Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LÊ THỊ NHUNG GIÁO DỤC BẢO TỒN TIẾNG MẸ ĐẺ CHO HỌC SINH
DÂN TỘC THIỂU SỐ CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
TỈNH QUẢNG NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iv
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụ .
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Quảng Ninh, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thị Nhung XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN
TS. Hà Thị Kim Linh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iv
LỜI CẢM ƠN v
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ xi
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6. Phạm vi nghiên cứu 4
7. Phương pháp nghiên cứu 4
8. Cấu trúc luận văn 5
Chƣơng 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BẢO TỒNTIẾNG MẸ
ĐẺ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞNGƢỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ 6
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước 8
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 12
1.2.1. Dân tộc thiểu số 12
1.2.2. Bảo tồn tiếng mẹ đẻ 13
2.3.2. Thực trạng giáo dục bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho HS người DTTS
trường THCS Thị Trấn và THCS Minh Cầm trên địa bàn huyện Ba Chẽ
- tỉnh Quảng Ninh 51
2.3.3. Thực trạng giao tiếp bằng tiếng DTTS của GV ở trường THCS
Thị Trấn và THCS Minh Cầm, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh 62
2.3.4. Thực trạng công tác giáo dục bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho học sinh
DTTS ở trường THCS Thị Trấn và THCS Minh Cầm, huyện Ba Chẽ,
Quảng Ninh 64
2.4. Đánh giá thực trạng và nguyên nhân 80
2.4.1. Đánh giá chung về thực trạng 80
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
viii
2.4.2. Nguyên nhân 81
Chƣơng 3.BIỆN PHÁP GIÁO DỤC BẢO TỒNTIẾNG MẸ ĐẺ CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞNGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 83
3.1. Những nguyên tắc chỉ đạo đề xuất biện pháp 83
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 83
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 83
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng giáo dục 84
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 84
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 85
3.1.6. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 85
3.2. Biện pháp giáo dục bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho học sinh người DTTS ở
trường THCS 85
3.2.1. Hoàn thiện những điều kiện pháp lý về giáo dục bảo tồn tiếng mẹ
đẻ cho học sinh người DTTS ở trường THCS 86
3.2.2. Tổ chức sinh hoạt chuyên đề giáo viên hướng tiếp cận nội dung
bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho học sinh THCS là người DTTS 87
3.2.3. Đổi mới hình thức tổ chức HĐGDNGLL theo hướng giáo dục
GD
5
Giáo dục và Đào tạo
GD & ĐT
6
Giáo viên
GV
7
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HĐGDNGLL
8
Học sinh
HS
9
Nhà xuất bản
NXB
10
Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
UNICEF
11
Trung học cơ sở
THCS
12
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của
Liên hiệp quốc
UNESCO Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khả thi của các biện pháp đề xuất thực hiện công tác giáo dục
bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho học sinh DTTS các trường THCS. 99
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
xi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Quan hệ giữa các biện pháp giáo dục bảo tồn tiếng mẹ đẻcho
học sinh DTTS các trường THCS tỉnh Quảng Ninh. 98
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, trong
đó các dân tộc thiểu số chiếm 13,8% tổng dân số cả nước. Mỗi một dân tộc có
nét đặc trưng văn hóa và ngôn ngữ riêng vì thế văn hóa và ngôn ngữ của nước
ta hết sức phong phú. Có thể nói, đó là một thế mạnh mà không phải quốc gia
nào cũng may mắn có được.
Ngôn ngữ là một di sản vô cùng quý báu của mỗi dân tộc. Bởi lẽ, ngôn
ngữ là sản phẩm kết tinh nhiều nhân tố (tư duy, phong tục, văn hóa, địa lý…)
của cộng đồng cư dân qua bao thế hệ. Ngôn ngữ của mỗi dân tộc không chỉ
đơn thuần là phương tiện để truyền tải thông tin mà nó còn là “hồn thiêng”
của mỗi dân tộc. Nó hàm chứa trong đó rất nhiều yếu tố huyền bí của văn hóa
và lịch sử mỗi dân tộc.
Trước tình hình hội nhập giữa các vùng miền trong nước, giữa các đất
nước trong cùng khu vực và trên thế giới thì việc biết nhiều ngôn ngữ ngoài
tiếng mẹ đẻ là cần thiết và vô cùng hữu ích. Ai cũng có quyền sử dụng ngôn
ngữ của dân tộc khác nếu ngôn ngữ đó là cần thiết cho sự thành đạt nhưng đồng
Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thị Nghĩa cho rằng “Tiếng mẹ đẻ là nguồn tài
nguyên của mỗi cộng đồng với chức năng to lớn của mình - chức năng giao
tiếp, chức năng thông tin, chức năng giáo dục. Tiếng mẹ đẻ góp phần cho sự
phát triển của mỗi cá nhân và cộng đồng. Ngôn ngữ là trung tâm của mọi hoạt
động của con người”. Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng cũng đã
từng khẳng định rằng: ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số là
“chìa khóa” để mở cửa văn minh. Tiếng nói, chữ viết là nền tảng, là gốc của
mỗi dân tộc, là vốn quý của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Quảng Ninh được ví như hình ảnh đất nước Việt Nam thu nhỏ. Dân số
tỉnh Quảng Ninh có 1.144.381 người với 22 thành phần dân tộc, trong đó 21
thành phần dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn rộng lớn (hơn 85% diện tích của
tỉnh). Cả tỉnh Quảng Ninh có 143.278 người dân tộc thiểu số, chiếm 12,53 dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3
số toàn tỉnh. Các địa phương có đồng bào dân tộc thiếu số cao là: Bình Liêu
(chiếm 95,8% dân số toàn huyện), Ba Chẽ (chiếm 79,8% dân số toàn huyện),
Tiên Yên (chiếm 47,2% dân số toàn huyện), tiếp đến là Hoành Bồ, Đầm Hà,
Hải Hà, Cẩm Phả, Vân Đồn. Về ngôn ngữ, các dân tộc Quảng Ninh đều có ngữ
hệ lớn như: nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (dân tộc Kinh, Mường, Thổ), nhóm
ngôn ngữ Môn - Khơ me (dân tộc Khơ me), nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (dân
tộc Tày, Thái, Nùng, Sán Chay, Giáy), nhóm ngôn ngữ Hán - Tạng (dân tộc
Hoa, Ngái, Sán Dìu).
Mặc dù đã nhận được nhiều sự quan tâm, các chính sách của Đảng và Nhà
nước, các dự án nước ngoài nhằm thực hiện công tác giáo dục bảo tồn tiếng mẹ
đẻ cho học sinh là người dân tộc thiểu số, nhưng chủ yếu chỉ dừng lại ở bậc
Mầm non và Tiểu học mà chưa thực sự quan tâm, chú trọng để duy trì và phát
triển công tác giáo dục bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho học sinh người dân tộc thiểu số
ở các cấp học cao hơn từ Trung học cơ sở trở lên.
Từ thực tiễn đó, tôi lựa chọn vấn đề “Giáo dục bảo tồn tiếng mẹ đẻ cho
DTTS) cho học sinh là người DTTS trong phạm vi nhà trường.
Đề tài tập trung khảo sát trên GV và HS người DTTS tại trường THCS
Thị Trấn và trường THCS Minh Cầm, huyện Ba Chẽ - tỉnh Quảng Ninh.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin
khoa học, các tài liệu về những quan điểm xung quanh vấn đề; các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về việc bảo tồn tiếng DTTS. Ở đề tài này sử
dụng các phương pháp chủ yếu:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Nhằm phân tích và tổng hợp các tài
liệu khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu vấn đề.
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết: Nhằm sắp xếp các tài
liệu khoa học, văn bản chỉ đạo thành hệ thống lý luận logic chặt chẽ theo từng
mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, gồm:
- Phương pháp điều tra bằng anket:
Chúng tôi sử dụng anket (anket đóng và anket mở) để khảo sát trên GV,
CBQL và HS người DTTS nhằm thu thập thông tin phục vụ cho quá trình
nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp quan sát:
Quan sát trực tiếp một sốhoạt độngcủa HS DTTS ở các trường THCS Thị
Trấn và THCS Minh Cầm.
- Phương pháp trò chuyện:
Trò chuyện với một số GV và HS DTTS tại 2 trường THCS Thị Trấn và
THCS Minh Cầm để thu thập thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý những số liệu thu được
ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Vấn đề này và các vấn đề liên quan được đề
cập nhiều trong các bài viết và sách gần đây.
Vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc thiểu số ở Mỹ: trước những năm 1965, Mỹ
sử dụng chương trình giáo dục đơn ngữ, chỉ dạy duy nhất tiếng Mỹ mà không
có một chương trình tiếng nước ngoài hay tiếng dân tộc thiểu số nào được sử
dụng trong nhà trường nhằm hướng tới mục đích thống nhất quốc gia. Điều này
khiến các học sinh thiểu số gặp khó khăn về ngôn ngữ và là một trong những
nguyên nhân làm suy giảm chất lượng giáo dục cũng như bất đồng về chính trị
ở nước này. Từ thập niên 1970 đến nay và nhất là sau sự kiện 9-11-2001, nước
Mỹ xem việc đưa tiếng dân tộc thiểu số vào chương trình giáo dục là một biện
pháp để phát triển giáo dục và bình ổn an ninh quốc gia và có nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này. Điển hình là ba tập “Handbook of American Indian
languages” (Cẩm nang về các ngôn ngữ bản xứ Mỹ) xuất bản vào các năm
1911, 1922 và 1938 của người sáng lập ngành nhân học Bắc Mỹ, Franz
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
7
Boas (1858-1942). Trước nhu cầu cấp bách phải miêu tả các ngôn ngữ và nền
văn hoá của người bản xứ Bắc Mỹ mà phần lớn có nguy cơ diệt vong, Franz
Boas trong cuốn sách trên đã lần đầu tiên phác thảo một phương pháp để nhà
nghiên cứu có thể điều tra và miêu tả các ngôn ngữ mà mình không quen biết,
đồng thời cũng cho thấy thông qua ngôn ngữ, nhà nghiên cứu có thể “đọc”
được nền văn hoá của dân tộc nói ngôn ngữ ấy như thế nào. [32]
Về vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc của người dân tộc thiểu số (DTTS) ở
Trung Quốc: Nhà nghiên cứu Kondrashkina nghiên cứu về vấn đề bảo tồn
tiếng dân tộc trên cơ sở nghiên cứu chính sách ngôn ngữ đối với người DTTS
ở trung Quốc dựa trên việc hệ thống các vấn đề về chính sách ngôn ngữ của
nhà nước Trung Hoa, mối liên hệ giữa chính sách ngôn ngữ và giáo dục song
ngữ như là sự cụ thể của chính sách bảo tồn tiếng mẹ đẻ của học sinh là người
DTTS. Trong công trình nghiên cứu tác giả cho thấy sự phát triển của hệ
truyền thống là văn hoá giao tiếp bằng lời nói, ngôn ngữ lại còn quan trọng hơn
như một kiến thức (duy nhất) của văn hoá đó cùng với các giá trị truyền thống
của nó và cũng là hệ quả không thể thay thế được trong việc duy trì và phát
triển chính nền văn hoá đó.
Có thể nhận thấy các chính sách tiếng dân tộc của các nước đều hướng tới
giải quyết mối quan hệ: văn hóa - ngôn ngữ. Quá trình chuyển đổi, bảo tồn và
sự mất dần của ngôn ngôn ngữ tộc người gắn liền với các vấn đề như văn hóa,
ngôn ngữ tộc người, bản sắc văn hóa dân tộc. Các công trình chủ yếu tập trung
khai thác vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc trên cơ sở tiếp cận về chính sách ngôn
ngữ đối với người dân tộc thiểu số, vấn đề giáo dục song ngữ mà tiếng dân tộc
như là tiếng mẹ đẻ còn tiếng phổ thông như là ngôn ngôn ngữ thứ 2.
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
Nghiên cứu về tiếng dân tộc và vấn đề bảo tồn tiếng dân tộc cho học sinh
phổ thông đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
9
Tác giả Nguyễn Văn Lộc và các cộng sự đã nghiên cứu vấn đề bảo tồn
ngôn ngữ của dân tộc thiểu số trong mối quan hệ với bảo tồn và phát triển văn
hóa. Nhóm tác giả xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận về bảo tồn và phát
triển văn hóa ngôn ngữ của dân tộc thiểu số, đánh giá thực trạng giáo dục bảo
tồn và phát triển văn hóa, ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc
trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị về chính sách bảo tồn và phát
triển văn hóa, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam.
Nhóm tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu trên cơ sở của tiếp cận các vấn đề về
chính sách liên quan đến ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của người dân tộc
thiểu số nói riêng. Công trình nghiên cứu cũng đã hệ thống được những đặc
trưng văn hóa cơ bản của người dân tộc Tày, Nùng, H’Mông,… khu vực miền
núi phía Bắc trong sinh hoạt hàng ngày như về các phong tục, lễ tết phổ biến
trong năm, quan niệm của con người trong cuộc sống và lao động sản xuất.
Việt Nam, tác giả tập trung vào 2 vấn đề: Thứ nhất, phân tích những yếu tố thuộc
vào nội dung chính sách ngôn ngữ của vùng dân tộc thiểu số của nhà nước Việt
nam đã tác động thế nào đến sự phát triển bền vững của xã hội vùng dân tộc.
Thứ 2, tìm hiểu thực tế việc thực thi chính sách ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số
trong mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển kinh tế xã hội với trình độ sử
dụng ngôn ngữ của địa phương. Trên cơ sở đó tập trung làm rõ vai trò, những tác
động tích cực của chính sách ngôn ngữ của nhà nước Việt Nam đối với sự phát
triển kinh tế xã hội vùng DTTS của Việt Nam hiện nay.[9]
Bên cạnh đó còn một số công trình khoa học khác của tác giả Trần Trí Dõi
quan tâm nghiên cứu như: Một vài nhận xét về giáo dục ngôn ngữ cho vùng
dân tộc miền núi ở Việt Nam trong chặng đường 55 năm qua, Kỉ yếu hội thảo
khoa học Kỉ niệm 55 năm cách mạng tháng tám và quốc khánh 2/9, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội 2001, Tr 152- 159; Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng
dân tộc miền núi ba tỉnh phía bắc Việt Nam những kiến nghị và giải pháp, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004. Trong những nghiên cứu của mình, tác giả Trần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
11
Trí Dõi tiếp cận phân tích các chính sách ngôn ngữ đối với người DTTS trong
điều kiện hiện nay trên cơ sở những thuận lợi và hạn chế của việc thực thi các
chính sách ngôn ngữ hiện nay trên cơ sở khảo sát nhu cầu tiếp nhận tiếng mẹ đẻ
của người DTTS tại một số tỉnh khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam. [7]
Đề cập đến bảo tồn tiếng dân tộc như là một vấn đề cấp bách trong xu thế
phát triển của xã hội ngày nay có tác giả Nguyễn Cao Thịnh với bài viết “Bảo
tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số vấn đề cấp bách trong xu thế hội nhập và phát
triển” [20]. Trong bài viết của mình tác giả Nguyễn Cao Thịnh đề cập đến vấn
đề bảo tồn tiếng dân tộc như một nhiệm vụ cấp bách cần thực thi trong giai
đoạn hiện nay, khi mà số lượng ngôn ngữ trên thế giới đang được thu hẹp dần
và Việt Nam không là ngoại lệ.
Tiếp xúc ngôn ngữ là chỗ dựa lý thuyết để nhà nghiên cứu Bùi Khánh Thế
Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số”
với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc
chậm phát triển”… Điều đó có thể suất phát từ nhiều nguyên nhân như khoảng
cách về kinh tế, công nghệ… giữa các dân tộc, hoặc do sự chi phối bởi quan
điểm chính trị của các giai cấp cầm quyền. Nhưng trên thực tế, khái niệm “dân
tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị sự tương quan về dân số giữa các dân tộc
trong một quốc gia.
Ở nước ta khi xác định thành phần tộc người (ethnos) - để chỉ các dân tộc
đa số và thiểu số (trong điều kiện quốc gia đa dân tộc), thường dựa vào 3 tiêu
chí: ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tộc người. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac -
Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì
khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát
triển của các dân tộc. Vận dụng quan điểm trên vào thực tế nước ta, Đảng Cộng
Sản Việt Nam luôn thể hiện một quan điểm nhất quán: Việt Nam là một quốc
gia thống nhất gồm có 54 dân tộc anh em. Trong đó có dân tộc Kinh chiếm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
86,2% dân số, và 53 dân tộc còn lại có dân số chiếm 13,8% tổng dân số cả
nước, được quan niệm là “dân tộc thiểu số”.
Như vậy khái niệm DTTS dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít,
chiếm tỷ trọng thấp trong mối tương quan so sánh về lượng dân số trong một
quốc gia đa dân tộc.
1.2.2. Bảo tồn tiếng mẹ đẻ
Bảo tồn là một thuật ngữ có nhiều cách định nghĩa nhưng có thể được hiểu
một cách đơn giản hóa rằng; bảo tồn nghĩa là sự lưu giữ lại.
Tiếng mẹ đẻ(mother tongue) đề cập đến khác biệt ngữ cảnh tùy theo các
tiêu chí định nghĩa sử dụng (Baker & Prys Jones 1998; Skutnabb - Kangas
1988, 16-18; UNESCO 2003b, 15). Các thuật ngữ như: ngôn ngữ thứ nhất (first
language), ngôn ngữ bản địa (vernacular language), bản ngữ (native language),
rộng như trên, giáo dục là một hoạt động tổng thể bao gồm giáo dục trí tuệ,
giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục lao động do
nhà trường phụ trách trước xã hội.
Giáo dục (nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục (nghĩa rộng),
là một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên nhằm giúp
học sinh hình thành ý thức cá nhân, hay chuẩn mực xã hội, hình thành tình cảm,
niềm tin phù hợp với các chuẩn mực xã hội, hình thành hành vi, thói quen phù
hợp với chuẩn mực xã hội.
Giáo dục bảo tồn tiếng mẹ đẻlà một quá trình sư phạm do các lực lượng sư
phạm trong nhà trường đứng ra tổ chức nhằm mục đích duy trì, phát triển việc
sử dụng tiếng mẹ đẻ của học sinh người DTTS trong phạm vi trường học. Nói
khác đi, là quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục, các biện pháp khuyến
khích, khích lệ việc duy trì ngôn ngữ tộc người trong phạm vi nhà trường (đối
với những trường học ở vùng có đông HS DTTS).
1.3. Chính sách về bảo tồn ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở một số nƣớc
trên thế giới và ở Việt Nam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15
1.3.1. Chính sách về vấn đề bảo tồn ngôn ngữ các dân tộc thiếu số ở một số
nước trên thế giới
Các nhà ngôn ngữ học cho rằng mỗi năm có độ 12 ngôn ngữ trên thế giới
bị tiêu vong. Có tài liệu đưa ra tỷ lệ 50 % ngôn ngữ sẽ bị vắng bóng trong vòng
một thế kỷ, có thể sẽ có từ 2000 đến 3000 ngôn ngữ sẽ bị tiêu vong. Trong số
6500 ngôn ngữ đang được sử dụng khắp thế giới, chỉ còn lại khoảng 3500 -
4000 tiếng nói được truyền lại cho các thế hệ tiếp nối, số còn lại (2500 - 3000)
chỉ được truyền lại rất ít, hoặc không được truyền lại. Michael Krauss tiên đoán
rằng 90% ngôn ngữ thế giới sẽ bị biến mất vào cuối thế kỷ XXI. Vì vậy mà vấn
đề bảo vệ ngôn ngữ dân tộc thiểu số và sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số
trong giáo dục là một vấn đề phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới. [24]