PHIẾU MÔ TẢ VỀ DỰ ÁN DỰ THI
I. TÊN DỰ ÁN DẠY HỌC:
VẬN DỤNG CÁC KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA
PHƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ
II. MỤC TIÊU DẠY HỌC .
1. Kiến thức.
- Thông qua việc dạy học địa lí địa phương, giúp học sinh:
+ Vận dụng các kiến thức Địa lí để tìm hiểu các đặc điểm Tự nhiên, Kinh tế, Dân
cư, xã hội tỉnh Phú Thọ.
+ Vận dụng các kiến thức Lịch sử để tìm hiểu quá trình thành lập tỉnh Phú Thọ và
các giai đoạn phát triển của nó.
+ Vận dụng các kiến thức văn học để nắm được văn hóa, xã hội và con người Phú
Thọ.
+ Vận dụng các kiến thức toán thống kê để nắm bắt các đặc điểm về số liệu Diện
tích, TNTN, dân cư, kinh tế… của tỉnh.
+ Vận dụng kiến thức âm nhạc để tìm hiểu về đời sống văn nghệ con người Phú
Thọ.
2. Kĩ năng
- Vận dụng các kiến thức đã học, có hiểu biết tổng quát và cụ thể về đất và người
Phú Thọ.
- Giải thích được các tình huống cụ thể trong cuộc sống
3. Thái độ.
- Có tình cảm yêu quý quê hương Phú Thọ nói riêng và đất nước, con người Việt
Nam nói chung.
- Có hành động thiết thực, cụ thể để xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.
4. Năng lực vận dụng của học sinh
Học sinh vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề liên quan trong
cuộc sống hành ngày, ví dụ:
- Biết xác định vị trí địa phương để xác định các khoảng cách.
- Xác định vị trí Phú Thọ để nghe dự báo thời tiết
- Biết các đặc điểm KTXH địa phương để có sự lựa chọ nghề nghiệp bản thân…
- Máy chiếu
- Máy quay phim.
VI. HOẠT ĐỘNG VÀ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1. Hoạt động dạy học.
Hoạt động của thầy và
trò
Nội dung
A. Mở bài.
Giáo viên cho học
sinh xem một đoạn
video của Sở Văn
hóa - Thể thao và du
lịch Phú Thọ giới
thiệu sơ lược về đất
và người Phú Thọ.
- GV : Qua đoạn
phim trên phần nào
cho ta thấy được các
đặc điểm về địa lí
Tỉnh Phú Thọ, tuy
nhiên để hiểu cụ thể,
chi tiết hơn, chúng ta
cùng nhau tìm hiểu
bài này.
B. Hoạt động dạy
học
* Hoạt động 1. Sử
dụng kiến thức Địa lí
để xác định vị trí địa
lí tỉnh Phú Thọ
dụng kiến thức Lịch
sử, tìm hiểu sự phân
chia hành chính
Phú Thọ được coi là vùng Đất tổ cội nguồn của Việt
Nam. Tương truyền tại nơi đây các vua Hùng đã dựng
nước nên nhà nước Văn Lang - nhà nước đầu tiên của
- Quá trình thành
lập.
- Sự phân chia hành
chính
Việt Nam, với kinh đô là Phong Châu, tức xung quanh
thành phố Việt Trì ngày nay.
Thời Hùng Vương, nhà nước Văn Lang được chi thành
16 bộ, trong đó Phú Thọ thuộc bộ Văn Lang, trung tâm
của nước Văn Lang.
Thời An Dương Vương với nhà nước Âu Lạc, Phú Thọ
thuộc huyện Mê Linh.
Dưới thời Bắc thuộc (từ năm 111 trước Công nguyên đến
thế kỷ thứ 10), Phú Thọ thuộc quận Mê Linh, Tân
Xương, Phong Châu.
Thời kỳ phong kiến độc lập nhà Lí Trần, phân cấp hành
chính của Việt Nam có sự thay đổi, chế độ quận, huyện
thời Bắc thuộc được thay thế bằng các đạo (lộ, trấn, xứ,
tỉnh), dưới đạo là các phủ, châu, huyện. Phú Thọ thuộc
lộ Tam Giang.
Từ thời nhà Lê đến đầu triều nhà Nguyễn (1428 - 1891),
phần lớn tỉnh Phú Thọ ngày nay thuộc tỉnh Sơn Tây trừ
huyện Thanh Xuyên và huyện Yên Lập thuộc tỉnh Hưng
Hoá (huyện Thanh Xuyên nay là 3 huyện Tân
Sơn, Thanh Sơn và Thanh Thuỷ; huyện Yên Lập thuộc
thành lập gồm có:
• Các huyện Tam Nông, Thanh Thuỷ của tỉnh Hưng
Hoá (huyện Thanh Thuỷ bỏ tổng Cự Thắng nhưng
tăng thêm tổng Tinh Nhuệ của huyện Thanh Sơn).
• Các huyện Sơn Vi, Thanh Ba và Phù Ninh của
phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây.
Như vậy tỉnh Hưng Hoá mới thành lập có 5 huyện và là
tiền thân của tỉnh Phú Thọ sau này.
Ngày 9 tháng 12 năm 1892 Toàn quyền Đông Dương ra
nghị định chuyển huyện Cẩm Khê nằm trong địa bàn tiểu
quân khu Yên Bái về tỉnh Hưng Hoá mới; ngày 5 tháng 6
năm 1893 huyện Hạ Hoà tách khỏi tiểu quân khu Yên
Bái nhập vào tỉnh Hưng Hoá mới (trước đó ngày 9 tháng
9 năm 1891 Toàn quyền Đông Dương đã điều chuyển
huyện Cẩm Khê và huyện Hạ Hoà thuộc phủ Lâm Thao,
tỉnh Sơn Tây về tiểu quân khu Yên Bái).
Tiếp đó ngày 17 tháng 7 năm 1895, hai châu Thanh
Sơn và Yên Lập thuộc khu quân sự Đồn Vàng chuyển về
tỉnh Hưng Hoá mới.
Ngày 24 tháng 8 năm 1895 hai huyện Hùng
Quan và Ngọc Quan của phủ Đoan Hùng thuộc tiểu quân
khu Tuyên Quang thuộc đạo quan binh 3 Yên Bái nhập
vào tỉnh Hưng Hoá mới.
Năm 1900 thành lập thêm huyện Hạc Trì.
Ngày 5 tháng 5 năm 1903, Toàn quyền Đông Dương ký
nghị định thành lập thị xã Phú Thọ trên cơ sở làng Phú
Thọ thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi. Khi đó thị xã
Phú Thọ nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Hưng Hoá lại có
sân bay, đường sắt sang Trung Quốc và nhà ga nên Toàn
quyền Đông Dương Paul Dumer đã quyết định chuyển
một thị trấn Hưng Hoá. Toàn tỉnh có 66 tổng, 467 làng
xã, 22 phố.
Sau Cách mạng tháng Tám, về mặt hành chính nhà nước
Việt Nam thống nhất gọi các phủ, châu, huyện là huyện,
bỏ cấp tổng và tiến hành hợp nhất các làng nhỏ thành xã.
Năm 1946, tỉnh Phú Thọ từ 467 làng cũ hợp nhất thành
106 xã mới. Do có xã quá lớn nên giữa năm 1947 chính
phủ lại chia tách một số xã, đưa số xã từ 106 lên 150 xã.
Cũng năm 1947, 5 huyện hữu ngạn sông Thao là Cẩm
Khê, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn và Yên Lập
sát nhập vào khu 14 không thuộc tỉnh Phú Thọ. Đến
tháng 2 năm 1948 khu 14 hợp nhất với khu 10 thành liên
khu 10, 5 huyện hữu ngạn sông Thao lại trở về tỉnh Phú
Thọ.
Ngày 26 tháng 1 năm 1968, Uỷ ban thường vụ Quốc
hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nghị quyết số
504-NQ/TVQH tiến hành hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ
và Vĩnh Phúcthành tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Việt Trì trở
thành tỉnh lỵ của Vĩnh Phú.
Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã thông qua nghị
quyết (ngày 26/11/1996) về việc chia và điều chỉnh địa
giới hành chính một số tỉnh, trong đó có việc tái lập tỉnh
Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ. Tỉnh Phú Thọ chính thức
được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm
1997, ngay năm sau Phú Thọ được công nhận là tỉnh
miền núi.
Khi tách ra, tỉnh Phú Thọ có diện tích 3.465,12 km², dân
số 1.261.949 người, gồm 10 đơn vị hành chính cấp
huyện: thành phố Việt Trì (tỉnh lỵ), thị xã Phú Thọ và 8
huyện Thanh Ba, Hạ Hòa, Đoan Hùng, Sông
Theo lộ trình đến 2020 thì huyện Thanh Ba nâng
cấp lên thành thị xã Thanh Ba.
11.Huyện Thanh Sơn: 1 thị trấn Thanh Sơn và 22 xã
12.Huyện Thanh Thủy: 1 thị trấn Thanh Thuỷ và 14
xã
13.Huyện Yên Lập: 1 thị trấn Yên Lập và 16 xã
*Hoạt động 3. Vận
dụng kiến thức toán
thống kê, tìm hiểu
các đặc điểm về
Điều kiện tự nhiên,
TNTN và sự phát
triển kinh tế
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh 3.532,9493 km², chiếm
1,5% diện tích cả nước.
Khí tượng thủy văn
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có
một mùa đông khô và lạnh. Nhìn chung khí hậu của Phú
Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa
dạng.
- Lượng mưa trung bình hàng năm trên toàn tỉnh là 1600
– 1800 mm/năm
- Bài tập: Tính nhiệt
độ và lượng mưa
trung bình của địa
phương trong 3
năm( Trạm khí hậu
Phú Hộ).
- Bài tập: Xác định
dạng địa hình chính
Theo điều tra dân số ngày 01/04/2009 Phú Thọ có
1.313.926 người với mật độ dân số 373 người/km². Tỷ lệ
dân số sống tại nông thôn, vùng núi khoảng 85% và
tại thành thị khoảng 15%. Theo Nghị định 05/NĐ-CP,
Phú Thọ có 1.400.226 người vào thời điểm tháng 1/2009.
Kinh tế
Năm 2009, thu nhập bình quân GDP/người đạt
1321USD/người
- Nông nghiệp năm 2007 đạt 1621,4 tỉ đồng, giai đoạn
1996-2000 giá trị sản xuất tăng trung bình 4,55%
- Công nghiệp:
+ Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trung bình
14,9%/năm trong giai đoạn 1996-2000 trong đó công
nghiệp nhà nước tăng 10,8%/năm; công nghiệp ngoài
quốc doanh tăng 16,6%/năm; công nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tăng 31,6%/năm. Năm 1999 sản xuất công
nghiệp và xây dựng đạt giá trị 1219,7 tỉ đồng
- Dịch vụ: Phát triển tương đối phong phú đa dạng thích
ứng với cơ chế thị trờng phục vụ tốt nhu cầu sản xuất và
đời sống, năm 1999 đạt 1140,6 tỉ đồng
*Hoạt động 4. Vận
dụng các kiến thức
chung … tìm hiểu
đời sống văn hóa,
tinh thần
- Bài tập: Địa
phương có những lễ
hội nào được tổ chức
ở đâu? khi nào? ý
nghĩa của những lễ
Hiền Luơng)
- Hội đình Cả
- Hội chọi trâu Phù Ninh
- Hội Chu Hóa
- Hội mở cửa rừng
- Hội đánh cá
- Lễ Cầu tháng Giêng
- Hội phết Hiền Quan
- Hội Xoan
- Hội đình nghè tổ chức tại xã Văn Lang, huyện Hạ Hòa,
vào ngày chính hội mùng 10 tháng giêng hàng năm.
- Hội đền Nghè ở xã Năng Yên, Thanh Ba vào ngày
mùng 7 tháng giêng hàng năm.
Làng nghề truyền thống
Xã Sai Nga huyện Cẩm Khê có nghề truyền thống là
may nón lá. Đây là loại nón làm từ lá cọ. Trước đây khi
nón lá còn thịnh hành tại làng nghề này nhà nào cũng
may nón bán nhưng hiện nay khi cuộc sống, nhu cầu đã
thay đổi, ít người còn làm. Ngoài ra còn có làng ủ ấm
Sơn Vi ( huyện Lâm Thao ), làng làm bún Hùng Lô ( xã
Hùng Lô - TP. Việt Trì ) đã được UBND tỉnh công nhận
là làng nghề truyền thống.
Phong tục
Sau khi uống xong một chén rượu hay một cốc bia người
dân Phú Thọ nói riêng và một số tỉnh miền Tây Bắc nói
chung (Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai) thường bắt tay, thể
hiện tình cảm và sự trân trọng với nhau
Ẩm thực
Phú Thọ có một số sản vật địa phương khá đặc biệt:
- Hoa quả: tại Đoan Hùng có bưởi Đoan Hùng (xưa còn
- Thịt động vật: các món thịt chó Việt Trì và thịt
chua làm từ thịt lợn lên men bằng thính gạo tại huyện
Thanh Sơn là những món ăn được biết đến không chỉ
trong tỉnh.
- Rau: có thể kể đến rêu đá tại huyện Thanh Sơn làm từ
các loại rêu vớt dưới suối, tẩm ướp và nướng. Bên cạnh
đó là rau sắng, đặc sản của Vườn quốc gia Xuân Sơn,
huyện Tân Sơn.
- Bánh: ẩm thực Phú Thọ có món bánh tai dân dã nhưng
không kém phần đặc sắc. Đây là loại bánh có từ xa xưa
với tên gọi bánh Hòn. Bánh tai có hình thù giống cái tai,
là thứ bánh bột gạo tẻ, nhân thịt lợn ướp hành, dễ làm, là
món ăn hòa quyện của các vị dẻo, giòn, bùi, ngọt, béo
ngậy và thơm. Bánh tai có thể ăn thay cơm tẻ trên các
mâm cỗ cưới, cỗ tết, đem bán hoặc làm quà biếu như
một loại đặc sản địa phương.
- Cơm: tại các vùng núi phía Bắc tỉnh thịnh hành
món cơm lam làm từ gạo nếp nương, đặc biệt là món xôi
cọ là loại xôi được đồ từ gạo nếp trộn với thịt quả cọ đã
được om chín.
* Hoạt động 5: Vận
dụng kiến thức văn
học tìm hiểu đời
sống văn hoá, nhân
văn.
- Truyện cười Văn Lang.
Tính hài hước của người Văn Lang bắt nguồn từ quá
trình lao động vất vả, cực nhọc. Nỗi cực nhọc này còn đi
cả vào thơ ca: “Dù ai đi ngược về xuôi/ Váy ngắn quá
gối là người Văn Lang”, hay: “Ăn cơm với chồng mới
thứ hai sứ quán Việt Nam tại Rumani. Sau đó ông về
làm Trưởng ty (bây giờ gọi là Giám đốc sở) Văn hoá Phú
Thọ. Người ta nhớ Bút Tre, không phải vì những bài thơ
trữ tình, cũng không vì thơ ông gần với những bài ca
dao, mà vì cách làm thơ, gieo vần của ông thật bất ngờ,
thường mang đến cho những người nghe sự sảng
khoái sau những giờ lao động mệt nhọc căng thẳng.
Câu lục bát nổi tiếng nhất mà có rất nhiều người thuộc
khi nhắc đến ông là câu nói về Đại tướng Võ Nguyên
Giáp:
Hoan hô đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về
Thơ của ông rất trào phúng:
Làng ta có cái núi voi
Đủ cả đầu đuôi, đủ cả vòi
Voi cũng hăng say đua sản xuất
Đầu thì trồng sắn đít trồng khoai.
từ đó thơ Bút Tre dân gian sáng tác thêm theo lối Hoan
hô:
"Hoan hô đồng chí Hà Đăng
Ấn cho tàu chạy băng băng như rùa "
*Hoạt động 6 : Vận
dụng kiến thức âm
nhạc tìm hiểu về Hát
Xoan Phú Thọ.
- Giáo viên sử dụng
đĩa hát và máy chiếu.
* Bài tập : Học sinh
thực hành hát một số
làn điệu Xoan trong
(Qua hòa) anh chẳng biết thời em giảng anh nghe:
Huê sim, huê mua nở trên rừng bạc bội
Nhược bằng huê lúa nở nội đồng không
Nhược bằng huê dứa nở bẩy tám lần chông
Nhược bằng huê cải nở mùa đông vàng trắng vàng
Kết luận :
- Tri thức của nhân loại rất rộng lớn, đó là kết quả quá
trình lao động sáng tạo không mệt mỏi của biết bao thế
hệ loài người. Nhiệm vụ của học sinh chúng ta là biết
tiếp thu có sáng tạo và vận dụng những kiến thức đó vào
thực tiễn cuộc sống. Việc nghiên cứu, tìm hiểu địa lí địa
phương cũng nhằm mục đích vận dụng sáng tạo các kiến
thức từ nhiều môn học vào giải quyết các vấn đề đặt ra
hàng ngày. Qua đó giúp các em có những hiểu biết đúng
đắn về quê hương đất nước, bồi đắp những tình cảm tốt
đẹp và có những hành động cụ thể để giữ gìn, phát huy
những truyền thống tốt đẹp của quê hương và xây dựng
quê hương ngày càng giàu đẹp.
2. Phương pháp dạy học :
Sử dụng một số phương pháp dạy học chủ yếu sau :
- Phương pháp vấn đáp - thuyết trình.
- Phương pháp thảo luận nhóm - phát hiện kiến thức
- Phương pháp điều tra lấy ý kiến
- Phương pháp trực quan phát hiện
3. Phương pháp kiểm tra đánh giá :
- Kiểm tra những kiến thức cơ bản qua bài kiểm tra.
- Kiểm tra mức độ vận dụng kiến thức đã học vào thực tế bằng cách đưa
ra các tình huống
- Kiểm tra kĩ năng vận dụng vào thực tế ở nhà
VII. KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP :
được gọi là sông Thao), sông Lô và sông Đà, chúng hợp lại với nhau ở Thành phố
Việt Trì. Chính vì thế mà đây được gọi là "ngã ba sông".
- Giá trị:
+ Cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt
+ Giao thông vận tải đường sông
+ Khai thác cát sỏi vật liệu xây dựng
+ Bồi đắp phù sa
+ Đánh bắt nuôi trồng thuỷ sản
Câu 5: ( 2 điểm)
- Hát Xoan là một thể loại dân ca lễ nghi rất đặc biệt trong kho tàng văn
học dân gian Việt Nam. Do trước đây hát xoan thường được trình diễn
trước cửa đình làng vào những ngày hội Xuân nên còn được gọi là “khúc
môn đình”. Tên “Xoan” là do biến âm từ chữ Xuân mà ra.
- Những người hát Xoan tập họp theo nhóm từ 4 - 5 kép và 10 - 15 đào
thành một “phường”, đứng đầu là ông Trùm. Y phục phường Xoan cũng
giống Quan họ Bắc Ninh: nam thì áo the, khăn xếp, quần trắng và nữ thì
mặc áo năm thân, khăn mỏ quạ, thắt lưng bao, quần lụa, đeo xà tích…
- Các buổi hát Xoan được trình diễn theo thứ tự với phần nghi lễ, phần hát
cách hay còn gọi quả cách, phần hát hội và phần giã cá
- Hát Xoan Phú Thọ được UN ESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật
thể của nhân loại năm 2012
Câu 6 : (2 điểm)
- Nhà thơ Bút Tre tên thật là Đặng Văn Đăng, còn gọi là Đặng Văn
Quang, quê xã Đồng Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Ông sinh
năm 1911, mất năm 1987. Ông lấy bút danh là Bút Tre. Ông đỗ tú
tài triết học dưới thời Pháp thuộc, viết báo dưới thời đó với bút
danh Lục Y Lang
- Một số đoạn thơ tiêu biểu:
«Hoan hô đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về »