1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nhiều năm qua lao động thất nghiệp và thiếu việc làm ở Việt
Nam có tỷ lệ tương đối cao, nhất là lao động thanh niên thuộc thành phần
DTTS. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp của lao động
trong độ tuổi là 2,88%, trong đó tình trạng không có việc làm ở khu vực thành
thị là 4,43% và nông thôn là 2,27% [1]. Điều đáng nói là hơn 1/2 tỷ lệ thất
nghiệp này nằm chủ yếu ở độ tuổi thanh niên và chủ yếu là thanh niên DTTS.
Báo cáo điều tra của SAVY II, hơn 80% thanh niên nông thôn thất nghiệp,
khoảng 2/3 con số này nằm ở khu vực miền núi và tập trung chủ yếu ở thanh
niên dân tộc tiểu số [2].
Bên cạnh đó tình trạng thất nghiệp thì số lượng đáng kể thanh niên
DTTS đang phải thực hiện các công việc có năng suất thấp, dễ bị tổn thương
và những công việc phi chính thức được trả công thấp do trình độ lao động
thấp. Theo số liệu SAVY II, có hơn ¼ thanh niên Việt Nam từng phải làm
việc kiếm sống trong thời gian đi học phổ thông dưới 18 tuổi, trong đó 73%
hiện là lao động chưa qua đào tạo, và 72% hiện đang làm những công việc
không có kỹ năng.
Thực trạng là vậy, nhưng giải quyết việc làm cho thanh niên DTTS là một
“bài toán khó” đòi hỏi các cấp, các ngành phải cùng vào cuộc để tháo gỡ khó
khăn. Rất nhiều thanh niên DTTS mong muốn có nghề để nâng cao thu nhập. Họ
dễ dàng chấp nhận “ly hương lập nghiệp”, tuy vậy, khi di dời đến thành phố kiếm
việc làm lại gặp rất nhiều khó khăn do hạn chế về trình độ, kỹ năng, khả năng tiếp
thu nắm bắt, chất lượng công việc cũng như chế độ lương bổng…
Vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên DTTS đã và đang rất được Nhà
nước ta và các địa phương trú trọng quan tâm. Những năm qua đã có nhiều chủ
1
trương, chính sách nhằm tạo việc làm cho lao động và lao động nông thôn, nhất
là lao động trong độ tuổi thanh niên DTTS như: Đào tạo nghề cho thanh niên,
phát triển làng nghề, phát triển sản xuất các mặt hàng đặc sản, đầu tư vào giáo
dục thông qua các chương trình như: Nghị định số 19-2005/NĐ-CP; Trung
DTTS trong tỉnh Lào Cai.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận giải pháp tạo việc làm cho thanh
niên DTTS.
- Thực trạng giải pháp tạo việc làm cho thanh niên DTTS trong tỉnh
Lào Cai.
- Một số giải pháp để tạo việc làm cho thanh niên DTTS trong tỉnh
Lào Cai.
1.3 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu đề xuất một số giải pháp chủ yếu để tạo
việc làm cho thanh niên DTTS trong tỉnh Lào Cao.
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ lao động lứa tuổi thanh niên (từ 16 đến
30 tuổi) ở khu vực dân tộc thiểu số tại tỉnh Lào Cai.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Nội dung:
Trong phạm vi đề tài chúng tôi chủ yếu nghiên cứu thực trạng việc làm và
tạo việc làm cho lao động trong lứa tuổi thanh niên DTTS ở tỉnh Lào Cai, trên cơ
sở đó đưa ra các giải pháp về tạo việc làm cho thanh niên DTTS ở tỉnh Lào Cai.
* Không gian:
Đề tài được thực hiện tại tỉnh Lào Cai.
* Thời gian:
Nguồn số liệu phục vụ đề tài được thu thập giai đoạn 2010 – 2012. Số
liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn thanh niên, mạng lưới
tạo việc làm, các cơ quan năm 2013.
3
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Khái niên về tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm có thu nhập bằng tiền (hoặc
bằng hiện vật)”.
Theo quan niệm của Mác: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù
hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất,
công nghê…) để sử dụng sức lao động đó.
Theo quan niệm của Mác thì bất cứ tình huống nào xảy ra gây nên
trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết để sử dụng
sức lao động đó đều có thể dẫn tới việc thiếu việc làm hay mất việc làm.
Như vậy, việc làm là việc người lao động sử dụng các điều kiện cần
thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghê…) để sử dụng sức lao động tạo ra sản
phẩm vật chất hoặc phi vật chất.
Phân loại việc làm: Có nhiều cách nhìn nhận và phân loại việc làm như
việc làm bán thời gian, việc làm đầy đủ, việc làm hiệu quả, việc làm chính,
việc làm phụ… nhưng trong nghiên cứu này chúng tôi phân loại theo cơ cấu
ngành kinh tế với 3 nhóm việc làm tương ứng với 3 khu vực kinh tế
Khu vực I: việc làm trong nhóm ngành nông nghiệp và lâm nghiệp
Khu vực II: việc làm trong nhóm ngành công nghiệp, xây dựng, giao
thông vận tải, khai thác mỏ, năng lượng
Khu vực III: Việc làm trong nhóm ngành dịch vụ
b. Khái niệm về tạo việc làm
Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất;
5
số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế - xã hội khác để
kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động. Ba yếu tố này chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố khác.
2.1.1.2. Khái niệm về thanh niên, thanh niên dân tộc thiểu số
- Khái niệm thanh niên
Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều
cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá
mà người ta đưa ra định nghĩa khác nhau về thanh niên:
Suốt nửa thế kỷ giáo dục, tổ chức, rèn luyện các thế hệ thanh niên nước
ta thành lớp người kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp vẻ vang của Đảng,
dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã đưa ra nhiều khái niệm thanh niên
mang tính xã hội, nhân văn sâu sắc.
+ Bác dạy: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”. Bác
giải thích khái niệm đó trên cơ sở khẳng định: “Nước nhà thịnh hay suy, yếu
hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên” và thanh niên phải “Tham gia ý
kiến vào công việc của chính phủ, chiến đấu giữ lấy nền độc lập và tự rèn
luyện ngay từ bây giờ để sau này lên thay những thủ lĩnh mà gánh vác việc
trọng đại của nước nhà”.
+ Bác dạy: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi
trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Bác chỉ ra thanh niên là thời kỳ đẹp nhất,
sống động nhất như mùa xuân trăm hoa đua nở, tràn đầy nhựa sống, mùa xuân
của những cánh én ngang dọc bầu trời. Đó là hình ảnh nói lên sức trẻ có thể
đào núi và lấp biển mà cả xã hội và dân tộc luôn kỳ vọng, tin yêu.
+ Bác dạy: “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh
niên già, đồng thời là người phụ trách thế hệ thanh niên tương lai”. Đây là
một khái niệm về vai trò và vị trí của thanh niên, về một quy luật của quá
trình “bàn giao thế hệ”. Từ khái niệm thanh niên này Bác muốn nhắc nhở, căn
7
dặn một điều mà trước khi đi xa Người đã ghi lại trong bản di chúc thiêng
liêng. Điều ấy vô cùng quan trọng quyết định vận mệnh của dân tộc, vận
mệnh của giai cấp công nhân, của Đảng.
Do có sự khác nhau về độ tuổi xác định năng lực hành vi dân sự, độ
tuổi chịu trách nhiệm hình sự và quyền ứng cử vào cơ quan quyền lực các
cấp, nên việc xác định độ tuổi được coi là thanh niên rất khác nhau. Theo GS-
TS Phạm Tất Dong, Phó chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam cho rằng : Thanh
niên chỉ nên nằm trong độ tuổi từ 16 – 25, vì theo ông, tuổi từ 25 trở lên nhiều
thanh niên đã là cử nhân, kỹ sư, cũng có thể là các doanh nghiệp. Còn từ 30
tuổi trở đi có người đã là tiến sĩ, vụ trưởng, chủ tịch xã, những cán bộ chính
đó, chúng ta có thể hiểu: TNDTTS là một nhóm người có độ tuổi từ 16 đến 30
tuổi, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong
mọi lĩnh vực hoạt động của cộng đồng các dân tộc thiểu số, lao động hiệu
quả góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển
của đất nước.
Như vậy, tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số là: Quá trình
tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã
hội nhất định để kết hợp với thể chất, tâm lý, trí tuệ của TNDTTS (là một
nhóm người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi) một cách hiệu quả góp phần thúc
đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển của đất nước.
2.1.2. Vai trò tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể
thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên
suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã
hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.
Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi
sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời
9
sống của cá nhân. Tạo việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình
độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc
làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn
về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, ), vào những nhóm người nhất định (lao
động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp, ). Do đó, tạo việc
làm cho thanh niên dân tộc thiểu số là một thách thức không nhỏ đối với
những người làm chính sách.
Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên
xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động
tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực. Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc
làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh
trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần
ngày càng lớn gây khó khăn cho việc bố trí việc làm tại chỗ.
- Lao động dân tộc thiểu số ít có cơ hội được đào tạo nghề. Trình độ
văn hóa thấp, thu nhập thấp, nhận thức về nghề nghiệp còn hạn chế… là
những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế khả năng tiếp cận với các dịch vụ
dạy nghề của người lao động dân tộc thiểu số.
- Lao động dân tộc thiểu số có nhiều bất cập về trình độ chuyên môn
kỹ thuật, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực để đáp ứng được nhu cầu của
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó, bên cạnh việc đào tạo nghề
nâng cao trình độ chuyên môn cần kết hợp với việc đào tạo kiến thức xã hội,
văn hóa…
2.1.4 Nội dung nghiên cứu tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
2.1.4.1 Thực trạng việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số
Tạo nghề cho thanh niên DTTS là một hoạt động cần thiết, khi mà lực
lượng lao động có tỷ lệ lao động qua đào tạo còn rất thấp, cơ hội việc tìm
kiếm việc làm hạn chế, chậm được tiếp cận thông tin, ít được giao lưu học
11
hỏi do không có phương tiện, do đi lại khó khăn. Thực tế hiện nay đối với
công tác tạo nghề cho lao động thanh niên DTTS còn chậm, thiếu đồng bộ,
chưa phù hợp với đặc điểm của từng vùng, ngành kinh tế; thiếu định hướng
dài hạn, chưa gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy
hoạch nông thôn mới, nhất là quy hoạch sản xuất nông nghiệp, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và thị trường.
Công tác dạy nghề còn chạy theo số lượng; chất lượng thấp, chưa phù
hợp với nhu cầu của người học và người sử dụng lao động. Mạng lưới cơ
sở dạy nghề còn bất cập, cơ sở vật chất, thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu; đội
ngũ cán bộ quản lý nhà nước về dạy nghề thiếu về số lượng và yếu về
nghiệp vụ. Công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế. Công tác tuyên truyền,
phổ biến về dạy nghề cho lao động thanh niên DTTS chưa sát thực tế, chưa
phong phú về hình thức.
Do đó, chiến lược, kế hoạch, quy hoạch tạo nghề lao động thanh niên
công việc phù hợp với bản thân mình.
Có thể tiếp cận nguồn thông tin dưới các hình thức sau:
Hệ thống thông tin chính thống: Qua hệ thống thông tin đại chúng (báo,
đài, ti vi, thông báo của các cơ quan, tổ chức và chính quyền ở địa phương).
Hệ thống thông tin không chính thống: Qua bạn bè, họ hàng, hàng xóm.
- Tiếp cận thị trường lao động qua các Trung tâm dịch vụ việc làm: Với
chức năng hoạt động để phục vụ cho việc tạo việc làm, tăng thu nhập, hỗ trợ
hình thành thị trường lao động, các trung tâm này tạo điều kiện cho người tìm
việc và việc tìm người dễ dàng gặp nhau hơn. Bằng hình thức đến trực tiếp
hoặc thông qua các dịch vụ mà người lao động nhận được các thông tin về các
khoá đào tạo.
13
- Tiếp cận thị trường lao động thông qua các tổ chức tuyển dụng:
Tuyển dụng là kênh giao dịch hiện đang được áp dụng khá phổ biến, từ việc
bổ nhiệm trực tiếp, thi tuyển, thông báo qua các phương tiện thông tin đại
chúng, qua các kênh cá nhân, trường lớp… Trong đó việc tuyển chọn và thi
tuyển là hình thức được áp dụng nhiều trong các cơ quan hành chính sự
nghiệp nhà nước. Hình thức tuyển dụng qua các phương tiện thông tin đại
chúng thường được sử dụng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh.
- Tiếp cận thị trường lao động qua chợ lao động: Bao gồm chợ lao
động có tổ chức và chợ lao động tự phát. Thông qua các chợ lao động này
người lao động có thể lựa chọn các loại hình công việc, mức trả công mà
mình mong muốn.
- Tiếp cận thị trường lao động thông qua các cơ quan xuất khẩu lao
động: Người lao động bán sức lao động cho các chủ sử dụng lao động người
nước ngoài thông qua các cơ quan, tổ chức xuất khẩu lao động.
2.1.4.2 Tình hình tạo việc làm
a. Đào tạo nghề
b. Hỗ trợ cho vay vốn phát triển sản xuất kinh tế hộ
c. Cũng cố, nâng cao năng lực hoạt động khuyến nông- khuyến lâm của các
thay đổi.
2.1.5.2 Giới tính
Giới tính cũng ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận: Một số nghiên cứu cho
thấy giới tính nam dễ tiếp cận thành công việc làm hơn những lao động nhiều
tuổi và giới tính nữ.
2.1.5.3 Văn hóa
Trong quá trình tiếp cận việc làm thì yếu tố trí lực của con người đóng
vai trò vô cùng quan trọng, là yếu tố quyết định đến năng suất và chất lượng
công việc. Nếu một lao động có nhận thức đầy đủ, có kiến thức cơ bản và đặc
15
biệt là có kỹ năng, kinh nghiệm trong quá trình lao động sản xuất thì lao động
đó dễ được thị trường lao động tiếp nhận.
Đối với thanh niên DTTS do trình độ dân trí thấp, thiếu thông tin vì vậy
tạo ra nhiều việc làm cho lao động dân tộc thiểu số, gắn tạo việc làm với hạn
chế tốc độ phát triển dân số ở các vùng dân tộc thiểu số là một vấn đề cấp
thiết hiện nay.
2.1.5.4 Trình độ chuyên môn lao động thanh niên DTTS
Trong giai đoạn hiện nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học
- công nghệ, của kinh tế tri thức đỏi hỏi người lao động phải có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao. Theo đó, phát triển nguồn nhân lực thanh niên
DTTS, ngày càng đóng vai trò quyết định tới quy mô, tốc độ và chiều sâu của
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền nông nghiệp và nông thôn nước
ta trong điều kiện hiện nay. Để có được một nền nông nghiệp, nông thôn hiện
đại hóa thì cần phải có con người ở nông thôn hiện đại trước đã.
Nguồn lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao trước hết đóng vai
trò quyết định tới trình độ sản xuất (thông qua các chương trình đạo tạo, tập huấn
nâng cao trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn) và hiệu quả sản xuất trong
nông nghiệp, sau đó chính là làm giảm sức ép về thiếu việc làm trong khu vực
nông thôn (Các chương trình hỗi trợ tìm kiếm và tạo dựng việc làm…), thậm trí
còn có vai trò ổn định đời sống và an ninh trật tự xã hội …
hạn như hội chợ lao động; triển lãm lao động - việc làm. Đây là hình thức khá
mới, được tổ chức ở một vài thành phố công nghiệp phía Nam như ở TP. Hồ
Chí Minh, Đà Nẵng…Các chợ lao động có tổ chức thường là nơi giao dịch
của loại lao động có đào tạo, là nơi để các doanh nghiệp cần lao động tìm
kiếm được các đối tượng phù hợp, và là nơi để người có sức lao động có thể
lựa chọn loại hình công việc, mức trả công lao động mà mình mong muốn.
Các chợ lao động càng được tổ chức nhiều, thường xuyên và vươn tới các
17
vùng nông thôn thì khả năng tiếp cận việc làm của thanh niên càng cao.
2.1.5.6 Chính sách của Nhà nước
Thông qua chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước là nhân tố
góp phần định hướng cho hoạt động tiếp cận thị trường của người lao động.
Hiện nay, với các chính sách định hướng, hỗ trợ vay vốn, đào tạo, tìm kiếm
thị trường cho người lao động đặc biệt là lao động ở khu vực nông thôn
đã góp phần tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận dễ dàng hơn với thị
trường lao động.
Mặt khác, chính sách của Đảng, Nhà nước còn tạo hành lang pháp lý
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động tạo động lực cho người
lao động tham gia vào các quan hệ của TTLĐ.
Bên cạnh đó, các chính sách phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước; sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn, đồng nghĩa
với việc tiếp cận TTLĐ của người lao động mà đặc biệt là lao động thanh niên
nông thôn cũng gặp nhiều thuận lợi hơn.
2.2. Cơ sở thực tiễn giải pháp tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
2.2.1 Kinh nghiệm một số nước về vấn dề việc làm của thanh niên
Một số nước trong khu vực có những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
khá giống nước ta, nhưng trình độ phát triển kinh tế lại hơn ta khá xa, điều đó
do nhiều nguyên nhân, song có một nguyên nhân đáng kể đó là do lao động
của họ đáp ứng được yêu cầu của TTLĐ, lao động có việc làm đầy đủ và
mang lại năng suất lao động cao, có thu nhập cao. Có thể điểm qua một số nét
đều bắt đầu từ nông thôn. Với hơn 1,3 tỷ dân, gần 800 triệu người sống ở
nông thôn.
Về việc thực hiện những chính sách nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề
“tam nông”, Chính phủ đã triển khai các chính sách như: Giảm phần lớn
những khoản thuế thu cho dân. Đầu những năm cải cách mở cửa, nộp thuế là
19
một gánh nặng đối với nông dân Trung Quốc. Nhưng hiện nay nông dân vừa
được miễn thuế, vừa được chính phủ hỗ trợ, như hỗ trợ lương thực, hỗ trợ
phân bón trong trồng trọt, hoặc hỗ trợ kỹ thuật khi trồng thử nghiệm….; chính
sách giải quyết việc làm, giải quyết khó khăn cuộc sống hàng ngày cho nông
dân; phát triển giáo dục nghĩa vụ ở nông thôn, trình độ học vấn được nâng
cao. Trẻ em ở nông thôn hiện nay đều được miễn học phí.
Chính phủ Trung Quốc rất coi trọng đầu tư cho khoa học - kỹ thuật.
Đầu tư cho khoa học – kỹ thuật đặc biệt chú trọng đến kỹ thuật trong nông
nghiệp, công nghệ phát triển, nghiên cứu ruộng đất Gắn chặt đầu tư với các
chương trình tuyên truyền hướng dẫn và trao đổi kỹ thuật, nhằm thúc đẩy ứng
dụng. Ngoài ra, Chính phủ còn xây dựng hệ thống thông tin công cộng nhằm
cung cấp miễn phí thông tin thị trường cho nông dân. Nông dân có thể thông
qua hệ thống này tự tìm thị trường cho sản phẩm của mình.
Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc còn có chính sách tăng cường đào
tạo lại nghề nghiệp cho những người lao động có trình độ kỹ thuật, tay nghề
thấp hoặc không còn phù hợp với yêu cầu mới của TTLĐ. Đối với các doanh
nghiệp có lao động dôi dư cũng bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ của mình
đối với hoạt động đào tạo lại lao động.
Chính sách khuyến khích tự tạo việc làm: Trung Quốc áp dụng nhiều chính
sách ưu đãi (thuế, tín dụng, ưu đãi lãi suất vay vốn để khởi sự doanh nghiệp ) để
khuyến khích các doanh nghiệp tự tạo thêm việc làm. Đặc biệt là đối với các
doanh nghiệp tiếp nhận nhiều lao động dôi dư và lao động đã cao tuổi.
Chính sách phát triển các trung tâm giới thiệu việc làm: Từ năm 1992,
Trung Quốc đã đa dạng hoá hình thức sở hữu trung tâm giới thiệu việc làm,
lượng và năng suất cao, còn thể hiện kỷ luật lao động sắt, không tự động thôi
việc hoặc từ chối những công việc được giao phó. Mối quan hệ này được duy
trì suốt đời của người lao động, từ khi vào làm đến khi nghỉ hưu, được cả
21
người lao động và người chủ sử dụng lao động ngầm hiểu và trở thành đạo
luật bất thành văn trong qua hệ lao động tại TTLĐ Nhật Bản.
2.2.2. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp ở thanh niên, giải pháp tạo việc
làm cho thanh niên ở Việt Nam
Số lượng lao động đang làm việc: Nếu tại thời điểm năm 2003 cả nước
chỉ có 39,5 triệu lao động đang làm việc, đến 1/7/2008 cả nước đã có hơn 44
triệu lao động đang làm việc trong các thành phần kinh tế, tăng 11,8% so với
năm 2002. Số lượng lao động tăng cao thể hiện qui mô lao động ngày càng
được mở rộng theo nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đồng thời góp phần
giải quyết việc làm cho toàn xã hội.
22
Bảng 2.1: Lực lượng lao động cả nước năm 2003 – và năm 2007
Đơn vị tính: nghìn người
2003 2007 So sánh(%)
SL
(1000.ng)
CC
(%)
SL
(1000.ng)
CC
(%)
+(-) 07/03
Tổng số 39.507,70 100 44.171,90 100 4.664,20 118,00
Phân theo thành phần kinh tế
Kinh tế Nhà nước 3.750,50 9,49 3.974,60 8,99 224,10 105,97
động trong độ tuổi năm 2008 phân theo vùng trong cả nước
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu
Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
CẢ NƯỚC 2,38 4,65 1,53 5,10 2,34 6,10
Đồng bằng sông Hồng 2,29 5,35 1,29 6,85 2,13 8,23
Trung du và miền núi phía
Bắc
1,13 4,17 0,61 2,55 2,47 2,56
Bắc Trung Bộ và duyên hải
miền Trung
2,24 4,77 1,53 5,71 3,38 6,34
Tây Nguyên 1,42 2,51 1,00 5,12 3,72 5,65
Đông Nam Bộ 3,74 4,89 2,05 2,13 1,03 3,69
Đồng bằng sông Cửu Long 2,71 4,12 2,35 6,39 3,59 7,11
Nguồn: http://www.gso.gov.vn/
Qua bảng 2.2 cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn thấp hơn
khu vực thành thị, song lao động thiếu việc làm ở đây còn chiếm tỷ lệ cao.
Thiếu việc làm và thất nghiệp đồng nghĩa với việc thu nhập thấp hay không
có thu nhập, số lao động này sẽ trở thành những người ăn theo trở thành gánh
25