CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI: QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN, NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI VIỆT NAM - Pdf 24

Nhóm 2_Lớp CT38A
KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NHÓM 2- LỚP CT38A- HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM
1. Nguyễn Thị Lan Anh
2. Nguyễn Ngọc Phan Hằng
3. Nguyễn Thị Hồng
4. Phạm Ngọc Huệ
5. Nguyễn Thị Thu Hương
6. Đào Thị Nhung
7. Nguyễn Hà Phương
1
Nhóm 2_Lớp CT38A
CHỦ ĐỀ 2: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI:
QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN, NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ
KHĂN ĐỐI VỚI VIỆT NAM
I.Quan điểm chung về phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam
1.Phát triển kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan
Thế giới ngày nay dù còn nhiều khác biệt, còn mâu thuẫn gay gắt, song lại thống
nhất với nhau. Mỗi chủ thể kinh tế là một đơn vị độc lập, nhưng lại phụ thuộc vào
chủ thể khác về nhiều mặt. Nước nghèo phụ thuộc vào nước giàu về công nghệ, về
vốn.Nước giàu sẽ phụ thuộc nước nghèo về tài nguyên thiên nhiên, về lao động, về
thị trường.
Nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy, để có thể duy trì sự Phát TRIển
kinh tế một cách tương đối ổn định, mỗi quốc gia phải có ít nhất 16 thứ sản phẩm
cơ bản là năng lượng, một số kim loại chủ yếu, lương thực, thực phẩm, trang thiết
bị…Ngay trong từng loại đó, do sự phát triển của khoa học-công nghệ mà vai trò
của từng thứ cũng có lúc khác nhau. Trong khi đó , do điều kiện địa lý khác nhau,
do sự phân bố tài nguyên khác nhau nên không quốc gia nào có thể đảm bảo được
tất cả các sản phẩm đó. Kể cả có các tài nguyên thiên nhiên, nhưng thiếu vốn, trang
thiết bị, công nghệ thì nhiều quốc gia cũng không thể khai thác được. Như vậy,
mọi quốc gia đều phụ thuộc vào bên ngoài.

xã hội chủ nghĩa, mà cả thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ
chức quốc tế, thậm chí cả tư nhân nước ngoài.
Phát huy những thành tựu đã đạt được sau 15 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng đã nêu ra đường lối và chiến lược phát triển kinh tế là:
“Đẩy mạnh công nghiệp hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta
trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời
xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy
cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”. Thông qua chủ trương,
quan điểm của từng đại hội, thong qua các hoạt động kinh tế đối ngoại, chúng ta
đã nhận thức ngày càng đầy đủ và cụ thể hơn về kinh tế đối ngoại. Nhờ vậy, những
thành tựu của kinh tế đối ngoại cũng ngày càng lớn hơn, đóng góp tích cực hơn
cho nền kinh tế.
3
Nhóm 2_Lớp CT38A
Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế đối ngoại thực sự là một tất yếu khách quan,
điều đó không chỉ là lý luận mà đã và đang là một thực tế hết sức sinh động trong
đời sống kinh tế xã hội của nước ta.
2. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị:
Đường lối của mỗi quốc gia bao gồm đường lối đối nội và đường lối đối ngoại.
Đường lối đối ngoại bao gồm đường lối về chính trị tức là các quan hệ ngoại giao
và đường lối về kinh tế, tức là các quan hệ kinh tế đối ngoại. Như vậy,nếu thiếu
kinh tế hoặc chính trị thì không thể hình thành được đường lối đối ngoại.
Ở những nước đang phát triển, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị có những
phức tạp riêng. Dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, mối quan hệ giữa kinh tế và
chính trị không chỉ phụ thuộc vào những yếu tố bên trong mà còn phụ thuộc khá
lớn vào những yếu tố bên ngoài như các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức kinh
tế quốc tế… Bởi vậy, nếu không xử lý khéo léo mối quan hệ này, vừa không tranh
thủ được các yếu tố kinh tế vừa bị cô lập về chính trị.
Mặc dù kinh tế và chính trị luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, nhưng trong một số

Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lenin chỉ ra rằng vận động là tự thân vận động.
Không ai có thể làm cách mạng thay chúng ta, đặc biệt khi đó là cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa.
Sau khi Liên Xô và khối các nước xã hội chủ nghĩa tan rã, chúng ta đã mất đi một
chỗ dựa cực kỳ quan trọng, không chỉ về tinh thần mà còn cả về thể chất. Tình
hình ấy đặt ra cho chúng ta phải đứng trên chính đôi chân của mình, không thể
trông chở , ỷ lại vào bên ngoài.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, tự lực tự cường không có nghĩa là đóng
cửa, khép kín, coi nhẹ sức mạnh bên ngoài mà phải kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại.
Trước hết là sức mạnh dân tộc.
+Nguồn nhân lực của Việt Nam có giá trị không chỉ về số lượng mà còn về chất
lượng
+Tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng.
+Đường lối đổi mới
+Hàng triệu Việt kiều đóng góp tiền bạc, chất xám, công nghệ.
Sức mạnh thời đại trong lĩnh vực kinh tế là những nguồn vốn từ nước ngoài.
Sức mạnh thứ hai là khoa học - công nghệ của thế giới
Sức mạnh thứ ba là thị trường thế giới
Sức mạnh thứ tư là những kinh nghiệm quản lý kinh tế của thế giới.
5
Nhóm 2_Lớp CT38A
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2012 của Đảng Cộng sản Việt Nam:
“Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ
ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững
và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Phải không ngừng tăng cường tiềm lực
kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế
sâu rộng và có hiệu quả”.
5. Đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc bình đẳng, đôi
bên cùng có lợi.

Nam cũng nhận thức rằng, nếu không mở rộng mối quan hệ, không tiến hành đa
phương hoá thì chúng ta sẽ rất thiệt thòi, gặp nhiều khó khăn trong kinh tế đối
ngoại. Quan điểm của Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng khẳng định: "Viêt
Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc
tế; tạo môi trường hoà bình ổn định đê xây dựng và phát triển đất nước". Việc đa
phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại như đã nói ở trên là phải dựa trên
nguyên tắc bình đẳng đôi bên cũng có lợi, tuy nhiên, nhiều khi chúng ta cũng phải
có những bước lùi linh hoạt, "lùi một bước để tiến hai bước". Trong ngành dầu khí
VN, tỷ lệ ăn chia giữa VN và nước ngoài nhiều khi lên đến tỷ lệ 50/50, nhưng
chúng ta vẫn phải chấp nhận, nếu khồng chúng ta sẽ vô cung khó khăn về vấn đề
công nghệ khai thác.
6. Đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại
Đa dạng hoá kinh tế đối ngoại là tiến hành hoạt động kinh tế đối ngoại ở nhiều
lĩnh vực khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả về kinh tế. Kinh tế đối ngoại là
lĩnh vực phong phú và đa dạng, bap gồm các hoạt động về kinh tế, khoa học-
công nghệ, lao động, liên quan tới toàn bộ quá trình tái sản xuất của xã hội, từ
sản xuất đến lưu thông.
Cần chú ý rằng, đa dạng hoá phải gắn bó chặt chẽ với đa phương hoá. Hai nội
dung này bổ sung, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Khi có thêm đối tác chúng
ta phải nghĩ ngay đến những lĩnh vực có thể hợp tác và khai thác. Để thực hiện đa
phương hoá, đa dạng hoá có hiệu quả, bên cạnh những hợp tác song phương, cần
phải có những hợp tac đa phương.
Việt Nam cũng đã và đang cố gắng đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối
ngoại:
-Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, cả hàng hoá vô hình và hữu hình.
7
Nhóm 2_Lớp CT38A
Năm 2012, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước ước đạt 114,6 tỷ USD, kim ngạch
xuất khẩu/GDP đạt trên 82%, cao nhất từ trước tới nay, cao hơn nhiều so với tỷ lệ
65,5% của năm 2006 trước khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại (WTO) và

81 thị trường chủ yếu, Việt Nam có vị thế xuất siêu với 41 thị trường, trong đó có
11 thị trường Việt Nam xuất siêu trên 1 tỷ USD (Mỹ 14,9 tỷ USD, Hongkong trên
2,5 tỷ USD, Anh trên 2,3 tỷ USD, Campuchia trên 2,1 tỷ USD, )
-Thu hút đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh hơn nữa đầu tư ra nước ngoài.
Tính từ năm 1988 đến nay, tổng lượng vốn FDI được cấp phép đạt khoảng 243
tỷ USD, lượng vốn của các dự án còn hiệu lực đạt khoảng 212 tỷ USD, lượng
vốn thực hiện đạt khoảng 99,5 tỷ USD. Đã có 22 nước và vùng lãnh thổ có lượng
vốn đăng ký đạt trên 1 tỷ USD, trong đó có 11 nước và vùng lãnh thổ đạt trên
5 tỷ USD, đặc biệt có 8 đối tác đạt trên 10 tỷ USD (lớn nhất là Nhật Bản, tiếp
đến là Hàn Quốc, Đài Loan-Trung Quốc, Singapore, Quần đảo Vigin thuộc Anh,
Hongkong, Malaysia, Mỹ).
Đã có 63/63 tỉnh, thành phố có dự án FDI được cấp phép, trong đó có 24 địa
phương có lượng vốn đăng ký của các dự án còn hiệu lực, trong đó có 8 địa
phương đạt trên 5 tỷ USD, đặc biệt có 5 địa phương đạt trên 10 tỷ USD (lớn nhất là
TP Hồ Chí Minh, tiếp đến là Bà Rịa- Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương).
Trong 18 ngành kinh tế cấp I, có 14 ngành có lượng vốn đăng ký của các dự án còn
hiệu lực đạt trên 1 tỷ USD, trong đó có 6 ngành đạt trên 5 tỷ USD, đặc biệt có 4
ngành đạt trên 10 tỷ USD (lớn nhất là công nghiệp chế biến, tiếp đến là hoạt động
kinh doanh bất động sản, xây dựng- đạt trên 10 tỷ USD; 2 ngành khác đạt trên 5 tỷ
USD là sản xuất, phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí; dịch vụ
lưu trú và ăn uống).
Lượng vốn ODA cam kết năm 2012 đạt 7,3 tỷ USD (cam kết cho năm 2013 đạt gần
6,5 tỷ USD); lượng vốn giải ngân ước đạt trên 3,6 tỷ USD, đạt kỷ lục từ trước đến
nay.
Tính từ năm 1993 đến nay, tổng lượng vốn cam kết đạt trên 75 tỷ USD, với lượng
vốn giải ngân đạt trên 34,5 tỷ USD, đóng góp quan trọng vào tổng vốn đầu tư phát
triển (chiếm trên 10%) và bằng khoảng 3,5% GDP trong thời gian tương ứng, góp
phần quan trọng vào việc hình thành các công trình hạ tầng kinh tế- xã hội, xoá đói
giảm nghèo
-Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong khoa học và công nghệ.

khách đông trên 150 nghìn lượt người, đông nhất là Trung Quốc, tiếp đến là Hàn
Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Đài Loan-Trung Quốc, Campuchia
-Tranh thủ viện trợ quốc tế bằng nhiều hình thức và từ nhiều nguồn khác nhau.
Trong hoàn cảnh của chúng ta hiện nay, sự trợ giúp của quốc tế là hết sức quý báu.
Hiện nay, có khoảng 700 tổ chức phi chính phủ hoạt động tại VN. Cùng với phần
10
Nhóm 2_Lớp CT38A
viện trợ trong ODA, nguồn vốn này là những đóng góp rất tích cực cho VN, nhất là
với các lĩnh vực xã hội, cải cách thể chế.
7. Nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại
Nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại sẽ góp phần không nhỏ để phát triển nền kinh
tế quốc dân. Trong quá trình nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, chúng ta không
những phải chú ý tới từng lĩnh vực cụ thể mà còn phải đặt các lĩnh vực đó
trong một tổng thể, không được tách rời hay chỉ chú ý đến một vài lĩnh vực.
Cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của kinh tế đối ngoại đối với nền kinh thế và
đời sống xã hội.
Tuy nhiên, chúng ta không được quá chú trọng đến kinh tế đối ngoại mà xem
nhẹ nền kinh tế trong nước. Vì nền kinh tế trong nước mới mang tính chất quyết
định. Muốn phát triển kinh tế đối ngoại, hoạt động sản xuất, lưu thông trong nước
phải được đẩy mạnh và mở rộng phát triển. Chủ nghĩa trọng thương trước kia cũng
phạm sai lầm khi quá đề cao kinh tế đối ngoại.
Để đánh giá hiệu quả của kinh tế đối ngoại, chúng ta phải xem xét trên cả góc
độ kinh tế và kinh tế-xã hội. Cần có sự dung hoà các mặt lợi ích tổng thể trong
chiến lược phát triển kinh tê đối ngoại trong từng thời kỳ trên tinh thần phát huy tốt
sức mạnh nội tại và tận dụng tối đa sức mạnh quốc tế đế phát triển kinh tế-xã hội.
8. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại
Kinh tế đối ngoại là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Do vậy, khi đổi mới
nền kinh tế quốc dân, đổi mới cơ chế quản lý, tất yếu cũng phải đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế đối ngoại.
Để phát triển kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại cần được đổi mới theo các


Hướng dẫn các tổ chức kinh doanh hoạt động theo pháp luật và có hiệu quả
thông qua kế hoạch hoá định hướng; cung cấp thông tin về thị trường thế
giới, về mối quan hệ kinh tế quốc tế.

Ban hành các chính sách kinh tế, đặc biệt các chính sách tài chính, tín dụng,
cải thiện hệ thống tài chính, ngân hàng, tiền tệ.

Thiết lập cớ chế kiểm tra, giám sát các hoat động kinh thế dối ngoại, định ra
những chế tài hữu hiệu bảo đảm trật tự kỷ cương trong kinh tế đối ngoại
theo cơ chế mới.
II.Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế đối
ngoại Việt Nam
Thuận lợi
1.Chế độ chính trị- xã hội
12
Nhóm 2_Lớp CT38A
- Từ khi thống nhất đất nước vào ngày 25- 4- 1976 với tên chính thức là Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo nguyên mẫu nhà nước xã hội chủ nghĩa đơn
đảng ( Đảng Cộng sản Việt Nam) VN đã thiết lập được một chế độ chính trị- xã
hội ổn định, được quốc tế thừa nhận là một trong những quốc gia an toàn nhất
cho các hoạt động kinh tế, đặc biệt là các hoạt động kinh tế đối ngoại.
- Một số biện pháp VN đã thực hiện nhằm ổn định và phát triển kinh tế bền vững:
+ Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế quản lý kinh tế theo chuẩn
mực quốc tế.
+ Phát triển cơ sở vật chất hạ tầng
+ Mở rộng quan hệ ngoại giao
- Trong bối cảnh thế giới có những sự kiện lớn như Vụ 911 ở Mỹ, vấn đề Bắc triều
Tiên với Mỹ và Trung Quốc,… trật tự an toàn xã hội ở VN vẫn đc đảm bảo.
=> VN đang và sẽ là điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư quốc tế.

từ Nam lên Bắc và có nhiều sân bay quốc tế quan trọng nên có tiềm lực lớn về
hàng không và hàng hải => thuận lợi tham ra vào phân công lao động quốc tế và
pát triển hàng không, hàng hải.
VN có nhiều danh lam thắng cảnh độc đáo và nổi tiếng => những tài nguyên
này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn văn hóa, chính trị; mang lại nguồn lơn
ngoại tệ và củng cố quan hệ hữu nghị với nhân dân các nước.
- Khí hậu: VN có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa chịu ảnh hưởng sâu sắc của
chế độ gió mùa châu Á; có nhiều vùng tiểu khí hậu thuận lợi cho việc đa dạng cây
trồng; nguồn năng lượng tự nhiên quan trọng, có thể khai thác và sử dụng vào việc
kinh doanh du lịch; độ ẩm cao, lượng mưa trung bình năm khá lớn, cho phép khai
thác hiệu quả tài nguyên đất đai và nhân lên nhiều lần quỹ đất canh tác.
- Tài nguyên:
Tài nguyên rừng
+ Diện tích rừng của VN đã bị tàn phá khá nặng nề cả trước và sau chiến
tranh, bị suy giảm rõ rệt về số lượng, tuy nhiên thì rừng vẫn có khả năng cung
cấp nguyên liệu cho sản xuất đồ gỗ, hàng mỹ nghệ xuất khẩu và 1 số sản phẩm
quan trọng khác.
+ Rừng ẩm nhiệt đới là hệ sinh thái có năng suất cao có tiềm năng sản xuất
nguyên liệu lớn.
Tài nguyên khoáng sản: Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú và đa dạng, trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế lớn (than, sắt, đầu mỏ,
bôxit, aptit ). Nguồn tài nguyên mang lại thu nhập nhiều nhất hiện nay là dầu khí
- ngành mang lại thu nhập nhiều nhất cho VN
Khó khăn
1.Điều kiện tự nhiên

Đất đai:
14
Nhóm 2_Lớp CT38A
-

nâng cấp nhiều song chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế đặc
biệt là hệ thống đường bộ, đường sắt, sân bay , hải cảng.
3 Cơ sở hạ tầng pháp lý: Cơ sở hạ tầng pháp lý điều chỉnh hoạt động đối
ngoại vẫn chưa đầy đủ, đồng bộ, tính ổn đinh chưa cao gây trở ngại cho tiến
trình mở cửa nền kinh tế.
4 Trình độ nguồn nhân lực:
-
Bao gồm cả cán bộ quản lý nhà nước trong các doanh nghiệp và công nhân lành
nghề.
-
Trình độ chuyên môn kỹ thuật và ngoại ngữ chưa cao, ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế của doanh nghiệp và của từng sản phẩm, tác
động không tốt đến khả năng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
15
Nhóm 2_Lớp CT38A
-
Người lao động Việt nam còn có hạn chế về thể lực, ý thức tổ chức kỷ luật và
khả năng hợp tác trong công việc.
III> Những điều kiện cần thiết để mở rộng các hoạt động kinh tế đối
ngoại:
Để có thể mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại ở Viet Nam, thu hút các nhà
kinh doanh nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, những điều kiện quan trọng nổi lên
cần sớm giải quyết là:
1, Đổi mới tư duy đối ngoại, tư duy an ninh, tư duy kinh tế
-
Tư duy đối ngoại: đòi hỏi có nhận thức đúng, phù hợp với thực tiễn về mô
hình và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời phải
mềm dẻo, thông quá các hoạt động đối ngoại mà thêm bạn bớt thù, biến thù
thành bạn
-

thông nối kết giữa các tỉnh, huyện, xã; hoàn chỉnh các mạng đường giao thông,
mạng chuyển tải điện, mạng thông tin liên lạc với những nơi xa xôi trên phạm vi
cả nước để lan tỏa văn minh đô thị, văn minh công nghiệp, văn minh thương mại
tới mọi miền của Tổ quốc; hoàn chỉnh hệ thống khám chữa bệnh, trường học, công
trình văn hóa, thể thao cũng như mạng lưới cung nước, xử lú chất thải, bảo vệ môi
trường, cảnh báo thiên tai trên tất cả các vùng và nhất là ở các đô thị lớn
4. Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học-công nghệ, cán bộ quản lý và công nhân kỹ
thuật với cơ cấu thích hợp:

Đội ngũ này phải có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của việc mở rộng và nâng
cao hiệu quả các hoạt động kinh tế đối ngoại. Vấn đề này chỉ được giải quyết
triệt để nếu được tổ chức tốt việc thực hiện chiến lược con người, từ khâu xác
định rõ vị trí, chức năng của con người trong các hoạt động kinh tế xã hội, đến
việc đề ra những tiêu chuẩn cần thiết cho từng loại cán bộ và công nhân kĩ thuật
theo yêu cầu những nhiệm vụ mới.

Cần đánh giá phẩm chất và đặc điểm xã hội của đội ngũ cán bộ hiện nay, có
kế hoạch đào tạo, sử dụng và bồi dưỡng họ một cách đúng mức. suy cho cùng
mọi thành công của hoạt động kinh tế-xã hội nói chung và phát triển các hoạt
động kinh tế đối ngoại nói riêng đều do yếu tố con người quyết định. Thực tiễn
ở những nước đã đạt được sự thần kì trong các giai đoạn phát triển kinh tế chính
là do họ đã biết khai thác triệt để và phát huy tối đa hóa yếu tố con người. Yếu
tố con người ở đây không chỉ đơn thuần là kỹ năng và trình độ thành thạo của
họ mà điều quan trọng hơn là nề nếp làm việc, kỷ luật lao động, tính tổ chức và
sức mạnh tổng hợp của từng tập thể lao động.

Hơn nữa trong mối quan hệ phát triển mối quan hệ hang hóa-tiền tệ, trong
sự phát triển của các mối quan hệ mậu dịch và hợp tác quốc tế,, chúng ta cần
những con người có tri thức và khả năng tổ chức kinh doanh cũng như có bản
lĩnh kinh doanh, không những được rèn luyện tác phong công nghiệp mà còn có

quan hệ kinh tế quốc tế bình đẳng, công bằng, cùng có lợi, bảo đảm lợi ích của
các nước đang phát triển và chậm phát triển.
- Gắn kết chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế với nhiệm vụ củng cố an ninh
quốc phòng ngay từ khâu hình thành kế hoạch, xây dựng lộ trình cũng như trong
quá trình thực hiện, nhằm làm cho hội nhập không ảnh hưởng tiêu cực tới nhiệm
vụ bảo vệ an ninh quốc gia và an toàn xã hội; mặt khác, các cơ quan quốc phòng và
an ninh cần có kế hoạch chủ động hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi cho quá trình hội
nhập.
18
Nhóm 2_Lớp CT38A
Đảng ta nêu rõ: “Phải không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng
hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả”
và “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và
phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status