc phân tích, tổng hợp các mặt đối
lập chứ chưa đề xuất các biện pháp giải quyết mâu thuẫn; ông cũng đã sai lầm
22
khi hạn chế số lượng các antinomia, trong khi mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các
sự vật và trong tất cả các lĩnh vực.
Mặc dù vậy, Cantơ vẫn là người đầu tiên trong lịch sử triết học đặt ra
nhưng đó không phải là tinh thần, ý thức của từng cá nhân cụ thể mà là một thực
thể, tinh thần bên ngoài con người và ông gọi đó là ý niệm tuyệt đối. Tính phong
phú đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ý
niệm tuyệt đối. Ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn, là động lực của mọi hiện
tượng tự nhiên và xã hội. Như vậy, hoạt động tinh thần (con người) sáng tạo ra
thế giới.
Với ông, cái tuyệt đối không phải là những thứ đã có sẵn mà nó vừa là
thực thể vừa là chủ thể hoạt động của chính mình trong quá trình sản sinh ra cái
tương đối, cái tương đối cũng chính là kết quả hoạt động của cái tuyệt đối và cái
tuyệt đối cũng được sinh ra từ chính quá trình hoạt động của mình. Tương đối và
tuyệt đối là hai mặt đối lập nhau, chúng mâu thuẫn với nhau.
Hêghen khẳng định, sự đồng nhất nào cũng phải bao hàm sự khác biệt và
mâu thuẫn, đồng nhất và khác biệt vừa thống nhất nhưng vừa đối lập nhau, trong
một bản chất chúng lại gắn bó với nhau. Sự vật nào thì chứa đựng mâu thuẫn của
sự vật đó, là những mâu thuẫn nội tại, mâu thuẫn tồn tại tức là sự vật tồn tại.
Mâu thuẫn đó tạo nên động lực cho sự biến đổi và phát triển của sự vật, vì theo
ông “mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sức
sống” [24, tr.19]. Chính việc phát hiện và giải quyết mâu thuẫn làm cho cái mới
ra đời phủ định sự tồn tại của cái cũ, lỗi thời, lạc hậu song vẫn giữ lại những yếu
tố tích cực, tiến bộ của cái cũ. Đây là một trong những động lực thúc đẩy sự phát
triển của xã hội. Vì vậy, không nên xem mâu thuẫn là sự kìm hãm đối với các sự
vật mà phải xem mâu thuẫn trong sự tác động qua lại, sự lệ thuộc và quy định lẫn
nhau của các sự vật.
Mặc dù là người đã tuyệt đối hóa quá trình logic, đồng nhất các quy luật
của tự nhiên và xã hội với quy luật của logic học, giải thích các hiện tượng tự
24
nhiên và xã hội như là các quá trình logic, song Hêghen là người có công lớn
nghiên cứu một cách hệ thống, đem lại cho con người một cách hiểu mới về bản
chất của tư duy, về mối quan hệ qua lại và sự vận động của các khái niệm, các