TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÔN: NGHIỆP VỤ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Diệu Linh
Sinh viên thưc hiện: Nhóm 1
04 – 2013
MỤC LỤC
class="bi xb ye w2 h6"
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
PHẦN 1:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong hai thập kỷ qua, công nghệ thông tin và thương mại điện tử đã
xâm nhập vào mọi góc cạnh của đời sống xã hội nói chung và của doanh
nghiệp nói riêng. Đối với doanh nghiệp, thương mại điện tử góp phần hình
thành những mô hình kinh doanh mới, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh
doanh. Đối với người tiêu dùng, thương mại điện tử giúp mua sắm thuận tiện
các hàng hóa và dịch vụ trên các thị trường ở mọi nơi trên thế giới.
Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng quay của thương mại điện tử.
Trong những năm gần đây, thương mại điện tử Việt Nam đã phát triển rất
mạnh mẽ và đã đạt được nhiều thành công lớn. Tuy nhiên, việc phát triển
thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay vẫn đang còn khá hạn chế so với sự
phát triển của thế giới. Vậy, Việt Nam có những thuận lợi và khó khăn gì trong
việc phát triển thương mại điện tử? Để có thể trả lời cho câu hỏi này và hiểu
rõ hơn về những vấn đề mà Việt Nam gặp phải trong việc phát triển thương
mại điện tử, nhóm chúng tôi đã quyết định thực hiện đề tài tìm hiểu những
thập dữ liệu thứ cấp nhằm hiểu rõ hơn về thương mại điện tử và thấy được những
thuận lợi và khó khăn trong sự phát triển TMĐT ở Việt Nam.
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Thương mại điện tử ra đời đã khắc phục được những hạn chế của hình thức
thương mại truyền thống, đem lại nhiều lợi ích cho các tổ chức, người tiêu dùng và xã
hội. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào, khu vực nào cũng thành công với việc ứng
dụng hình thức thương mại điện tử này. Mỗi nước đều có những thuận lợi và khó khăn
riêng trong việc phát triển ứng dụng hình thức thương mại này. Qua việc tìm hiểu
những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển triển thương mại điện tử ở Việt
Nam, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về những thuận lợi và khó khăn đối với việc phát triển
thương mại điện tử ở Việt Nam. Qua đó, chúng ta sẽ đề xuất những giải pháp để có thể
khai thác tốt những thuận lợi và khắc phục, hạn chế được các khó khăn trong phát triển
4
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
thương mại điện tử ở Việt Nam để thúc đẩy thương mại điên tử Việt Nam phát triển lên
một tầm cao mới, theo kịp được tiến độ phát triển của thương mại điện tử thế giới.
5. Tổng quan tài liệu
Có khá nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực thương mại điện tử, tuy nhiên đối với chủ đề:
“nghiên cứu về sự thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam” thì số
lượng đề tài còn khá hạn chế, nhất là những năm gần đây.
Có thể kể ra một số đề tài như:
- Khóa luận tốt nghiệp (2006), Thương mại điện tử và sự phát triển ở Việt Nam.
Đề tài này nêu ra những nét khái quát về các vấn đề liên quan đến thương mại điện tử, đồng
thời đi sâu phân tích thực trạng sự phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam, qua đó đưa ra giải
pháp thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam.
Điểm mạnh của đề tài này là phân tích rất sâu và cặn kẽ thực trạng thương mại điện tử ở Việt
Nam và giải pháp phát triển
Tuy nhiên, đề tài thực hiện năm 2006, nên phạm vi thời gian để thu thập số liệu thứ cấp từ
năm 2006 trở về trước, đây là hạn chế rất lớn đối với tài liệu này để tham khảo đối với đề tài mà chúng
tôi đang thực hiện, nhất là trong bối cảnh internet và thương mại điện tử phát triển với tốc độ nhanh
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
2.1. Các hình thức hoạt động của thương mại điện tử
2.1.1. Thư điện tử (Email)
Email giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu truyền gửi thông tin một
cách nhanh nhất và tiết kiệm chi phí.
Một địa chỉ email tốt:
• Ngắn gọn -> dễ nhớ, tránh gõ nhầm,
• Gắn với địa chỉ website và thương hiệu.
=> Để tăng tính đồng nhất giữa địa chỉ website và địa chỉ email-> lấy địa
chỉ website làm phần gốc
2.1.2. Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) - electronic data interchange
EDI là việc trao đổi trực tiếp các dữ liệu dưới dạng "có cấu trúc" giữa
các máy tính điện tử của các công ty hay tổ chức đã thoả thuận buôn bán với
nhau, một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người.
Sự tiện lợi:
• Chi phí giao dịch thấp
• Khả năng đối chiếu chứng từ tự động, hiệu quả, nhanh chóng và
chính xác
• Quan hệ đối tác đem lại hiệu suất cao
2.1.3. Bán hàng qua mạng
Website bán lẻ là hình thức để trưng bày hình ảnh hàng hoá giao dịch
và bán hàng hoá cho người tiêu dùng.
Kinh doanh những món hàng có giá trị nhỏ và vừa, những mặt hàng tiêu
dùng thường ngày, hàng hoá có thể số hoá, dịch vụ,
Quy trình mua bán trên một website bán lẻ thường diễn ra như sau:
• xem hàng
• “Đặt mua”
• Sau khi xem và chọn hàng xong->“Giỏ mua hàng”
• Thanh toán-> người mua sẽ điền mã số khách hàng (nếu đã đăng
ký) hoặc điền các thông tin về địa chỉ nhận hàng và chọn phương
thương mại hay còn gọi là thương mại điện tử ra đời và đang trở thành xu thế mới thay thế dần phương
thức kinh doanh cũ với rất nhiều ưu thế nổi bật như nhanh hơn, rẻ hơn, tiện dụng hơn, hiệu quả hơn và
không bị giới hạn bởi không gian và thời gian…vv.
Tuy nhiên đối với một số nước đang phát triển nói chung và việt nam nói riêng TMDT lại là
một điều khá mới mẻ dẫu rằng việc nắm bắt xu thế và phát triển đã và đang ở cả chiều rộng lẫn chiều
sâu.
Các doanh nghiệp và các cá nhân có thể dùng TMĐT để giảm các chi phí giao dịch bằng cách
đẩy luồng thông tin và tăng cường thêm sự phối hợp các hoạt động để giảm bớt tình trạng không rõ
ràng. Bằng việc giảm bớt chi phí tìm kiếm thông tin về người kinh doanh, người bán và tăng số lượng
tham gia thị trường, TMĐT có thể thay đổi sự thu hút thống nhất theo chiều thẳng đứng đối với rất
8
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
nhiều công ty. Cũng chưa thể chắc rằng là việc chấp nhận TMĐT sẽ khiến cho các tổ chức theo cấu
trúc vòm quay trở lại cấu trúc thị trường cũ của họ, nhưng đây cũng là một khả năng hoàn toàn có thể.
TMĐT có thể khiến cho các mạng lưới dựa hoàn toàn vào chia sẻ thông tin này có thể duy trì
và quản lý dễ dàng hơn. Một số nhà nghiên cứu tin tưởng rằng những hình thức tổ chức thương mại
này sắp tới sẽ trở nên có ưu thế.
Mặc dù đã có rất nhiều doanh nghiệp biết ứng dụng và phát triển TMDT và trở thành điển
hình trong lĩnh vực này như công ty Vietgo, công ty cổ phần vật giá với sàn giao dịch TMĐT:
vatgia.com; công ty peaceoft solution với trang web: chodientu.vn, …vv.
Tuy nhiên, việc khai thác và ứng dụng TMDT luôn là hai mặt của một vấn đề:
• Thứ nhất chúng ta đang ở giao thời giữa kinh doanh truyền thống và phương thức kinh doanh
TMDT, do vậy luôn có sự so sánh thực dụng và ngắn hạn về tính hiệu quả giữa hai phương
thức này.
• Thứ hai TMDT cũng đòi hỏi phải có cách nhìn nhận khác hơn, trí tuệ hơn và khó hơn (không
theo lối tư duy cũ), việc ứng dụng và phát triển TMDT đỏi hỏi sự nhận thức sâu rộng trong xã
hội và môi trường làm việc cũng như quản lý và hạn chế các mặt tiêu cực như việc gian lận,
niềm tin, phá hoại vv đã và đang ở trên rất khó kiểm soát vì tính nhanh, mạnh và kỹ thuật cao
của loại hình này.
4. Tổng quan về thương mại điện tử ở Việt Nam
Quyết định 112/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/7/2001 nhằm thiết lập hệ
thống thông tin từ Trung ương đến các Bộ, ngành, địa phương phục vụ công tác điều hành các hoạt
động của Chính phủ.
Cuối năm 2001, Bộ thương mại đã hoàn thành và trình lên Chính phủ bản đề án Phát triển
thương mại điện tử tại Việt nam giai đoạn 2001-2005. Bản đề án này giúp Chính phủ có những đánh
giá về hiện trạng ban đầu về tình hình phát triển thương mại điện tử trong nước và trên thế giới. Từ
những đánh giá này, Chính phủ cũng có những định hướng thống nhất và tạo ra một môi trường thuận
lợi cho sự phát triển thương mại điện tử ở Việt nam. Có thể coi Bản đề án trên là một bước đi quan
trọng và thiết thực thể hiện quyết tâm của Việt nam hội nhập vào nền kinh tế kỹ thuật số của khu vực
và thế giới.
Ngày 1/3/2006 Luật giao dịch điện tử Việt Nam chính thức có hiệu lực.
Ngày 9/6/2006 Chính phủ ban hành Nghị định về Thương mại điện tử với việc thừa nhận
chứng từ điện tử có giá trị pháp lý tương đương chứng từ truyền thông trong mọi hoạt động thương
mại từ chào hàng, chấp nhận chào hàng, giao kết hợp đồng cho đến thực hiện hợp đồng.
Ngày 15/2/2007 Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết về Chữ ký số và Dịch vụ
chứng thực chữ ký số được ban hành.
Ngày 23/2/2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP qui định chi tiết thi hành
Luật Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.
Hệ thống cấp phép nhập khẩu tự động được triển khai từ năm 2008 có 656 Doanh nghiệp tham
gia.
Ngày 23/3/2011 triển khai mở rộng Hải quan điện tử tại Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên
Huế, Bình Định, Đắc Lắc, Tây Ninh, Long An. Năm 2011 cả nước có 46.919 Doanh nghiệp tham gia
thí điểm Hải quan điện tử.
10
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
Cho đến nay, thương mại điện tử đã phát triển mạnh. Đánh giá về thương mại điện tử trong
năm 2012, ông Nguyễn Hòa Bình, Trưởng ban truyền thông của VECOM nói: "Năm 2012 đã xây
dựng hoàn thiện được hệ thống hệ tầng cho thương mại điện tử, có thể nói gần như theo kịp tiến bộ
của thế giới". Hiện các mô hình hay công cụ hỗ trợ như rao vặt, sàn giao dịch, website bán lẻ trực
tuyến, mua theo nhóm, giải pháp thanh toán online, vận chuyển, đều có tại thương mại điện tử Việt
Sau 10 năm phát triển, TMĐT tử không còn chỉ tập trung tại hai thành phố lớn là Hà Nội
11
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
và TP. Hồ Chí Minh mà đã phát triển rộng khắp cả nước. Cùng với việc ứng dụng thương
mại điện tử trong doanh nghiệp thuộc mọi ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngày càng
tăng, các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương cũng rất quan tâm, chú trọng tới vấn đề
quản lý nhà nước về TMĐT.
4.3. Triển vọng tương lai
Các chuyên gia phân tích đánh giá, thị trường thương mại điện tử ở Việt Nam là “một thị
trường nhiều tiềm năng, đang hình thành và chuẩn bị phát triển”.
Thị trường Việt Nam là một thị trường hết sức tiềm năng. Tiềm năng của TMĐT Việt Nam thể
hiện ở 2 khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất là mức độ chi tiêu. Người Việt Nam có tỷ lệ chi tiêu tiêu dùng
rất cao, có thể chiếm tới 60 – 70% thu nhập. Cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của Internet và
mobile, phục vụ cộng đồng người sử dụng rất trẻ của Việt Nam với hơn 60% dân số dưới 35 tuổi. Đó
là những cơ sở để khẳng định TMĐT chắc chắn sẽ phát triển được.
Khía cạnh thứ 2 là yếu tố địa phương của TMĐT Việt Nam. Việc thành công tại Việt Nam đòi
hỏi những mô hình hết sức đặc thù. Thực tế cho thấy có nhiều hình thức TMĐT đã chứng minh được
sự phù hợp với Việt Nam trong thời gian vừa rồi, ví dụ như là gian hàng trực tuyến, mua theo nhóm,
hay các mô hình rao vặt trực tuyến. Bên cạnh đó có nhiều mô hình vẫn còn rất chật vật trong việc
chinh phục người tiêu dùng và doanh nghiệp Việt Nam như lĩnh vựcđấu giá trực tuyến hay lĩnh vực
sàn giao dịch B2B. Đối với những mô hình còn đang đi tìm sự phù hợp thì các công ty TMĐT sẽ nhìn
nhận đó là những cơ hội để sáng tạo những mô hình phù hợp với địa phương.
Tuy nhiên, con đường còn rất chông gai. Trong thời gian vừa rồi, TMĐT vẫn tăng trưởng
nhưng quy mô tăng trưởng thì không như kỳ vọng. Điều này cho thấy là người dùng đã có mức độ sẵn
sàng nhất định, nhưng các doanh nghiệp TMĐT còn rất nhiều việc để làm để đưa ra những lợi ích tốt
nhất và phù hợp nhất cho người dùng, qua đó thúc đẩy sự phát triển của TMĐT Việt Nam.
Có thể nói hiện nay, TMĐT Việt Nam đang ở cuối giai đoạn hình thành, đang ở bước chuyển
tiếp để bước sang giai đoạn phát triển.
12
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
các quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất trên thế giới. Theo Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền
thông Lê Nam Thắng, đến năm 2012, Việt Nam đứng thứ 18 trên tổng số 20 quốc gia có số lượng
người dùng Internet nhiều nhất trên thế giới, xếp thứ 8 tại khu vực châu Á và thứ 3 Đông Nam Á. Báo
cáo toàn cảnh 15 năm của Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA) cũng cho thấy, đến tháng 9/2012, số
lượng người sử dụng Internet tại Việt Nam đã đạt trên 31 triệu, chiếm 35,49% dân số, và được dự đoán
sẽ tăng lên 37 triệu người vào năm 2016 (theo BMI). Con số của VIA đưa ra cũng cho thấy, không
những số người sử dụng internet tăng lên, mà họ còn dành nhiều thời gian cho việc truy cập internet
hơn, người sử dụng Internet Việt Nam dành khá nhiều thời gian để lên mạng với trung bình là 142
phút/ngày trong tuần (2012), cao hơn 3 lần so với năm 2008 (43 phút/ngày) . Việc truy cập Internet
chủ yếu qua máy tính để bàn (84%), máy tính xách tay (38%) và thiết bị di động (27%)…
• Công nghệ để thực hiện một thị trường điện tử đã rẻ đi rất nhiều.
Thêm vào đó là xu hướng kết nối nhiều thông tin chào hàng khác nhau thông qua các giao
diện lập trình ứng dụng để thành lập một thị trường chung có mật độ chào hàng cao.
• Dân số Việt Nam là dân số trẻ, tiếp thu công nghệ mới nhanh, lại rất nhanh nhạy trong
các việc kinh doanh online.
Theo khảo sát của hãng nghiên cứu IDC Việt Nam, có 58% người sử dụng Internet ở Việt
Nam đã từng mua hàng Online.
• Nhà nước chủ trương đào tạo nguồn nhân lực thúc đẩy thương mại điện tử phát triển
TMĐT cũng đã chính thức được đưa vào trong chương trình đào tạo ở các bậc đại học, cao
đẳng và sau đại học, tạo cơ sở vững chắc để tạo nên một đội ngũ có chuyên môn cao về lĩnh vực này.
Việc đào tạo chính quy về TMĐT phát triển khá nhanh. Tính đến năm 2010, có 77 trường đã tiến hành
đào tạo TMĐT, bao gồm 49 trường đại học và 28 trường cao đẳng. Trong số các trường đại học đã đào
tạo TMĐT, có 01 trường đã thành lập khoa TMĐT, 10 trường thành lập bộ môn TMĐT. Trong số các
trường cao đẳng, có 01 trường thành lập khoa TMĐT, 4 trường thành lập bộ môn TMĐT. Từ năm
2008-2010, có thêm 15 trường tổ chức giảng dạy TMĐT.
15
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
• Doanh nghiệp đầu tư ngày càng nhiều vào thương mại điện tử
Kết quả điều tra khảo sát năm 2011 cho thấy 100% doanh nghiệp đều trang bị máy tính. Kết
quả này phù hợp với thực tế là các doanh nghiệp đều quan tâm tới việc nâng cấp, mua mới máy tính,
16
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
2008
20092010
2011
67
%
55
%
56
%
47
%
%
50
%
72
15
%
18
%
%
20
23
%
hướng giảm đi khi nhiều doanh nghiệp đã sử dụng hình thức kết nối Internet qua đường truyền riêng
với tỷ lệ là 19%. Hình thức kết nối Internet qua quay số chiếm 1%.
Hình: Hình thức kết nối Internet cả nước năm 2011
1
%
19
%
78
17
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
%
2
%
ADS
L
Quay số
Đường truyền riêng
Không kết nối
Nhìn chung, cơ cấu đầu tư cho công nghệ thông tin năm 2011 không có sự khác biệt
nhiều với các năm 2009 và 2010. Tỷ lệ chi phí cho phần cứng là 55%, tiếp tục chiếm tỷ trọng
lớn nhất. Tỷ lệ này tăng lên nhiều so với hai năm trước. Đây là xu hướng chung của tình hình
ứng dụng và triển khai công nghệ thông tin trong nhiều năm qua và chưa có dấu hiệu thay đổi
mang tính bước ngoặt. Tỷ lệ chi phí dành cho phần mềm là 29%, tương đương với tỷ lệ tương
ứng của năm 2010. Tỷ lệ chi phí cho đào tạo và chi khác là 8% và 9%, thấp hơn các tỷ lệ
tương ứng của năm 2010.
18
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
• Hệ thống ngân hàng đang có sự chuyển mình mạnh mẽ.
Nhiều ngân hàng đầu tư xây dựng hệ thống ngân hàng lõi, hệ thống chuyển mạch, cung cấp
hẹp.
Về nguyên tắc, người mua không phải là người nộp thuế đối với thuế GTGT,
Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) hoặc Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) nhưng do người bán
ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nên việc yêu cầu đăng ký còn bị hạn chế. Nên chăng cần có
một quy định là trước khi cung cấp dịch vụ qua biên giới cho người tiêu dùng, doanh
nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ cần đăng ký thuế (điện tử) với cơ quan Thuế Việt
Nam và trích tiền thuế khấu trừ khi người mua trả tiền mua dịch vụ theo chính sách
thuế mà Việt Nam ban hành.
Các hoạt động mua bán hàng hoá truyền thống giữa những người tiêu dùng hiện
nay không phải là đối tượng điều chỉnh của các loại thuế nên không phải đăng ký thuế.
Tuy nhiên, trong tương lai việc cung cấp dịch vụ trong TMĐT qua hình thức C2C hoặc
C2B phát triển, nếu không quản lý và điều chỉnh sẽ gây thiệt thòi cho những doanh
nghiệp kinh doanh TMĐT và không tạo công bằng trong môi trường kinh doanh.
• Cơ chế giám sát, chế tài chưa đủ mạnh
Do hoạt động TMĐT được thực hiện trên môi trường điện tử nên giám sát việc
thực thi các văn quản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này là một thách thức lớn đối
với các cơ quan quản lý nhà nước. Nguồn lực giám sát còn hạn chế, tần suất các hoạt
động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành thấp, hiệu quả chưa cao, chưa có cơ chế giám
sát trực tuyến các hoạt động trên môi trường điện tử. Bên cạnh đó, nhiều quy định về
mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực TMĐT còn thấp, chưa đủ
mạnh để răn đe, tạo ra sự tuân thủ tốt trong xã hội. Đây sẽ là những vấn đề cần được
21
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
tập trung khắc phục trong giai đoạn tới để tăng cường hiệu lực của hệ thống pháp luật,
tạo môi trường thật sự lành mạnh và an toàn cho TMĐT phát triển.
• Ý thức thi hành pháp luật của người dân chưa cao
Các cơ quan quản lý nhà nước đã triển khai nhiều biện pháp để đưa các văn bản
quy phạm pháp luật đến với người dân và doanh nghiệp như tổ chức hội thảo, hội nghị
để hướng dẫn trực tiếp, tuyên truyền phổ biến qua đài phát thanh, đài truyền hình, báo
chí, cung cấp nội dung văn bản và thông tin liên quan lên các trang thông tin điện tử về
hay quần áo. Lựa chọn ngay trên mạng không đem lại cho họ đủ thông tin khiến họ tin
tưởng đó là một quyết định đầy đủ.
Nguyên nhân chủ yếu khiến thương maị điện tử Việt Nam phát triển chậm đó là người tiêu
dùng vẫn còn chưa hiểu và chưa tin vào các giao dịch thông qua hình thức thương mại điện tử. Lòng
tin của người tiêu dùng về bảo vệ thông tin cá nhân, bảo vệ người tiêu dùng và việc giải quyết các
tranh chấp trong giao dịch mua bán trực tuyến là một trong những rào cản lớn đối với sự phát triển
thương mại điện tử Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, tâm lý tin dùng dịch vụ nước ngoài của người dùng sẽ khiến các công ty TMĐT
trong nước có thể thua từ ngay trên sân nhà. Người dùng có thể trả tiền để đặt sách trên Amazon (Mỹ)
và chở chuyển về Việt Nam hay mua hàng tá hàng thời trang trên Gmarket (Hàn Quốc). Nhưng sẽ dè
dặt hơn khi mua hàng của một công ty TMĐT trong nước vì chưa tin tưởng
Một nguyên nhân nữa làm người tiêu dùng không tin tưởng vào các giao dịch trực tuyến đó là
nạn hàng giả và hàng nhái. Người mua cần phải xem xét hàng hóa trực tiếp để đảm bảo chất lượng khi
tiến hành giao dịch. Không có ai đảm bảo về chất lượng của các sản phẩm, cũng không có bất kì một
quy định nào để kiểm soát các loại hàng hóa được rao bán trên các trang thương mại điện tử của Việt
Nam hiện nay dẫn đến tình trạng hàng hóa không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Đối với các hàng hóa
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dùng như thực phẩm, mỹ phẩm thì việc mua các sản phẩm
không rõ chất lượng và nguồn gốc xuất xứ là điều khá nguy hiểm. Đó là lí do vì sao khách hàng không
tin tưởng vào chất lượng hàng hóa trên các trang thương mại điện tử. Thực tế cho thấy, nhiều khách
hàng đã rất thất vọng với sản phẩm mà mình nhận được vì nó khác xa so với sự mô tả của sản phẩm
khi được quảng cáo. Niềm tin vào hình thức mua bán trực tuyến vì thế cũng bị lung lay.
Nguyên nhân của thực trạng này được chỉ ra là do mô hình TMĐT đã bị lạm dụng, bóp méo
bởi các nhà cung cấp thiếu chuyên nghiệp. Đặc biệt, trong năm 2012 còn ghi nhớ sự xuất hiện các mô
hình hoạt động trá hình TMĐT mà vụ Muaban24 là một điển hình. Vụ việc đã khiến người tiêu dùng
hiểu sai về hình thức kinh doanh này, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của các đơn vị làm ăn chân
chính khác. Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin cho
biết, một số doanh nghiệp đã lợi dụng danh nghĩa phát triển TMĐT để thu lợi từ việc lôi kéo người
tham gia website mà không tập trung nâng cao chất lượng thông tin trên website, làm tổn hại đến niềm
tin của cộng đồng, cản trở sự phát triển của lĩnh vực TMĐT.
23
Ông Dương Hoàng Minh, Phó cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Công
nghệ thông tin cho biết: một trong những hình thức vi phạm bảo vệ dữ liệu cá nhân rất
phổ biến là việc thu thập địa chỉ thư điện tử trái phép để phục vụ cho nhiều mục đích
24
[Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển TMĐT ở VN] [NVTMQT – Nhóm 1]
khác nhau, từ quảng cáo trực tuyến đến bán danh sách các địa chỉ này chongười có nhu
cầu. Bên cạnh đó là các hiện tượng ăn cắp, lừa đảo lấy thông tin tài khoản cá nhân,
phát tán thông tin và hình ảnh riêng tư, lừa đảo qua thẻ ATM. Một kết quả khảo sát
khác của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin trong giai đoạn 3 năm (từ cá
nhân, luôn được các doanh nghiệp đánh giá là một trong những rào cản lớn nhất (xếp
2006- 2008) cho thấy, vấn đề bảo mật, an toàn thông tin, trong đó bao gồm cả thông
tin thứ 3 trong số 7 trở ngại lớn nhất) đối với sự phát triển TMĐT ở Việt Nam. Theo
ông Dương Hoàng Minh, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử (TMĐT) và Công
nghệ Thông tin, Bộ Công thương đưa ra một ví dụ về việc hơn 7 triệu địa chỉ email
công ty, doanh nghiệp, cá nhân, kèm theo phần mềm phát tán thư rác chuyên nghiệp
đang được rao bán trên một số diễn đàn với giá không thể "bèo bọt" hơn là 350.000
VND, tức là chưa đầy 20USD. Cảnh báo về rủi ro mất an toàn thông tin, ông Vũ Quốc
Thành, Phó chủ tịch Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam (VNISA) đưa ra những con
số khảo sát: hiện chỉ có 37% tổ chức có quy chế về an toàn thông tin, 33% tổ chức sẽ
xây dựng quy chế trong thời gian tới, còn lại tới 30% tổ chức chưa có ý định này.
• Dịch vụ giao nhận
- Chưa có đơn vị thứ 3 thực sự chuyên nghiệp để đảm bảo tốt dịch vụ giao nhận mà
không ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ, hầu hết các đơn vị làm TMĐT đều phải tự
xây dựng đội ngũ giao nhận để nắm quyền chủ động trong việc kiểm soát và điều phối
hiệu quả cũng như chất lượng phục vụ khách hàng
- Do đặc thù địa lý Việt Nam trải dài, mặt khác volume thị trường còn bé đồng thời
việc tự tổ chức đội ngũ giao nhận khiến cho chi phí giao nhận rất cao, chiếm từ 10-
15% giá trị của 1 giao dịch.
• Khó khăn từ phía doanh nghiệp
Xét một cách toàn diện thì các đơn vị làm TMĐT vẫn đang ở tâm lý vừa làm