Giải pháp tạo việc làm cho thanh niên nông thôn tại thị xã hương thủy, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 39

PHẦN 1:

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việc làm nói chung và việc làm cho thanh niên nói riêng hiện nay là một trong
những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế - xã
hội của mỗi địa phương, mỗi đất nước nhằm hướng tới sự phát triển bền vững. Với
cơ cấu dân số trẻ, thanh niên nước ta chiếm phần lớn lực lượng lao động trực tiếp
tạo ra của cải vật chất cho đất nước thì vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên trở

Ế

nên cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết, nhất là trong xu thế hội nhập và phát

U

triển. Giải quyết tốt vấn đề việc làm cho thanh niên vừa tạo điều kiện cho người

́H

thanh niên có cơ hội đóng góp sức lao động, đảm bảo được cuộc sống cho bản thân,



gia đình và phát triển kinh tế - xã hội đất nước, giảm bớt gánh nặng thất nghiệp và
các tệ nạn xã hội. Chủ trương về việc làm của Đảng và Nhà nước ta cũng đã nhấn

H

mạnh rằng: “giải quyết việc làm là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con

vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên. Điều này đã giúp thị xã Hương Thủy có
những bước chuyển mình mạnh mẽ về nhiều mặt, thu được nhiều thành tựu quan
trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Bên cạnh mặt ưu điểm thì vẫn
còn có mặt hạn chế, khó khăn trong quá trình phát triển của địa phương, nhất là vấn
đề giải quyết việc làm cho người lao động, trong đó có đối tượng thanh niên. Một
bộ phận thanh niên nông thôn thị xã chưa thật sự thay đổi suy nghĩ, lối sống để thích

1


ứng với quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhộn nhịp, nhanh ở nông thôn. Vấn đề việc
làm cho thanh niên nông thôn chưa thực sự được các cấp chú trọng, đầu tư và tiến hành
đồng bộ có tính chiến lược trong công tác thanh niên.
Ngoài ra, thiếu việc làm, thất nghiệp của thanh niên có xu hướng ngày càng
tăng. Theo thống kê của Phòng LĐTB&XH thị xã Hương Thủy, năm 2014 tỷ lệ thất
nghiệp chung của toàn thị xã là 6,5%. Tuy nhiên, đối với các xã nông thôn, tỷ lệ thất
nghiệp lên tới 7,8%, cao hơn bình quân chung của toàn thị xã. Trong đó, tỷ lệ thất

Ế

nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên nông thôn là một vấn đề đáng lo ngại cho

U

thị xã Hương Thủy. Bởi đây là đối tượng khó khăn hơn trong việc tiếp cận với

́H

thông tin và việc làm cũng như các điều kiện học tập so với các thanh niên thành
thị. Chính điều này đã dẫn tới việc rất nhiều thanh niên phải chấp nhận làm những

Đ
A

nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề việc làm và giải quyết việc làm
cho người lao động dưới nhiều góc độ khác nhau, điển hình như:
- “Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng –

Tiến sĩ Trần Hữu Trung, tạp chí Lao động Xã hội, 2001.
- Vấn đề việc làm cho lao động nông thôn, Vũ Đình Thắng, Tạp chí Kinh tế
phát triển, số 13, 2002.
-“Thực trạng và những giải pháp xóa đói giảm nghèo cho hộ nông dân ở
huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế”, Đại học Kinh tế Huế, tác giả Bùi Khắc
Hiền, chuyên ngành kinh tế nông nghiệp, 2003.

2


-“Giải quyết việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất ở thị xã Hương Thủy,
tỉnh Thừa Thiên Huế”, Đại học Kinh tế Huế, tác giả Phạm Thái Anh Thư, chuyên
ngành kinh tế chính trị 2011,.
-“ Giải quyết việc làm cho thanh niên tại khu kinh tế Vũng Án, huyện Kỳ Anh,
tỉnh Hà Tĩnh”, Đại học Kinh tế Huế, tác giả Lê Thị Hồng Phương, chuyên ngành
Kinh tế chính trị.
- Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hương Trà,

Ế

tỉnh Thừa Thiên Huế, Đại học Kinh tế - Huế, tác giả Đặng Công Lợi, chuyên ngành

U

3.1. Mục tiêu chung

̣I H

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm, luận văn đánh giá thực trạng, đưa ra
những giải pháp tạo việc làm cho thanh niên nông thôn tại thị xã Hương Thủy, từ đó

Đ
A

giúp các nhà hoạch định chính sách về việc làm ở địa phương có thêm cơ sở để đưa ra
những chính sách hiệu quả nhằm giải quyết nhu cầu việc làm của thanh niên nông
thôn tại thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2. Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và tạo việc làm cho
thanh niên nông thôn.
+ Đánh giá thực trạng việc làm của thanh niên nông thôn để làm rõ những ưu
điểm, hạn chế của việc giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn thị xã Hương
Thủy thời gian qua (từ năm 2010 đến 2014).

3


+ Từ đó, luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản, chủ yếu để giải quyết việc
làm cho thanh niên nông thôn thị xã Hương Thủy đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến việc làm và
tạo việc làm cho thanh niên nông thôn đang sinh sống, lao động, sản xuất tại các xã
nông thôn trên địa bàn thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

O

̣C

* Về nội dung: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề thực trạng và giải

̣I H

giải pháp tạo việc làm cho thanh niên nông thôn và các nhân tố ảnh hưởng đến việc
làm của thanh niên nông thôn tại thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đ
A

* Về không gian: Luận văn nghiên cứu các số liệu về tình hình lao động của
thanh niên nông thôn tại 7 xã thuộc thị xã Hương Thủy, (gồm có Thủy Thanh, Thủy
Vân, Thủy Phù, Thủy Tân, Thủy Bằng, Dương Hòa, Phú Sơn)
* Về thời gian: Luận văn sử dụng số liệu về việc làm của thanh niên nông
thôn thị xã Hương Thủy giai đoạn 2010 – 2013. Số liệu sơ cấp được thu thập thông
qua điều tra, phỏng vấn thanh niên, điều tra hộ gia đình thanh niên, mạng lưới tạo
việc làm, các cơ quan, ban, ngành tháng 3-4 năm 2015.
5. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
5.1. Mô hình nghiên cứu lý thuyết

4


Đặc điểm cung lao động cá nhân


Hình 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của thanh niên

5.2. Mô hình nghiên cứu

IN

H

(Cách tiếp cận vi mô; Nguồn: Luận án Tiến sĩ Ngô Quỳnh An)

K

Từ mô hình lý thuyết, cùng với quá trình phỏng vấn nhóm, tác giả đề xuất mô

O

Giới tính

̣C

hình nghiên cứu của luận văn như sau:

̣I H

Độ tuổi

Đ
A


U

+ H4: Chuyên môn kĩ thuật khác nhau thì ảnh hưởng khác nhau đến khả năng

́H

có việc làm hay thất nghiệp của TN nông thôn trên địa bàn thị xã Hương Thủy.
+ H5: Địa bàn cư trú khác nhau thì ảnh hưởng khác nhau đến khả năng có việc làm



hay thất nghiệp của TN nông thôn trên địa bàn thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế.
+ H6: Việc có hay không tham gia các lớp đào tạo nghề do địa phương tổ

H

chức thì ảnh hưởng khác nhau đến khả năng có việc làm hay thất nghiệp của thanh

IN

niên nông thôn trên địa bàn thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế.

K

6. Phương pháp nghiên cứu

̣C

6.1. Phương pháp thu thập số liệu


đối tượng này, tỷ lệ mẫu chiếm 4,1% trong tổng số. Cách thức chọn mẫu phân tầng
tỷ lệ theo các xã như sau:

U

19,68
18,43
27,20
5,43
12,67
4,67
11,93
100,00



960
899
1.327
265
618
228
582
4.879

K

IN

1. Xã Thủy Thanh

Ế

Bảng 1: Cơ cấu mẫu điều tra thanh niên nông thôn thị xã Hương Thủy

̣C

6.4. Phương pháp phỏng vấn theo nhóm

O

Phương pháp này được ứng dụng nhằm phỏng vấn một nhóm người đại diện

̣I H

cho đối tượng điều tra để tiến hành hoàn thiện bảng hỏi trước khi đưa ra phỏng vấn
chính thức trên phương diện rộng. Chọn người phỏng vấn theo nhóm đại diện cho

Đ
A

thanh niên nông thôn thị theo tiêu thức: chọn mỗi thôn 2 người bất kỳ, ngẫu nhiên,
mang tính đại diện, có thể nói lên suy nghĩ của những người thanh niên khác. Khi
chọn phải xem xét có đầy đủ cả nam và nữ, tổng 7 xã bao gồm 14 người.
Ngoài ra, khi quá trình thảo luận nhóm kết thúc, tác giả còn tiến hành tham
khảo ý kiến một số chuyên gia như ông Ngô Thanh Chín, Trưởng phòng
LĐTB&XH thị xã và một số chủ tịch UBND các xã liên quan. (Xem phần phụ lục).
Qua quá trình phỏng vấn nhóm, trước khi tiến hành khảo sát toàn bộ mẫu, tác giả đã
hoàn thiện bảng hỏi, thêm 2 yếu tố vào bảng hỏi đó là: khu vực cư trú của thanh
niên và việc tiếp xúc tham gia các lớp đào tạo nghề do địa phương tổ chức. Yếu tố


H

bản của mẫu điều tra thông qua việc tính toán các tham số thống kê như: phần trăm,

IN

giá trị trung bình (mean), độ lệch chuẩn (Std Deviation) của các biến quan sát, sử

K

dụng các bảng tần suất mô tả sơ bộ các đặc điểm của mẫu nghiên cứu...
6.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

O

̣C

Các số liệu được phân tích và xử lý kết quả dựa trên các phép thống kê, các
mô hình nghiên cứu và được xử lý bằng phần mềm Excel, SPSS.

̣I H

6.7. Phương pháp hồi quy Logistic

Đ
A

Hồi quy Binary Logistic sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân để ước lượng
xác suất một sự kiện sẽ xảy ra với những thông tin của biến độc lập mà ta có được.
Với hồi quy Binary Logistic, thông tin chúng ta cần thu thập về biến phụ

Ế

là z, ta viết lại mô hình hàm Binary Logistic như sau:

H

Thực hiện phép so sánh giữa xác suất một sự kiện xảy ra với xác suất sự kiện

̣C

K

IN

đó không xảy ra, tỷ lệ chênh lệch này có thể được thể hiện trong công thức:

Đ
A

̣I H

được kết quả là:

O

Lấy log cơ số e hai vế của phương trình trên rồi thực hiện biến đổi vế phải ta



nên kết quả cuối cùng là:


+ Kiểm định mức ý nghĩa của các hệ số:

Hồi quy Binary Logistic cũng đòi hỏi ta phải kiểm định giả thuyết hệ số hồi



quy khác 0. Vì nếu các hệ số B đều bằng 0 thì tỷ lệ chênh lệch giữa các xác suất đều
bằng 1, tức là xác suất để sự kiện xảy ra hay không xảy ra là như nhau. Lúc đó, mô

H

hình hồi quy không có ý nghĩa trong việc dự đoán.

IN

Chúng ta sử dụng đại lượng Wald Chi Square để kiểm định ý nghĩa thống kê

K

của các hệ số hồi quy tổng thể. Nếu mức ý nghĩa Sig < 0,05: ta bác bỏ giả thuyết H0 với
độ tin cậy 95%: nghĩa là các hệ số hồi quy tồn tại ít nhất một hệ số khác 0 và ngược lại.

O

̣C

Nếu Sig > 0,05 ta thừa nhận giả thuyết H0, mô hình hồi quy là không có ý nghĩa.

̣I H

Ế

1.1.1. Khái niệm về việc làm và phân loại việc làm

U

1.1.1.1. Khái niệm về việc làm

́H

Có rất nhiều khái niệm về việc làm đã được đưa ra. Tuy nhiên, tùy thuộc vào
từng thời điểm, không gian và từng chủ thể có cách tiếp cận vấn đề, đưa ra các khái



niệm khác nhau về việc làm.

Theo giáo trình Kinh tế lao động, NXB Giáo dục, khái niệm việc làm được chỉ

H

rõ: “Việc làm là phạm trù chỉ trạng thái kết hợp giữa sức lao động và những điều

IN

kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó”.

K

Như vậy, việc làm được cấu thành bởi ba yếu tố là sức lao động, những điều kiện

công việc của mỗi cá nhân nhưng lại gắn liền với xã hội. Có việc làm, không những
người lao động có thu nhập nuôi sống bản thân mà còn tạo ra một lượng của cải cho xã
hội. Mác đã nói: “Với những điều kiện khác không thay đổi thì khối lượng và giá trị
của sản phẩm tăng lên theo tỷ lệ thuận với số lượng lao động được sử dụng”. [3.75]
Ở nước ta quan niệm về việc làm được thể hiện ở Luật Lao động của Nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2012: Tại Điều 9, Chương 2 (việc
làm) của Luật quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không

Ế

bị pháp luật cấm”. [15]

U

Từ quy định trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về việc làm như sau: Việc

́H

làm là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm.



Dựa trên khái niệm việc làm của Bộ Luật lao động Việt Nam có thể hiểu có 3
loại việc làm cơ bản, được thể hiện dưới 3 hình thức:

H

- Làm các công việc để nhận tiền lương, tiền công bằng tiền mặt hoặc hiện vật.


+ Hai là, hoạt động đó không được pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ rõ tính
pháp lý của việc làm, quan niệm đã rõ ràng hơn so với quan niệm của tổ chức ILO
đưa ra. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù
hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển

12


kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp pháp ngày nay được đặc vào vị trí
chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên kết kinh doanh, tìm kiếm việc làm,
thuê mướn lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù
làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước.
Hai điều kiện đó có quan hệ chặc chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ để một
hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm. Tuy nhiên, khái niệm trên cũng
thấy rõ hai hạn chế cơ bản:

Ế

+ Hạn chế thứ nhất: không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia

U

đình và xã hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần làm giảm chi tiêu cho gia

́H

đình thay vì thuê người làm công. Ví dụ như: Hoạt động nội trợ không được coi là
việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp



A

cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ...) để sử dụng sức lao động đó. Đồng
thời, việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm.
Trên cơ sở này sẽ hình thành một số đặc trưng của việc làm cũng như phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho thanh niên nông thôn.
1.1.1.2. Phân loại việc làm
Tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm thành
nhiều loại. Căn cứ theo thời gian thực hiện công việc, việc làm được chia làm 3 loại:
+ Việc làm ổn định và việc làm tạm thời: Căn cứ vào số thời gian có việc làm
thường xuyên trong một năm.

13


+ Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian: Căn cứ vào số giờ
thực hiện công việc trong tuần.
+ Việc làm chính và việc làm phụ: Căn cứ vào khối lượng thời gian hoặc mức
độ thu nhập trong việc thực hiện công việc nào đó.
Việc làm chính: Là công việc mà người lao động dành nhiều thời gian nhất
hay có thu nhập cao nhất.
Việc làm phụ: Là việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất sau

Ế

công việc chính.

U

Phân loại việc làm theo mức độ sử dụng thời gian lao động.

̣I H

Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian
thậm chí nhiều hơn thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp. Nguyên

Đ
A

nhân thiếu việc làm là do tay nghề hoặc kỹ năng của người lao động thấp không sử
dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động hạn chế, tổ chức lao động
kém. Thước đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là mức thu nhập, là phân bố không
cân đối giữa lao động và các yếu tố sản xuất khác. Thiếu việc làm vô hình do sự bố
trí và sử dụng lao động bất hợp lý nên nó thường diễn ra các trường hợp sau
- Việc làm không tạo ra cơ hội để sử dụng đầy đủ chất lượng và khả năng
người lao động.
- Thu nhập mang lại từ việc làm thấp hơn so với mức thu nhập trung bình.
- Năng suất lao động ở nơi người lao động làm việc thấp hơn so với mức trung bình.

14


Thiếu việc làm hữu hình: là khái niện để chỉ hiện tượng người lao động làm
việc có thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm đang tìm kiếm thêm việc
làm và sẵn sàng để làm việc. Hay nói cách khác là: Là một tình trạng không có đủ
công việc để làm hết mức thời gian quy định trong một ngày lao động bình thường
và người lao động đang đi tìm việc khác hoặc sẽ nhận một việc làm bổ sung.
1.1.1.3. Một số đặc trưng của việc làm
Quan niệm việc làm không cố định mà nó được xếp trên nền tảng của một chế

Ế

O

̣C

Quan niệm thứ hai cho rằng: Việc làm có thể được định nghĩa như một tình

̣I H

trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do đó có một sự tham gia tích
cực có tính cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất.

Đ
A

So với quan niệm trên thì quan niệm thứ hai phát triển hơn, khái quát hơn
quan niệm trên, tuy nhiên nếu chỉ có những hoạt động được trả công bằng tiền hoặc
hiện vật mới được coi là việc làm thì chưa thỏa đáng. Những người nằm trong lực
lượng lao động nhưng làm công việc nỗi trợ, bản thân họ không nhận được tiền
công, tiền lương bằng tiền hay hiện vật từ xã hội, từ người sử dụng lao động mà chỉ
nhận được sự phân phối lại trực tiếp thu nhập từ các thành viên trong gia đình. Họ
không trực tiếp mà gián tiếp tạo ra thu nhập, họ nhận được thu nhập gián tiếp thông
qua điều tiết thu nhập từ các thành viên trong gia đình có việc làm hưởng tiền lương
trong xã hội. Vì vậy, họ là những người có việc làm, đảm nhận một chức năng trong

15


guồng máy chỉ đạo xã hội – Nghề nội trợ.
Qua phân tích ở trên cho chúng ta thấy được đặc trưng chung của việc làm là:
Về mặt pháp lý: Việc làm phải hợp pháp, phải chịu sự điều chỉnh của pháp

quyết việc làm.

K

1.1.1.4. Khái niệm về thất nghiệp

Theo khái niệm của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), thất nghiệp (Theo

O

̣C

nghĩa chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động

̣I H

muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định.
“Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không có

Đ
A

việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm” [7].
Cũng có quan điểm cho rằng: Thất nghiệp là hiện tượng gồm những thành

phần mất thu nhập, do không có khả năng tìm được việc làm trong khi họ còn trong
độ tuổi lao động có khả năng lao động muốn làm việc và đã đăng ký ở cơ quan môi
giới về lao động nhưng chưa được giải quyết.
Như vậy, những người thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc lực lượng lao động
hay dân số hoạt động kinh tế. Một người thất nghiệp phải có 3 tiêu chuẩn:

ngừng của ngành lao động giữa các vùng, giữa các loại công việc hoặc giữa các giai

H

đoạn khác nhau của cuộc sống.

IN

Thất nghiệp cơ cấu: Là loại thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cầu-

K

cung lao động trong một ngành hoặc một vùng nào đó.
Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng sản

O

̣C

lượng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh, tổng giá trị

̣I H

sản xuất giảm dần, hầu hết các nhà sản xuất giảm sản lượng cầu đối với các đầu
vào, trong đó có lao động. Đối với loại thất nghiệp này, những chính sách nhằm

Đ
A

khuyến khích tăng cầu thường mang lại kết quả tích cực.

Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ: Là hiện tượng thất nghiệp xảy ra thuộc
vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi..).



Thất nghiệp chia theo ngành nghề: Là loại thất nghiệp xảy ra ở một ngành
nghề nào đó.

H

Ngoài các loại thất nghiệp nêu trên người ta có thể chia thất nghiệp theo dân

IN

tộc, chủng tộc, tôn giáo...

K

1.1.2. Một số vấn đề cơ bản về giải quyết việc làm
1.1.2.1. Quan niệm về giải quyết việc làm

O

̣C

Nghiên cứu việc làm có quan hệ chặt chẽ với vấn đề giải quyết việc làm. Có

̣I H

quan niệm cho rằng: mục tiêu của giải quyết việc làm là phải tạo ra việc làm đầy đủ

U

tâm của người lao động, gia đình, mỗi quốc gia mà là vấn đề có tính chất toàn cầu.

́H

Trong khái niệm trên, giải quyết việc làm còn có một ý nghĩa là tạo thêm được
công ăn việc làm mới cho người lao động. Ở đây là tạo thêm công ăn việc làm mới



cho người lao động mang tính chất là người lao động không có việc làm nay có việc
làm chứ không phải là người lao động đang đi làm có thêm việc làm khác nữa. Với

H

khái niệm như vậy, theo cách hiểu trên thì giải quyết việc làm là tạo thêm việc làm

K

của các doanh nghiệp, công ty.

IN

mới từ các cơ chế chính sách của nhà nước cũng như việc tuyển dụng thêm lao động

Mục tiêu chính sách lao động và giải quyết việc làm của Đảng ta là hướng vào

O


Tùy thuộc vào mục đích của việc xây dựng, hoạch định chính sách, người ta
đưa ra cách tính dự báo. Nếu theo tính chất dự báo nguồn lao động thì có thể dự báo

Ế

theo thời gian (ngắn hạn 5 năm, trung hạn 10 năm hay dài hạn trên 10 năm...) hay

U

dự báo theo phạm vi lãnh thổ (quốc gia, vùng, miền...) Có thể dự báo nguồn lao

́H

động theo tính chất nghề nghiệp, theo chất lượng lao động hay theo lĩnh vực.
Các kết quả dự báo được ứng dụng nhiều cho xây dựng, hoạch định chính



sách phát triển kinh tế - xã hội, là một bộ phận của kế hoạch dài hạn và trung hạn
cho mỗi đơn vị, địa phương. Hay nói cách khác, các giả thuyết đưa ra phụ thuộc vào

H

khả năng làm thay đổi các xu hướng tăng, giảm tỷ lệ sinh, chết, di dân, xu hướng

IN

chất lượng sao cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội.

K



hoạch định chính sách so sánh mức độ tương đối giải quyết việc làm qua các thời kỳ
khác nhau tại một khu vực, địa phương nhất định nào đó.
Ba là, ban hành chính sách việc làm. Chính sách việc làm là tổng thể các quan
điểm, tư tưởng, các mục tiêu, giải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lượng lao
động và tạo việc làm cho lực lượng lao động đó. Hay nói cách khác, chính sách việc
làm là sự thể chế hóa pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực lao động và việc làm, là
hệ thống các quan điểm, phương hướng mục tiêu và các giải pháp giải quyết việc

Ế

làm cho người lao động.

U

Chính sách việc làm thực chất là một hệ thống các chính sách chung có quan

́H

hệ và tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lực lượng lao động của
toàn xã hội, như các chính sách khuyến khích phát triển các lĩnh vực, những ngành



nghề có khả năng thu hút nhiều lao động, chính sách tạo việc làm cho những đối
tượng đặc thù (người khuyết tật, lao động nữ,.....; ) chính sách hợp tác và xuất khẩu

H


thể chất, trí tuệ cũng như về mặt sinh dục, tính dục.
Theo N.O’Higgins, “thanh niên là lứa tuổi trong thời gian chuyển tiếp giữa
thời niên thiếu và trưởng thành”. Tuy nhiên, theo cơ cấu lứa tuổi của dân số các
nước trên thế giới có những quy định khác nhau về độ tuổi thanh niên, thông thường

21


từ 15 đến 24, 25, 29 hoặc 34 tuổi. Theo Liên Hợp Quốc lứa tuổi 15 – 34 tuổi là
thuộc cơ cấu lao động trẻ. Thanh niên thường tính trong độ tuổi 15 – 24, hàm ý ở độ
tuổi này thanh niên gồm những người rời ghế nhà trường sớm nhất từ 15 tuổi (kết
thúc THCS khi 15 tuổi ) và kết thúc việc đào tạo nghề nghiệp ở cấp độ đại học lúc
24 tuổi.
Theo Luật Thanh niên, Luật số 53/2005/QH11 được Quốc hội khóa 11 thông
qua ngày 29/11/2005, thì “độ tuổi của thanh niên Việt Nam được tính từ đủ 16 đến

Ế

30 tuổi” [14]. Thanh niên là lứa tuổi đã trưởng thành, có đầy đủ tố chất của người

U

lớn, là thời kỳ dồi dào về trí lực và thể lực, do đó thanh niên có đầy đủ những điều

́H

kiện cần thiết để tham gia hoạt động học tập, lao động, hoạt động chính trị xã hội
đạt hiệu quả cao, có khả năng đóng góp cống hiến thể lực và trí lực cho công cuộc



A

các quốc gia.

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, nhằm đảm bảo phù hợp với các

nhóm lứa tuổi theo quy định trong thống kê, điều tra hằng năm tại thị xã Hương
Thủy, đảm bảo cho việc phân tích được thống nhất, chính xác, thanh niên nông thôn
thị xã Hương Thuỷ là những người có độ tuổi từ đủ 16 – 30 tuổi, đang sinh sống,
công tác, làm việc tại thị xã Hương Thủy, là lực lượng tham gia thị trường lao động,
có thể chia ra làm các nhóm.

22


- Nhóm sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông không có
điều kiện học lên, tham gia ngay vào thị trường lao động. Đó là lao động phổ thông,
chưa có nghề nghiệp.
- Nhóm thanh niên sau khi tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học sẵn sàng
tham gia vào thị trường lao động. Đó là lao động có chuyên môn kỹ thuật.
- Nhóm bị mất việc làm hoặc thất nghiệp đang có nhu cầu việc làm, sẵn sàng
tham gia hoặc trở lại thị trường lao động.

Ế

1.2.1.2. Đặc điểm việc làm của thanh niên nông thôn

U

* Việc làm ở nông thôn

̣I H

nghề, mở nhiều loại hình việc làm, phát triển KT - XH ở nông thôn là phương
hướng chủ yếu giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn.

Đ
A

* Các loại việc làm ở nông thôn
Các loại việc làm ở nông thôn rất đa dạng và phong phú với hàng trăm ngành

nghề khác nhau nhưng có thể phân chúng thành các loại việc làm thuần nông và
việc làm phi nông nghiệp.
Việc làm thuần nông là những hoạt động lao động trong lĩnh vực trồng trọt và
chăn nuôi. Trải qua nhiều năm phát triển, hiện nay chăn nuôi và trồng trọt vẫn là
công việc chính của nhà nông ở nước ta. Có thể nói lao động trong trồng trọt, chăn
nuôi và nuôi trồng thủy hải sản là việc làm chính của người lao động ở nông thôn.
Thế mạnh của lĩnh vực này là người lao động được kế thừa kinh nghiệm sản xuất

23


của cha ông để lại. Kiến thức nghề nông được tích lũy dần trong quá trình người
lao động tham gia sản xuất từ nhỏ với tư cách là người lao động phụ của gia đình.
Bên cạnh đó, loại công việc này còn nhiều hạn chế:
Thứ nhất, sản xuất theo mùa vụ, năm này theo năm khác, lặp đi lặp lại nên
người lao động chỉ làm việc theo kinh nghiệm, ít có cải tiến, sáng tạo dẫn đến năng
suất và hiệu quả công việc không được nâng cao.
Thứ hai, loại công việc này có tính chất mùa vụ nên lao động ở nông thôn sẽ



O

̣C

phát triển của các ngành nghề truyền thống như sản xuất đồ gỗ, đồ thủ công mỹ

̣I H

nghệ, đan lát...Hoạt động gia công cơ khí xuất hiện phục vụ sửa chữa đồ gia dụng,
nông cụ, sửa chữa máy móc nông nghiệp, ngư nghiệp. Đặc biệt cùng với sự phát

Đ
A

triển của kinh tế hàng hóa, dịch vụ ở nông thôn cũng phát triển mạnh mẽ. Nhiều
loại hình dịch vụ phục vụ đời sống trước đây chỉ có ở thành thị thì nay đã có ở
nông thôn như: dịch vụ vệ sinh nông thôn, dịch vụ cung cấp nước sạch, dịch vụ ăn
uống... Tất cả những biến đổi đó đã tạo ra nhiều loại hình công việc làm phong phú,
đa dạng thị trường việc làm cho người lao động ở nông thôn.
Việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn hiện nay đang phát triển phong phú,
đa dạng. Tuy nhiên sự phát triển của loại việc làm này cũng gặp khó khăn do hạn
chế về trình độ tay nghề của người lao động, về công nghệ cũng như giới hạn về
khả năng quản lý của chủ hộ sản xuất kinh doanh, về nguồn vốn cũng như phong

24


tục tập quán, về thị trường. Người dân có nghề phi nông nghiệp vẫn chưa mạnh dạn
bỏ ruộng để tập trung sản xuất ngành nghề.


trong nhóm tuổi lao động từ 15- 24 ở nông thôn thường mới tốt nghiệp phổ thông

K

THCS hoặc THPT, thường chưa có nghề nghiệp, việc làm của thanh niên phụ thuộc

̣C

vào gia đình, chủ yếu là phụ gia đình làm các công việc truyền thống như làm

O

ruộng, làm thủy sản, trồng rừng một số ít có thể làm dịch vụ thuê để lấy tiền

̣I H

công như phụ sửa xe, buôn bán nhỏ, làm ở các cơ sở sản xuất nhỏ tại địa phương.
Đối tượng này thường có nhu cầu học nghề và muốn thoát ly gia đình để đi làm ăn

Đ
A

xa hoặc đi học, kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình và đều trong tình trạng
thiếu việc làm, chất lượng lao động thấp do chưa biết nghề và không có kinh
nghiệm trong làm việc; chưa định hướng được nghề rõ ràng.
Nhóm tuổi từ 25 - 30 tuổi, được xem như độ tuổi thanh niên đã có sự trưởng
thành, ở nông thôn phần đông độ tuổi này nhất là các bạn nữ đều đã lập gia đình.
Họ đã có những nhận thức tương đối ổn định về việc làm; có chút ít kinh nghiệm
nghề, kinh nghiệm sống họ có thể chủ động tham gia vào thị trường lao động tại địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status