ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN ĐỨC THUẬN
GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN DÂN
TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN ĐỨC THUẬN
GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN DÂN
TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hướng dẫn khoa học: PGS. TS Phạm Bảo Dương
gia đình và những người thân đã là điểm tựa về tinh thần và vật chất cho tôi
trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, ngày
tháng
năm 2016
Tác giả
Nguyễn Đức Thuận
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................. iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................ vi
DANH MỤC BẢNG ................................................................................ vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..............................................................3
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài ....................................................................4
5. Kết cấu đề tài ...........................................................................................4
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ .........................................5
1.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................5
1.1.1. Một số khái niệm ...............................................................................5
Phong Thổ, tỉnh Lai Châu ........................................................................ 48
3.2.2. Tình hình thực hiện tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu ............................................................. 57
3.2.3. Đánh giá kết quả và hiệu quả giải pháp tạo việc làm cho thanh niên
dân tộc thiểu số huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu ................................... 70
3.3. Các yều tố ảnh hưởng tới tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
tỉnh Lai Châu ............................................................................................ 78
3.3.1. Thành phần dân tộc và văn hóa ...................................................... 78
3.3.2. Giới tính ......................................................................................... 79
3.3.3. Trình độ chuyên môn ..................................................................... 81
3.3.4. Năng lực của cơ sở đào tạo nghề ................................................... 81
v
3.3.5. Chính sách của Đảng và Nhà nước ............................................... 82
Chương 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO
THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN PHONG THỔ,
TỈNH LAI CHÂU ĐẾN NĂM 2020...................................................... 85
4.1. Định hướng tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện Phong
Thổ............................................................................................................ 85
4.2. Giải pháp tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện Phong
Thổ ............................................................................................................ 86
4.2.1. Đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số huyện Phong Thổ,
tỉnh Lai Châu ............................................................................................ 86
4.2.2. Hỗ trợ cho vay vốn phát triển kinh tế cho thanh niên dân tộc thiểu số 89
4.2.3. Hỗ trợ khuyến nông - khuyến lâm cho thanh niên dân tộc thiểu số .... 90
4.2.4. Tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số thông qua xuất khẩu
lao động .................................................................................................... 91
4.2.5. Các giải pháp khác ......................................................................... 93
4.3. Kiến nghị ........................................................................................... 96
ILO
Tổ chức Lao Động Quốc Tế
KH
Kế hoạch
Lđ
Lao động
NĐ
Nghị định
QĐ
Quyết Định
SL
Số lượng
TB&XH
TL
Thương binh và Xã hội
Tỷ lệ
Quy mô lao động thanh niên dân tộc thiểu số của huyện ..... 48
Bảng 3.2.
Cơ cấu lao động thanh niên dân tộc thiểu số của huyện Phong
Thổ, tỉnh Lai Châu giai đoạn 2013 - 2015 ............................ 49
Bảng 3.3.
Số lượng lao động thanh niên dân tộc thiểu số huyện Phong
Thổ chia theo khu vực và nhóm ngành ................................. 51
Bảng 3.4.
Số lượng lao động thanh niên dân tộc thiểu số huyện Phong
Thổ chia theo độ tuổi ............................................................ 53
Bảng 3.5.
Lực lượng lao động thanh niên dân tộc thiểu số huyện Phong
Thổ chia theo trình độ văn hóa và chuyên môn .................... 55
Bảng 3.6.
Tình hình lao động việc làm của thanh niên dân tộc thiểu
số ........................................................................................... 57
Bảng 3.7.
Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn huyện Phong
Bảng 3.18. Kết quả giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
thông qua hoạt động khuyến nông - khuyến lâm.................. 77
Bảng 3.19. Đánh giá của thanh niên dân tộc thiểu số về sự phù hợp của
các .................................................................................................... 77
Bảng 3.20. Số lượng thanh niên theo nhu cầu tham gia các hoạt động ........ 78
Bảng 3.21. Dân số của huyện Phong Thổ theo các thành phần dân tộc
trong....................................................................................... 79
Bảng 3.22. Tỷ lệ thất nghiệp của nữ giới so với tỷ lệ thất nghiệp chung 80
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là một trong những vấn
đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, bởi nó ảnh
hưởng trực tiếp đến sự phát triển của một đất nước. Tạo việc làm, giảm tỷ lệ
thất nghiệp là một trong những biện pháp quan trọng để từng bước ổn định và
nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo phát triển bền vững. Trong những năm
qua lao động thất nghiệp và thiếu việc làm ở Việt Nam có tỷ lệ tương đối cao,
nhất là lao động thanh niên dân tộc thiểu số. Theo Tổng cục Thống kê, năm
2010 tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó tình trạng
không có việc làm ở khu vực thành thị là 4,43% và nông thôn là 2,27%. Điều
đáng quan tâm ở đây là trong số đó tỷ lệ thất nghiệp nằm chủ yếu ở độ tuổi
thanh niên và chủ yếu là thanh niên dân tộc thiểu số. Báo cáo điều tra của SAVY
II, hơn 80% thanh niên nông thôn thất nghiệp, khoảng 2/3 con số này nằm ở
khu vực miền núi và tập trung chủ yếu ở thanh niên dân tộc thiểu số. Bên cạnh
đó tình trạng số lượng thanh niên dân tộc thiểu số đang phải thực hiện công
việc có năng suất thấp, dễ bi tổn thương và những công việc phi chính thức
được trả công thấp do trình độ lao động thấp. Theo số liệu SAVY II, có hơn 1/4
thanh niên Việt Nam từng phải làm việc kiếm sống trong thời gian đi học phổ
đội ngũ lao động dồi dào, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống mà còn mang
ý nghĩa xã hội to lớn. Với trách nhiệm và chức năng nhiệm vụ công tác của
mình mong muốn đề xuất các giải pháp với các ngành chức năng và UBND
tỉnh để giúp đỡ, hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số có việc làm giảm bớt khó
khăn và ổn định cuộc sống. Chính vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Giải pháp tạo
việc làm cho Thanh niên dân tộc thiểu số ở huyện Phong Thổ, tỉnh Lai
Châu” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn đề xuất các giải pháp giúp cho
3
thanh niên dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu có việc
làm ổn định, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của địa phương.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng giải pháp tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu
số, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu
số huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Từ đó đề xuất một số giải pháp hiệu quả
tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số ở huyện Phong Thổ, tỉnh Lai
Châu.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm cho
thanh niên dân tộc thiểu số.
- Phân tích thực trạng, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm
cho thanh niên dân tộc thiểu số ở huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác tạo việc làm cho thanh niên dân
tộc thiểu số ở huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các giải pháp tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
huyện Phong Thổ
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm việc làm
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội
và nhân khẩu; nó phụ thuộc loại vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã
hội. Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, khái niệm “việc làm”
và “thị trường lao động” không hiếm khi bị đồng nhất với nhau. Hệ thống việc
làm được đưa thêm hàng loạt chức năng không đúng với tính chất của nó, còn
thị trường lao động được tăng thêm tính chất tổng hợp. Khái niệm việc làm và
khái niệm lao động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không hoàn toàn
giống nhau. Việc làm là những quan hệ xã hội giữa con người, mà trước hết là
những quan hệ kinh tế và pháp lý về việc đưa người lao động vào hợp tác lao
động cụ thể trong một chỗ làm việc xác định. Hoạt động lao động, trước hết,
đó là một quá trình, còn việc làm là tài sản của chủ thể mà bằng cách nào đấy
được đưa vào (hay là loại trừ ra) từ quá trình đó. Về giác độ kinh tế, việc làm
thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con
người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất. Việc làm gắn với quá trình
tăng thu nhập, giảm sự nghèo khổ của người lao động, đồng thời không đi
ngược lại lợi ích cộng đồng mà pháp luật quy định. Nói cách khác, việc làm là
công việc, những hoạt động có ích, không bị pháp luật cấm và mang lại thu
nhập cho bản thân hoặc tạo điều kiện để tăng thu nhập cho các thành viên trong
gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội. (Phạm Đức Chính, 2005).
Về mặt bản chất, việc làm là quan hệ tích cực, sáng tạo của chủ thể việc
làm với hoạt động sống của mình, với ý nghĩa, nội dung và mục đích đặt ra.
Tùy thuộc vào từng thời điểm, không gian và từng chủ thể có cách tiếp cận vấn
7
trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực, có tính chất
cá nhân và trực tiếp nỗ lực sản xuất”. Theo khái niệm này, người có việc làm
là người làm việc gì đó để được trả công, lợi nhuận được thanh toán bằng tiền
hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm
vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình (không được nhận tiền công hay hiện
vật). Khái niệm này đã được chính thức nêu tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của
nhà thống kê lao động (ILO.1993) và đã được áp dụng ở nhiều nước. Tuy nhiên,
quan niệm này mang ý nghĩa rất rộng, bao trùm mọi hoạt động lao động của
con người. Trong thời đại ngày nay, với quan niệm trên, có rất nhiều người sẽ
thuộc diện có việc làm, bao gồm: những hoạt động mang tính hợp pháp và
những hoạt động mang tính phi pháp hay là những hoạt động lao động của con
người vi phạm pháp luật hoặc là bị cho là vi phạm đạo đức xã hội và bị ngăn
cấm ở một số nước. Ví dụ, việc buôn bán heroin, mại dâm,… ở các nước như
Hà Lan, Colombia thì không cấm nhưng những hoạt động này bị cấm ở các
nước khác, đặc biệt là các nước Châu Á như Việt Nam, Trung Quốc… Do vậy,
khái niệm trên chỉ mang tính chất khái quát, là cơ sở nghiên cứu vấn đề chung
cho các nước trên thế giới.
Ở nước ta, trong thời kỳ tập trung bao cấp nhà nước đã đứng ra giải quyết
việc làm, trực tiếp quản lý nguồn lao động kể từ khâu đào tạo, phân bổ đến việc
sử dụng đãi ngộ đối với người lao động thực hiện theo chỉ tiêu pháp lệnh. Trong
giai đoạn này, khái niệm về thiếu việc làm, lao động dư thừa, việc làm không
đầy đủ,… hầu như không được biết đến. còn khái niệm “thất nghiệp” dường
như là điều cấm kị nói tới dưới bất kỳ hình thức nào trong nền kinh tế quốc dân,
xu hướng quốc doanh hóa được coi là điều tất yếu. Hướng phấn đấu của mọi
cơ sở sản xuất kinh doanh là chuyển nhanh vào khu vực quốc doanh, đối với
mỗi công dân là vào được đội ngũ viên chức nhà nước. Do đó, việc làm và
người có việc làm được xã hội thừa nhận và trân trọng là những người làm việc
tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn người lao động trong khuôn khổ pháp
luật, không phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực nhà nước.
Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao động
9
thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức (Nguyễn Hữu
Dung, 2005).
Hai điều kiện đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để
một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động tạo ra thu
nhập, nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma túy, mại dâm … thì
không được thừa nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động là hợp pháp và có
ích, nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm.
Nhận thức về việc làm và tạo việc làm đã có sự chuyển biến căn bản. Nếu
như trước đây, quan niệm phổ biến là Nhà nước chịu trách nhiệm tạo việc làm
và bố trí việc làm cho người lao động thì nay đã chuyển sang quan niệm tạo
việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và của chính bản
thân người lao động. Sự thay đổi quan niệm về việc làm của Nhà nước phù hợp
với nền kinh tế thị trường, coi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không
bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm, có vai trò quá trình trong giải
phóng sức lao động, thúc đẩy tạo mở việc làm và phát triển thị trường lao động
của nước ta (Phạm Đức Chính, 2005).
Quan niệm về việc làm nêu trên đã mang tính khái quát cao, tuy nhiên,
vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là:
Thứ nhất, xét trên phạm vi rộng thì hợp pháp của một hoạt động lao động
được thừa nhận là việc làm tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia và mỗi
thời kỳ. Có hoạt động là việc làm ở nước này nhưng không được thừa nhận là
việc làm ở nước khác (Phạm Đức Chính, 2005).
Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình và xã
hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần làm giảm chi tiêu cho gia đình thay
việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều
kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó
làm cơ sở nghiên cứu. Trên cơ sở khái niệm này sẽ hình thành các dạng việc
11
làm cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hỗ trợ giải quyết việc làm.
1.1.1.2. Tạo việc làm
a) Khái niệm
Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ
trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu
sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó. Rõ ràng, tạo được việc làm
cho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát triển
kinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí tuệ
người lao động để tạo nhiều của cải cho xã hội. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội
X của Đảng đã nêu rõ “giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy
nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng
nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”. Vấn đề giải quyết
việc làm cho người lao động là cần thiết, không những mang tầm quốc gia mà
vượt ra bên ngoài khu vực và thế giới. Tùy thuộc vào cách thức tiếp cận và mục
đích nghiên cứu khác nhau mà người ta đưa ra khái niệm về giải quyết việc làm
(Phạm Đức Chính, 2005).
Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các
chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các
việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng
lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước.
Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ chức
năng của nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh
nghiệp và ngay bản thân người lao động. hiện nay, các chính sách của Nhà nước
luôn quan tâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao động thông
và cả xu hướng của việc làm. Việc làm vì thế có thể phân loại theo chủ thể hoạt
động lao động là người lao động và chủ thể tạo việc làm trong nền kinh tế
13
(Nguyễn Hữu Dung, 2005).
1.1.1.3 Khái niệm thanh niên, thanh niên dân tộc thiểu số
a) Khái niệm thanh niên
Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách. Tùy thuộc vào
nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra định nghĩa khác nhau
về thanh niên
Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm tuổi từ 15 đến 24 tuổi (Theo chương trình sức
khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục vị thành niên - thanh niên của khối Liên minh Châu Âu (EU) và Quỹ
Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA), chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và
hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác. Nhưng trong công ước quốc tế của Liên hợp quốc về
quyền trẻ em lại xác định trẻ em đến dưới tuổi 18 tuổi.
Ở Việt Nam, có một thời gian khá dài, tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn
viên (từ 15 - 28 tuổi). Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo
cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác chúng ta cho thanh niên là những người trong
độ tuổi 16 đến 30. Tuy nhiên cần phải phân biệt rõ tuổi đoàn viên và tuổi thanh niên. Theo điều lệ Đoàn thì
Đoàn là một tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên, bao gồm những thanh niên ưu tú trong độ tuổi từ 15 30 tuổi. Hết tuổi đoàn viên theo quy định, người đoàn viên đó vẫn có thể tự nguyện tiếp tục sinh hoạt trong
tổ chức Đoàn hoặc tham gia vào Hội liên hiệp thanh niên và các hoạt động khác của Đoàn và phong trào
thanh niên đến 35 tuổi (Nguyễn Hoàng Hiệp, 2006).
Khi nói đến khái niệm thanh niên là nói tới tuổi trẻ, độ tuổi chín chắn để gánh vác việc nước
việc nhà, nên phải gắn liền với “năng lực hành vi”. Trong pháp luật dân sự, có khái niệm “người
thành niên” và “chưa thành niên”: theo quy định tại điều 20, bộ luật Dân sự, người từ đủ 18 tuổi trở
lên là người thành niên, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên. Đây là sự phân biệt cơ bản
nhất về độ tuổi thành niên hay chưa thành niên mà pháp luật quy định (Nguyễn Hoàng Hiệp, 2006).
Trong Bộ luật hình sự tại điều 68 cho phép xác định người thành niên là người đủ 18 tuổi trở
lên. Nhìn từ góc độ tổng quát, hiến pháp dành đủ một chương về “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
độ văn hoá, nghề nghiệp đều được tôn trọng và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
* Trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, xã hội đối với thanh niên
- Thanh niên là tương lai của đất nước, là lực lượng xã hội hùng hậu, có tiềm năng to lớn, xung kích
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đào tạo, bồi dưỡng và phát huy thanh niên là trách nhiệm của
Nhà nước, gia đình và xã hội.
- Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện cho thanh niên học tập, lao động, giải trí, phát triển
thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân, ý thức vươn lên phấn
đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có trách nhiệm góp phần tích cực vào việc chăm lo,
đào tạo, bồi dưỡng và phát huy vai trò của thanh niên.
Tóm lại, hiện nay thanh niên Việt Nam là những người đủ từ 16 tuổi đến
30 tuổi, vì đây là giai đoạn thanh niên hoàn thiện về thể chất, trí tuệ, đạo đức,
và cũng trong giai đoạn này thanh niên đã đủ chín chắn để gánh vác việc nước
và việc nhà, là công dân có trách nhiệm đối với những hành động của chính
mình. Thanh niên được xem là lực lượng xung kích trong tất cả mặt trận bảo
15
vệ và phát triển đất nước vì tính năng nổ của lứa tuổi này. Đâu cần thanh niên
có, đâu khó có thanh niên.
b) Khái niệm thanh niên dân tộc thiểu số
Để hiểu về khái niệm thanh niên dân tộc thiểu số, trước tiên ta cần hiểu khái niệm về dân tộc
thiểu số.
Năm 1992, Hội đồng Liên hiệp quốc thông qua “Tuyên ngôn về quyền của những người
thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc hay chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ”. Sự ra đời của bản Tuyên
ngôn này là minh chứng cho khái niệm về “dân tộc thiểu số”.
Dân tộc thiểu số là thuật ngữ có nhiều định nghĩa khác nhau, tuỳ theo khái niệm của từng bộ